Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/HNGĐ-ST

Ngày: 19-6-2023

V/v tranh chấp Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Hường
  • - Hội thẩm nhân dân: Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa – Ông Lê Thành Thật
  • - Thư ký phiên tòa: Bà Khưu Huỳnh Mỹ Ngọc – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.
  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Xuyên không tham gia phiên toà.

Ngày 19 tháng 6 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 181/2023/TLST- HNGĐ ngày 11 tháng 4 năm 2023, về việc “Tranh chấp ly hôn”

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 189/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 05/5/2023; Quyết định hoãn phiên toà số 193/2023/QĐST-HNGĐ ngày 25/5/2023 giữa các đương sự:

  • - Nguyên đơn: Ông Phan Duy L, sinh năm 1973. Có đơn xin vắng mặt
  • Nơi cư trú: Số 184/1 hẻm LTT, khóm 5, phường ML, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
  • Địa chỉ liên hệ: Lô 15G, khóm ĐT, phường MP, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.
  • - Bị đơn: Bà Trương Thị Lan C, sinh năm 1978, vắng mặt
  • Địa chỉ: Lô 15G, khóm ĐT, phường MP, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo đơn khởi kiện ngày 31 tháng 3 năm 2023 và trong quá trình giải quyết nguyên đơn ông Phan Duy L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông Phan Duy L và bà Trương Thị Lan C tự nguyện tìm hiểu sau đó tiến đến hôn nhân. Vợ chồng kết hôn năm 1996, sau đó phát sinh mâu thuẫn và ly hôn. Năm 2018 vợ chồng đã kết hôn lại, đến ngày 01/3/2018 vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Mỹ Long theo Giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 01/3/2018. Sau khi kết hôn thời gian đầu vợ chồng chung sống hạnh phúc đến khoảng cuối năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn như thường xuyên cãi nhau, không tìm được tiếng nói chung, bất đồng quan điểm với nhau trong cuộc sống. Vợ chồng đã ly thân từ năm 2022 đến nay. Nhận thấy cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nên ông L yêu cầu được ly hôn với bà C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 (một) con chung tên Phan Gia L1, sinh ngày 13/10/1997. Hiện nay con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động nên không yêu cầu Toà án giải quyết.

Về tài sản chung và nợ chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về án phí sơ thẩm: giải quyết theo quy định pháp luật.

- Bị đơn bà Trương Thị Lan C đã được Tòa án tống đạt các thủ tục tố tụng đúng theo quy định pháp luật nhưng bà không gửi văn bản tự khai và không tham gia tố tụng nên không ghi nhận được ý kiến của bà.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về thẩm quyền giải quyết: Ông L khởi kiện yêu cầu ly hôn với bà C, địa chỉ cư trú của bà C thuộc phường Mỹ Phước, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nên Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên có thẩm quyền thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo quy định theo khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Về thủ tục tố tụng: ông Phan Duy L và bà Trương Thị Lan C đã được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa nhưng ông L có đơn xin xét xử vắng mặt, bà C thì vắng mặt không có lý do chính đáng tại phiên toà lần thứ hai. Do đó, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông L, bà C theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án:

[2.1] Ông L và bà C tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 01/3/2018 tại UBND phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang nên được pháp luật Việt Nam công nhận hôn nhân giữa ông bà là hợp pháp. Nay cuộc sống hôn nhân phát sinh mâu thuẫn và tình cảm vợ chồng không còn nên ông L yêu cầu được ly hôn với bà C.

[2.2] Tòa án đã thực hiện, cấp, tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho bà C để bà thực hiện quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình cũng như trình bày ý kiến đối với yêu cầu của nguyên đơn tuy nhiên cho đến nay bà C vẫn vắng mặt không tham gia phiên họp, hòa giải, xét xử và không gửi văn bản trình bày ý kiến, xem như bà tự từ bỏ quyền lợi của bản thân. Theo xác nhận do ông L cung cấp, bà C tạm trú tại Lô 15G, khóm Đông Thịnh 9, phường Mỹ Phước, Tp.Long Xuyên, tỉnh An Giang từ năm 2010 cho đến nay.

[2.3] Theo quy định của Luật hôn nhân và gia đình, vợ chồng phải có nghĩa vụ thương yêu, quan tâm, chăm sóc lẫn nhau cũng như chia sẻ, hỗ trợ nhau trong cuộc sống. Đáng lẽ sau lần ly hôn và kết hôn lại vào năm 2018 ông bà nên trân trọng hơn tình cảm vợ chồng, giữ gìn hạnh phúc gia đình nhưng trên thực tế giữa ông bà đã phát sinh mâu thuẫn, không còn sự thăm nom, chăm sóc lẫn nhau và không còn chung sống cùng nhau từ năm 2022. Thời gian mâu thuẫn và ly thân kéo dài mà ông bà vẫn không tìm được phương pháp hòa giải mâu thuẫn. Nay ông L vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn và xin vắng mặt khi xét xử cho thấy sự cương quyết trong việc yêu cầu ly hôn, bà C thì trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành hòa giải tạo điều kiện cho ông bà hàn gắn lại với nhau nhưng bà C vắng mặt cũng không gửi văn bản trình bày ý kiến đến Tòa án, điều này chứng tỏ bà C không có thiện chí muốn hàn gắn đoàn tụ gia đình, không quan tâm đến yêu cầu ly hôn của ông L. Như vậy cho thấy cuộc sống chung của ông bà không còn hạnh phúc, mục đích hôn nhân không đạt được nếu duy trì hôn nhân cũng không đem lại hạnh phúc cho cả hai do đó yêu cầu ly hôn của ông L với bà C là có cơ sở, phù hợp với quy định pháp luật nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[2.4] Về con chung: ông L và bà C có 01 (một) con chung tên Phan Gia Lợi, sinh ngày 13/10/1997. Hiện nay con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động do đó Hội đồng xét xử không giải quyết về vấn đề người trực tiếp nuôi con và cấp dưỡng nuôi con.

[2.5] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[2.6] Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm. Bà C không phải chịu án phí sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273 và Điều 278 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;
  • - Căn cứ Điều 9, khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 53, khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Phan Duy L.

- Về quan hệ hôn nhân: Cho ông Phan Duy L ly hôn với bà Trương Thị Lan C.

Giấy chứng nhận kết hôn số 16 ngày 01 tháng 3 năm 2018 của Uỷ ban nhân dân phường Mỹ Long, thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang cấp cho ông Phan Duy L và bà Trương Thị Lan C không còn giá trị pháp lý khi bản án có hiệu lực pháp luật.

- Về quan hệ con chung: có 01 (một) con chung tên Phan Gia Lợi, sinh ngày 13/10/1997. Hiện nay con chung đã trưởng thành và có khả năng lao động.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Không xem xét giải quyết.

- Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Ông Phan Duy L phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001592 ngày 10/4/2023 của Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Long Xuyên. Bà Trương Thị Lan C không phải chịu án phí sơ thẩm.

Ông Phan Duy L và bà Trương Thị Lan C được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trong trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND Tp.Long Xuyên;
  • - TAND tỉnh An Giang;
  • - THADS Tp.Long Xuyên;
  • - UBND xã/phường;
  • - Lưu; hồ sơ vụ án, văn phòng.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa

Nguyễn Thị Cẩm Hường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2023/HNGĐ-ST ngày 19/06/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG về tranh chấp ly hôn

  • Số bản án: 88/2023/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 19/06/2023
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN TỈNH AN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cho ly hôn,
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger