|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST Ngày 17-5-2024 |
|
|
V/v "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỦY NGUYÊN - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Doãn Văn Sáng
Ông Phạm Công Hạ
Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hà – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuỷ Nguyên tham gia phiên toà:
Ông Phạm Đình Hiến - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Thuỷ Nguyên mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 76/2024/QĐXX-ST ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số 62/2024/QÐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Trần Thị X, sinh năm 200x; nơi cư trú: Thôn 5, xã C, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
2. Bị đơn: Anh Vũ Văn Y, sinh năm 200x; nơi cư trú: Thôn Đ, xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện xin ly hôn và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, chị Trần Thị X (nguyên đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Chị Trần Thị X và anh Vũ Văn Y kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn năm 202x tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện T, thành phố Hải Phòng. Sau cưới, vợ chồng về chung sống tại thôn Đ, xã M, huyện T. Quá trình chung sống, vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến cuối năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong công việc, sinh hoạt và nuôi dạy con chung dẫn đến vợ chồng ngày thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn, vợ chồng chị hiện đã sống ly thân nhau. Nay, chị X nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị X yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh Y.
Về con chung: Chị Trần Thị X khai chị và anh Vũ Văn Y có 01 con chung tên Vũ Văn Z, sinh ngày 07 tháng 7 năm 20xx. Từ khi sống ly thân đến nay, chị X là người trực tiếp nuôi con chung. Ly hôn, chị X có nguyện vọng được tiếp tục nuôi dưỡng con chung.
Về nghĩa cấp dưỡng nuôi con chung: Chị X khai chị yêu cầu anh Vũ Văn Y có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị X mỗi tháng 3.000.000 đồng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung: Chị X khai chị và anh Y không có tài sản chung nên chị X không yêu cầu Toà án giải quyết.
Tại các bản tự khai và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, anh Vũ Văn Y (bị đơn) trình bày:
Về hôn nhân: Anh Y và chị X kết hôn với nhau trên cơ sở tìm hiểu tự nguyện, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới theo phong tục và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã M, huyện Thuỷ Nguyên vào năm 2023. Sau cưới, vợ chồng về gia đình bố mẹ đẻ anh Y tại thôn Đường Hương, xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng chung sống. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến tháng 7 năm 2023 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyễn nhân do tính tình vợ chồng không hoà hợp dẫn đến vợ chồng xảy ra cãi mắng nhau. Do đó mâu thuẫn nên vợ chồng anh Y hiện đã ly thân nhau. Nay chị X xin ly hôn, quan điểm anh Y mong muốn vợ chồng hoà giải về đoàn tụ nên anh Y không đồng ý ly hôn chị X.
Về con chung: Anh Y trình bày anh và chị X có 0 con chung tên Vũ Văn Z, sinh ngày 07 tháng 7 năm 20xx. Trường hợp phải ly hôn, anh Y có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung.
Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Y trình bày anh và chị X thỏa thuận và tự giao nhận với nhau nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về tài sản chung: Anh Y khai vợ chồng không có tài sản chung nên anh Y không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại phiên toà, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng như sau: Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 71 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70, Điều 72 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về việc giải quyết vụ án: Tài liệu điều tra thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh Y đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị X và anh Y được ly hôn. Về con chung: Chị X và anh Y có 01 con chung tên Vũ Văn Z, sinh ngày 07 tháng 7 năm 20xx. Căn cứ tài liệu điều tra xác minh khả năng, điều kiện nuôi con của mỗi bên, nguyện vọng của các con chung, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 81; Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị Trần Thị X trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Vũ Văn Z cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên anh Y có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị X mỗi tháng 2.000.000 đồng kể từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác khác theo quy định của pháp luật. Về tài sản chung: Chị X và anh Y không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Kiểm sát viên không đề cập giải quyết. Về án phí: Chị Trần Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Đây là vụ án tranh chấp Hôn nhân và gia đình về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Bị đơn là anh Vũ Văn Y có nơi cư trú tại xã M, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự. Chị Trần Thị X và anh Vũ Văn Y đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa, chị X có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, anh Y vắng mặt lần thứ hai không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Căn cứ quy định tại khoản 1 và khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị X và anh Y.
[2] Về hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa chị Trần Thị X và anh Vũ Văn Y được xác lập vào năm 2023 là hợp pháp. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hòa hợp, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, trong lao động và nuôi dạy con dẫn đến tình cảm vợ chồng ngày càng thờ ơ, lạnh nhạt và thường xuyên xảy ra cãi mắng lẫn nhau. Do mâu thuẫn, chị X và anh Y hiện đã sống ly thân. Chị X xin ly hôn anh Y, quan điểm của anh Y xin đoàn tụ, không đồng ý ly hôn nhưng thừa nhận vợ chồng có tồn tại mâu thuẫn. Mặt khác, tại các phiên toà anh Y đều vắng mặt không có lý do chính đáng. Điều này thể hiện quan hệ hôn nhân giữa chị X và anh Y đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, căn cứ khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xử cho chị X và anh Y được ly hôn.
[3] Về con chung: Chị X và anh Y có 01 con chung tên Vũ Văn Z, sinh ngày 07 tháng 7 năm 20xx. Ly hôn, chị X và anh Y đều có nguyện vọng được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tuy nhiên, việc giao con cho ai nuôi cần phải xem xét mọi mặt và đảm bảo quyền lợi của con chưa thành niên. Tài liệu điều tra xác minh thể hiện từ khi sống ly thân chị X là người trực tiếp nuôi dưỡng con và vẫn đảm bảo tốt về mọi mặt. Vì vậy, giao cho chị Trần Thị X trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Vũ Văn Z cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở là phù hợp với quy định tại các Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và Gia đình.
[4] Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Vũ Văn Y phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị Trần Thị X mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
[5] Về tài sản chung: Chị X, anh Y thống nhất khai không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí Tòa án thì chị Trần Thị X phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm. Anh Vũ Văn Y phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật. Chị X và anh Y được quyền kháng cáo trong thời hạn do pháp luật quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Xử:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị X và anh Vũ Văn Y.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị X được trực tiếp nuôi dưỡng con tên Vũ Văn Z, sinh ngày 07 tháng 7 năm 20xx cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Vũ Văn Y có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị Trần Thị X mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Thị X phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị X đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009819 ngày 13 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị X đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Vũ Văn Y phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo: Chị Trần Thị X, anh Vũ Văn Y vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Ngọc Anh |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi giờ phút, ngày 17 tháng 5 năm 2024
Tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lương Ngọc Anh.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Doãn văn Sáng
- Ông Phạm Công Hạ
Tiến hành nghị án vụ án dân sự thụ lý số 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn và tranh chấp về nuôi con” giữa:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị X, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn 5, xã Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Bị đơn: Anh Vũ Văn Y, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn Đường Trưỡng, xã M, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT
QUYẾT ĐỊNH CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
- Về điều luật áp dụng:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 147; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 - 12 - 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Kết quả biểu quyết: 3/3
- Về nội dung:
- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Trần Thị X và anh Vũ Văn Y.
- Về con chung: Giao cho chị Trần Thị X được trực tiếp nuôi dưỡng con tên Vũ Văn Z, sinh ngày 07 tháng 7 năm 2021 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung: Anh Vũ Văn Y có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung với chị Trần Thị X mỗi tháng 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng) kể từ tháng 6 năm 2024 cho đến khi con chung đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.
- Về án phí: Chị Trần Thị X phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng chị X đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0009819 ngày 13 tháng 3 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Chị Trần Thị X đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm. Anh Vũ Văn Y phải nộp 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về quyền kháng cáo và quyền thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3
Nghị án kết thúc vào hồi giờ phút, ngày 17/5/2024.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên dưới đây.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Công Hạ Doãn Văn Sáng |
Lương Ngọc Anh |
|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
BIÊN BẢN THẢO LUẬN
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUỶ NGUYÊN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Ngọc Anh
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Doãn Văn Sáng.
- Ông Phạm Công Hạ.
Vào hồi 10 giờ 30 phút ngày 08 tháng 5 năm 2024, tại phòng nghị án Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành thảo luận về việc hoãn phiên toà đối với vụ án thụ lý số 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, giữa:
Nguyên đơn: Chị Trần Thị X, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn 5, xã Chính Mỹ, huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Bị đơn: Anh Vũ Văn Y, sinh năm 2002; nơi cư trú: Thôn Đường Trưỡng, xã M, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.
Tại phiên toà hôm nay, Bị đơn là anh Vũ Văn Y vắng mặt lần thứ nhất không có lý do. Hội đồng xét xử thảo luận về việc vắng mặt của bị đơn như sau:
Về điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 227, Điều 233, Điều 235 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Về nội dung: Quyết định hoãn phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án dân sự thụ lý số 60/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con".
Thời gian mở lại phiên toà được ấn định như sau: Phiên tòa dân sự sẽ được mở vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 17 tháng 5 năm 2024 tại Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên thành phố Hải Phòng.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Phạm Công Hạ Doãn Văn Sáng |
Lương Ngọc Anh |
Bản án số 88/2024/HNGĐ-ST ngày 17/05/2024 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 88/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, Thành phố Hải Phòng
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử cho ly hôn
