|
TÒA ÁN NHÂN DÂN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc ————————— |
|
Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày 18-06-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Bích Hồng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Cúc, ông Cà Văn Thanh
Thư ký phiên toà: Ông Đào Ngọc Sơn – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Lan - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 99/2024/TLST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 6 năm 2024 đối với bị cáo:
Lường Văn N, sinh ngày: 01 tháng 01 năm 2000 tại huyện S; Trú tại: Bản S, xã N, huyện S, tỉnh Sơn La; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 07/12; dân tộc: Thái; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; đoàn thể, đảng phái: Không; con ông Lò Văn X (đã chết) và bà Lường Thị T, bị cáo có vợ là Lò Thị T1 và có 01 con; Tiền án, tiền sự: Không
Nhân thân: Ngày 26/9/2018 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Sơn La xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.
Bị cáo bị bắt từ ngày 26/02/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 23 giờ ngày 26/02/2024, tại khu vực tổ A, phường C, thành phố S Lường Văn N bị Đ công an thành phố S bắt quả tang khi đang có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý. Vật chứng thu giữ gồm: 01 gói giấy màu nâu bên trong có 06 viên nén màu hồng, do N tự giác giao nộp và khai nhận là hồng phiến, cất giấu để sử dụng.
Ngày 27/02/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S tiến hành bóc mở niêm phong, cân tịnh xác định khối lượng vật chứng. Kết quả: 06 viên nén màu hồng có khối lượng 0,52 gam, lấy 03 viên có khối lượng 0,26 gam làm mẫu gửi giám định ký hiệu A. Còn lại 03 viên khối lượng 0,26 gam lưu kho ký hiệu B.
Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố S ra quyết định trưng cầu giám định số: 240/QĐ-ĐCSHS đối với mẫu gửi giám định có phải là ma tuý không, loại ma tuý gì, khối lượng của mẫu giám định là bao nhiêu, tổng khối lượng vật chứng thu giữ ?
Kết luận giám định số 585/KL - KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S kết luận "Mẫu gửi giám định ký hiệu A là ma túy; loại Methamphetamine; Khối lượng của mẫu gửi giám định là 0,26 gam. Tổng khối lượng ma túy là 0,52 gam loại Methamphetamin.(mẫu gửi giám định đã sử dụng hết trong quá trình giám định)
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo khai nhận: Khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 26/02/2024 N đi bộ từ phòng trọ tại khu vực tổ A phường C đến khu vực bến xe khách thuộc tổ A phường Q, thành phố S, N gặp một người đàn ông khoảng 30 tuổi không quen đang đứng trên vỉa hè, N hỏi “có đồ bán không” ý là hỏi có ma tuý bán không, người đàn ông đó trả lời có và hỏi N muốn mua loại nào, N trả lời “bán cho em 400.000đ hồng phiến” và đưa cho người đàn ông đó 400.000₫ gồm 01 tờ tiền mệnh giá 200.000đ và 02 tờ tiền mệnh giá 100.000đ. Sau khi nhận tiền người đàn ông đưa cho N 01 gói giấy màu nâu rồi bỏ đi, nhất mở ra kiểm tra thấy bên trong có 06 viên nén màu hồng, Nhất gói lại cầm trong tay đi bộ tìm nơi sử dụng, khi đến khu vực tổ A phường C thì bị phát hiện, bắt quả tang và thu giữ vật chứng.
Về nguồn gốc số ma tuý thu giữ trong vụ án, Bị cáo khai mua của một người đàn ông không biết họ tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực bến xe khách thuộc ổ A phường Q, thành phố S. Ngoài lời khai của bị cáo không còn chứng cứ nào khác, do đó, Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố S không có căn cứ điều tra mở rộng vụ án, buộc bị cáo phải chịu toàn bộ số ma tuý thu giữ trong vụ án.
Tại bản cáo trạng số:195/CT-VKS ngày 29/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La truy tố bị cáo Lường Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La giữ quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Xử phạt Lường Văn N từ 20 đến 24 tháng tù, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu nâu; mẫu lưu B = 0,26 gam
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu có trong hồ sơ đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố S, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Sơn La, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến, khiếu nại, tố cáo về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định hành vi phạm tội của bị cáo: Ngày 26/02/2024, Lường Văn N đã có hành vi cất giữ trái phép 0,52 gam Methamphetamine, hành vi phạm tội của bị cáo được chứng minh bằng các căn cứ sau:
- Biên bản bắt người phạm tội quả tang lập hồi 23 giờ 20 phút ngày 26/02/2024 tại Tổ A, phường C, thành phố S, tỉnh Sơn La đối với Lường Văn N cùng vật chứng thu giữ là 0,52 gam, kết luận giám định là Methamphetamine.
- Lời khai nhận tội của bị cáo.
- Biên bản niêm phong vật chứng; Biên bản bóc mở niêm phong, cân tịnh vật chứng lấy mẫu gửi giám định và niêm phong lại; Kết luận giám định số 585/KL - KTHS ngày 29/02/2024 của Phòng K - Công an tỉnh S.
- Lời khai ông Hoàng Văn T2 là người chứng kiến việc bắt người phạm tội quả tang.
Từ các căn cứ nêu trên, có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lường Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Điều 249 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tính chất mức độ của hành vi: Bị cáo Lường Văn N phạm với tổng khối lượng 0,52 gam, loại Methamphetamine, đã vi phạm tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, có mức phạt tù từ 01 năm đến 05 năm, thuộc loại tội phạm nghiêm trọng, cần có hình phạt tương xứng nhằm đảm bảo biện pháp cải tạo giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự, bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Tuy nhiên, bản thân bị cáo không có nghề nghiệp và không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng có giá trị, xét việc áp dụng hình phạt bổ sung không có khả năng thi hành nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7] Vật chứng của vụ án: Đối với 0,26 gam Methamphetamine còn lại sau khi trừ mẫu giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành, 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở, 01 mảnh giấy màu nâu, không có giá trị sử dụng, cần tịch thu tiêu hủy.
[8] Về án phí: Bị cáo sống tại vùng đặc biệt khó khăn nên không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Lường Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lường Văn N 20 (hai mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 26/02/2024.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
2. Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a, c khoản 2, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 vỏ phong bì niêm phong vật chứng ban đầu đã bóc mở; 01 mảnh giấy màu nâu và 0,26 gam Methamphetamine ký hiệu B.
Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 10 tháng 6 năm 2024 giữa Công an thành phố S và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Sơn La, tỉnh Sơn La.
3. Về án phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo Lường Văn N không phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo Lường Văn N có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/6/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Bích Hồng |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 18/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ SƠN LA, TỈNH SƠN LA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lường Văn Nhất
