Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày 17 - 5 - 2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Hải.

Thẩm phán: Bà Thái Thị Hồng Vân.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Bùi Thị Hoa

Ông Võ Duy Bảo

Ông Mai Xuân Thường.

- Thư ký phiên toà: Ông Lương Văn Hòa - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà:

Ông Trần Nhật Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 17/5/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 22/2024/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 99/2024/QĐXXST-HS ngày 02 tháng 5 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đối với bị cáo:

Đặng Quang T, tên gọi khác: Không, sinh ngày 19 tháng 9 năm 1997 tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi ở hiện tại: Số C, ấp S, xã V, huyện Đ, Thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tinh: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Quang H và bà Nguyễn Thị H1; có vợ Lương Thị L và có 01 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Năm 2015, bị Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xử phạt 06 năm tù về tội cướp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 18/3/2019; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/11/2023 đến nay; có mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Đặng Quang T: Ông Nguyễn Tiến H2, Luật sư của Văn phòng L2, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh N; có mặt.

- Bị hại: Anh Phạm Đình B, sinh năm 1989; địa chỉ: Xóm T, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  • + Chị Nguyễn Thị T1, sinh năm 1991; địa chỉ: Tổ dân phố C, phường P, quận N, Thành phố Hà Nội; có mặt.
  • + Anh Vũ Trường S, sinh năm 1985; địa chỉ: Xóm M, xã M, huyện Q, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • + Bà Ngô Thị T2, sinh năm 1966; địa chỉ: K, thị trấn Đ, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; vắng mặt.
  • + Chị Đặng Thị T3, sinh năm 1993; địa chỉ: Đ Đ, xã V, huyện Đ, thành phố Hà Nội; có mặt.
  • + Ông Đặng Quang H, sinh năm 1963; địa chỉ: Xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2021, T từng phụ giúp chị gái là giám đốc Công ty TNHH M, chuyên buôn bán các mặt hàng như quần áo, thuốc lá điện tử và hóa mỹ phẩm từ Trung Quốc về Việt Nam nên rất am hiểu về cách thức lập, chốt đơn đối với mặt hàng này. Do thường xuyên đánh bạc qua mạng xã hội dẫn đến nợ nần nhiều,nên T phải nghỉ việc. Đến khoảng tháng 6 năm 2023, T lâm vào cảnh túng quẫn về kinh tế, vì vậy đã nghĩ cách tự lập các đơn hàng mua bán mỹ phẩm, thuốc lá điện tử không có thật để kêu gọi người khác đầu tư tiền cho T rồi chiếm đoạt của họ để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Thông qua bạn bè, T quen biết anh Phạm Đình B, sinh năm 1989, trú tại xóm T, xã N, thành phố V, tỉnh Nghệ An nên đã lừa anh B bằng cách kêu gọi đầu tư vào các đơn hàng. Để anh B tin tưởng, T đã lừa anh B là T có nhiều khách hàng đặt các mặt hàng như thuốc lá điện tử, chai lọ mỹ phẩm, nếu anh B đầu tư cho T buôn các mặt hàng này từ Trung Quốc về Việt Nam bán thì sẽ có lợi nhuận rất cao. Mỗi một đơn hàng đầu tư thành công, anh B sẽ có lợi nhuận 10%/ vốn đầu tư trong vòng 10 ngày, trong đó T được hưởng 70%, anh B được hưởng 30% lợi nhuận. Cứ sau 10 ngày đầu tư, T sẽ trả cả tiền gốc và 30% lợi nhuận cho anh B. Khi anh B nói không có nhiều vốn, nếu đầu tư làm ăn với T thì phải đi vay tiền với mức lãi suất 2000 đồng/1 triệu/ 1 ngày thì T nói T sẽ gánh lãi cho các khoản tiền anh B đi vay ngoài để đầu tư cho T. Sau khi nghe lời kêu gọi đầu tư hấp dẫn của T thì anh B tin tưởng. Từ ngày 15/6/2023 đến ngày 31/8/2023, anh B đã đầu tư vào 13 đơn hàng không có thật do T nghĩ ra rồi chuyển toàn bộ tiền cho T thông 02 tài khoản ngân hàng là 0101001148374 và 1989966666, đều mở tại ngân hàng V1 (V2), mang tên Phạm Đình B đến tài khoản ngân hàng Đ (B1) số 51110001267459 mang tên Đặng Quang H - là bố đẻ của T (nhưng T sử dụng), cụ thể như sau:

  • - Lần 1: Ngày 15/6/2023, T lên cho anh B 02 (Hai) đơn hàng của “Đại Định” và “Thầm mỹ V ruly” với tổng số tiền 217.000.000 đồng. Anh B đã chuyển cho T tổng số tiền là 173.600.000 đồng. Ngày 24/6/202, T chuyển trả cho anh B số tiền đã đầu tư và số tiền lợi nhuận 2 bên đã thoả thuận là 184.234.000 đồng.
  • - Lần 2: Ngày 24/6/2023, T lên cho anh B 02 (Hai) đơn hàng của “Thành Dài” và “Thầm mỹ Ngọc H3” với tổng số tiền 579.600.000 đồng. Ngày 26/6/2023 và ngày 27/6/2023, anh B đã chuyển cho T tổng số tiền là 450.000.000 đồng. Ngày 05/7/2023 và ngày 06/7/2023, T chuyển trả cho anh B số tiền đầu tư và số tiền 2 bên đã thoản thuận là 480.550.000 đồng,(trong đó có 1.000.000 đồng tiền “lộc”).
  • - Lần 3: Ngày 08/7/2023, T lên cho anh B 04 (Bốn) đơn hàng của “Mỹ Duyên”; “Chang bee”; “Huyền my” và “Phi A” với tổng số tiền là 1.086.000.000 đồng. Vào các ngày 08/7/2023;10/7/2023 và 11/7/2023, anh B chuyển cho T tổng số tiền 850.000.000 đồng, (trong đó có 50.00.000 đồng trả nợ cho T). Các ngày 17/07/2023; 19/07/2023; 20/07/2023, T chuyển trả cho anh B là 853.930.00 đồng, (trong đó có 1.000.000 đồng tiền “lộ”).
  • - Lần 4: Ngày 19/7/2023, T lên cho anh B 03 (Ba) đơn hàng của “Nguyệt Ly “; “Anh D” và “T1” với tổng số tiền 1.273.600.000 đồng, anh B phải đầu tư 1.018.880.000 đồng. Vào các ngày 19/7/202; 20/7/2023 và 21/7/2023 anh B chuyển cho T 991.880.0000 đồng và 20.000.000 đồng (anh B đã chuyển cho T vào ngày 01/7/2023 để nhờ mua xe đạp, nhưng T chưa mua). Tổng tiền anh B đã chuyển cho T là: 1.011.880.000 đồng.
  • - Lần 5: Ngày 21/7/2023, T lên cho anh B 01 đơn của “Anh P” với số tiền là 150.800.000 đồng. Anh B phải đầu tư 120.640.000 đồng. Ngày 21/7/2023, anh B chuyển cho T 100.000.000 đồng. Với lần đầu tư thứ 4 và thứ 5 (vào ngày 28/07/2023 và 30/8/2023), T đã chuyển trả cho anh B là 1.188.940.000 đồng.
  • - Lần 6: Ngày 30/7/2023, T lên cho anh B 03 đơn hàng gồm “Thẩm mỹ Phương L1”, “Dung spa” và “ Quỳnh Ly) với tổng tiền là 990.600.000 đồng. Anh B phải đầu tư 792.480.000 đồng. Ngày 29/7/2023 anh B chuyển cho T 720.000.000 đồng và thống nhất: Trong vòng 30 ngày, T sẽ trả tiền gốc và lãi tiền vay, 10 ngày sau sẽ chuyến tiền lãi của đơn hàng cho anh B. Ngày 08/8/2023, T chuyển trả cho anh B 26.850.000 đồng; ngày 30/8/2023 T trả tiếp cho anh B 450.000.000 đồng; Ngày 03/9/2023 T trả tiếp cho anh B 45.000.000 đồng.
  • - Lần 7: Ngày 31/7/2023, T lên cho anh B 01 (Một) đơn hàng của “Anh Tú T4” với số tiền là 536.000.000 đồng. Anh B phải đầu tư 428.800.000 đồng. Ngày 31/7/2023, anh B chuyển cho T 450.000.000 đồng và thống nhất trong vòng 30 ngày, T sẽ trả lại tiền gốc và lãi tiền vay,10 ngày sau sẽ chuyển tiền lãi của đơn hàng cho anh B. Ngày 09/8/2023, T chuyển trả cho anh B để thanh toán tiền lãi 10 ngày của đơn hàng với số tiền 17.400.000 đồng.
  • - Lần 8: Ngày 02/8/2023, T lên cho anh B 01 đơn hàng “TM Yến Al” với số tiền là 760.600.000 đồng. Anh B phải đầu tư 608.480.000 đồng. Ngày 02/8/2023, anh B chuyển cho T 608.000.000 đồng. Hai bên thống nhất: trong vòng 30 ngày, T sẽ trả tiền gốc và lãi tiền vay, 10 ngày sau sẽ chuyển tiền lãi của đơn hàng cho anh B. Ngày 11/8/2023, T chuyển cho anh B để trả tiền lãi 10 ngày của đơn là 14.300.000 đồng; Ngày 21/8/2023, T chuyển cho anh B 24.300.000 đồng.
  • - Lần 9: Ngày 10/8/2023, T lên cho anh B 01 đơn hàng của “Mun spa" với số tiền là 528.400.000 đồng. Anh B phải đầu tư là 422.720.000 đồng. Tuy nhiên, T nói anh B chỉ cần đầu tư 250.000.000 đồng. Ngày 10/8/2023, B chuyển cho T 230.000.000 đồng, cộng với 10.000.000 đồng anh B chuyển vào ngày 06/07/2023. Ngày 19/08/2023, T chuyển trả cho anh B 273.350.000 đồng (trong đó số tiền được nhận của lần đầu tư thứ 9 là 266.100.000 và 7.250.000 tiền lời của lần đầu tư thứ 6 và thứ 7).
  • - Lần 10: Ngày 13/8/2023, T lên 02 đơn hàng cho anh B gồm: đơn 1 là 272.000.000 đồng; đơn 2 là 340.000.000 đồng (Đối với 02 đơn này. T lừa anh B là nếu mua thì đơn 1sẽ được tặng 03 chỉ vàng, đơn 2 được tặng 02 chỉ vàng). Trong vòng 15 ngày sẽ trả tiền gốc, lãi tiền vay và tiền lãi của đơn hàng. Ngày 13/8/2023, với đơn hàng 1, anh B chuyển cho T 272.000.000 đồng. Đơn 2, anh B chuyển cho T 300.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền, T định ra tiệm vàng để mua vàng chuyển về cho anh B, nhưng anh B yêu cầu T cứ theo giá vàng hiện tại nhân tiền lên và chuyển tiền lại cho anh B, nên T đã chuyển cho anh B 28.650.000 đồng; ngày 29/8/2023, T chuyển tiếp 500.000.000 đồng cho anh B.
  • - Lần 11: Ngày 22/8/2023, T lên cho anh B 01 (Một) đơn hàng với số tiền là 350.000.000 đồng. Anh B chuyển cho T 330.000.000 đồng.
  • - Lần 12: Ngày 30/8/2023, T lên 02 đơn hàng cho B gồm: đơn 1 là 340.000.000 đồng; đơn 2 là 340.000.000 đồng (đơn này T cũng lừa anh B là nếu mua thì sẽ được tặng vàng) nên ngày 30/8/2023, anh B chuyển tiền cho đơn 1 là 320.000.000 đồng; đơn 2 là 123.070.000 đồng.
  • - Lần 13: Ngày 31/8/2023, T lên tiếp cho B 01 đơn với số tiền 150.000.000 đồng. Anh B chuyển khoản cho T 150.000.000 đồng.

Số tiền anh B đầu tư, T sử dụng một phần để trả tiền gốc và tiền lãi cho anh B theo cam kết (với hình thức lấy đơn sau để chi trả cho đơn trước). Số tiền còn lại, T sử dụng vào mục đích đánh bạc, tiêu xài cá nhân và trả nợ cho những người mà T đã vay trước đó và vay trong thời gian lừa anh B để trả tiền anh B đầu tư vào các đơn hàng.

Do thấy những đơn hàng về sau T không trả được tiền như cam kết nên anh B Yêu cầu T phải tất toán hết số tiền của các lần đầu tư nêu trên thì mới tiếp tục đầu tư tiếp. Tuy nhiên, T không có tiền để thanh toán nên anh B liên tục yêu cầu T phải thanh toán hết cho anh B. Đến ngày 31/8/2023, T không thể vay được tiền của người khác nữa để trả nợ cho anh B nên T đã lừa anh B là do các đơn hàng bị lỗi, phải chờ thời gian để trả lại hàng rồi T nhắn tin lừa anh B là T sử dụng trái phép chất ma túy nên bị Công an bắt giữ và tắt điện thoại để trốn tránh việc trả nợ

Tổng số tiền anh B đã chuyển cho T là 6.098.550.000 VNĐ (Sáu tỷ không trăm chín mươi tám triệu năm trăm năm mươi nghìn đồng). T đã trả lại cho anh B 4.246.818.000VNĐ (Bốn tỷ hai trăm bốn mươi sáu triệu tám trăm mười tám nghìn đồng). Số tiền T đang chiếm đoạt của anh B là 1.851.732.000 VNĐ (Một tỷ tám trăm năm mươi mốt triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn đồng).

Về vật chứng vụ án gồm:

  • -Các sao kê tài khoản ngân hàng số 19899666666 và số [...] đều mang tên Phạm Đình B; 411 (Bốn trăm mười một) bản ảnh được in ra trên giấy A4 có nội dung tin nhắn về các lần giao dịch góp vốn giữa anh B và T trên ứng dụng Zalo.
  • - Sao kê tài khoản ngân hàng số 5111267459 mang tên Đặng Quang H. Các tài liệu trên được chuyển theo hồ sơ vụ án.

Bản Cáo trạng số 43/CT-VKSNA-P2 ngày 29 tháng 11 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An quyết định truy tố bị cáo Đặng Quang T về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Đặng Quang T 15 -16 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Đặng Quang T phải trả lại cho anh Phạm Đình B số tiền 1.851.732.000 đồng (Một tỷ tám trăm năm mốt triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn).

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm.

Phần tranh luận: Người bào chữa cho các bị cáo không tranh luận về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà Đại diện viện kiểm sát đề nghị áp dụng; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh phạm tội và hoàn cảnh gia đình của bị cáo để xem xét giảm nhẹ hình phạt.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt. Người bị hại không tranh luận, đề nghị xét xử bị cáo đúng quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh N, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai của bị cáo, lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Do cần tiền đánh bạc, trả nợ và tiêu xài cá nhân nên Đặng Quang T đã lập ra các đơn hàng không có thật (13 đơn hàng) rồi mời gọi anh Phạm Đình B góp vốn đầu tư để hưởng lợi nhuận cao, với hình thức lấy số tiền hàng của đơn sau để chi trả tiền cho đơn trước. Bằng thủ đoạn như trên, từ ngày 15/6/2023 đến ngày 31/8/2023, anh B đã đầu tư 13 lần vào các đơn hàng giả của T với tổng số tiền 6.098.550.000 đồng. T đã trả lại cho anh B số tiền 4.246.000.000 đồng. Số tiền Đặng Quang T đã lừa đảo chiếm đoạt của anh B là 1.851.732.000 đồng (Một tỷ tám trăm năm mốt triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn). Bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự, đã dùng thủ đoạn gian dối mục đích chiếm đoạt tài sản, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo hộ, lỗi của bị cáo là lỗi cố ý. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” với tình tiết định khung “Chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174 Bộ luật hình sự của Bộ luật Hình sự năm 2015 như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố là có căn cứ, đúng người, đúng pháp luật.

[3] Tính chất của vụ án: Hành vi chiếm đoạt tài sản của bị cáo Đặng Quang T là nguy hiểm cho xã hội và thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, tác động rất xấu đến tình hình trật tự trị an xã hội. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội nhiều lần, đã chiếm đoạt tài sản của người khác với giá trị lớn. Vì vậy, cần xử phạt nghiêm tương xứng với hành vi bị cáo thực hiện buộc cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục bị cáo thành người có ích.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng “Phạm tội 2 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn là tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để thể hiện sự khoan hồng pháp luật.

[5] Trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, người bị hại anh Phạm Đình B yêu cầu bị cáo Đặng Quang T phải trả lại số tiền đã chiếm đoạt là 1.851.732.000 đồng. Bị cáo thừa nhận đó là số tiền bị cáo có trách nhiệm bồi thường. Xét yêu cầu của anh B là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, các Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015. Vì vậy buộc bị cáo phải bồi thường cho anh B số tiền 1.851.732.000 đồng và phải chịu lãi suất của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

[6] Về xử lý vật chứng: Các sao kê tài khoản ngân hàng số 19899666666 và số [...] đều mang tên Phạm Đình B; 411 (Bốn trăm mười một) bản ảnh được in ra trên giấy A4 có nội dung tin nhắn về các lần giao dịch góp vốn giữa anh B và T trên ứng dụng Zalo; sao kê tài khoản ngân hàng số 5111267459 mang tên Đặng Quang H. Các tài liệu trên được chuyển theo hồ sơ vụ án nên được lưu giữ tại hồ sơ.

[7] Đối với các hành vi liên quan:

Ông Đặng Quang H là người giao tài khoản ngân hàng cho Đặng Quang T sử dụng để thực hiện hành vi lừa đảo đối với anh Phạm Đình B. Tuy nhiên, ông H không biết T sử dụng vào mục đích phạm tội, do đó không có căn cứ để xử lý ông Đặng Quang H.

Số tiền anh Phạm Đình B chuyển cho bị cáo Đặng Quang T đều được T sử dụng ngay để đánh bạc trực tuyến trên Website: go88.army dưới hình thức đánh “T4 xỉu”. Mỗi lần T tham gia đánh bạc thì hệ thống Website: go88.army sẽ tự động gửi các tài khoản để T nộp tiền vào. Máy điện thoại T sử dụng để đánh bạc T đã làm mất nên không thu giữ được. T cũng không nhớ được tên đăng nhập và mật khẩu các tài khoản đã sử dụng để đánh bạc trên Website: go88.army. Do đó không có căn cứ để xử lý hành vi đánh bạc của T.

Số tiền Đặng Quạng T5 dùng để trả nợ, quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N xác định: Trong thời gian anh Phạm Đình B chuyển tiền cho T5 thì T5 còn vay mượn tiền của nhiều người khác để trả lại cho anh B và những người T5 đã vay trước đó. Do không thể tách được số tiền T5 dùng để trả nợ cho những người khác trong giai đoạn từ ngày 15/6/2023 đến ngày 31/8/2023 có phải là số tiền mà T5 đã lừa đảo chiếm đoạt của anh B hay không, nên không có căn cứ để thu hồi.

[8] Án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo Đặng Quang T phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” Áp dụng tại điểm a khoản 4 Điều 174 ; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Quang T 15 (Mười lăm) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/11/2023.
  2. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; các Điều 584, Điều 589 của Bộ luật Dân sự năm 2015 buộc bị cáo Đặng Quang T phải trả lại cho anh Phạm Đình B số tiền 1.851.732.000 đồng (Một tỷ tám trăm năm mốt triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn). Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật và anh Phạm Đình B có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo Đặng Quang T phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
  3. Án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Đặng Quang T phải nộp 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 67.551.960 đồng (Sáu mươi bảy triệu, năm trăm năm mươi mốt nghìn, chín trăm sáu mươi đồng) án phí dân sự sơ thẩm
  4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Trường hợp bản án được thi hành quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền thi hành án dân sự, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Nghệ An;
  • - Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Cục THADS tỉnh Nghệ An;
  • - Trại tạm giam Công an tỉnh Nghệ An;
  • - Sở Tư pháp;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - UBND xã Thái Sơn, huyện Đô Lương;
  • - Lưu hồ sơ vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Mỹ Hải

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 17/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về lừa đảo chiếm đoạt tài sản

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Đặng Quang T, Lừa đảo chiếm đoạt tài sản
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger