Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN GÒ DẦU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/DS-ST

Ngày: 15-7-2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU - TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Tiến Danh.

Các Hội thẩm nhân dân.

  1. Bà Trần Ánh Nhạn;
  2. Bà Trần Thị Thúy.

- Thư ký phiên toà: Ông Lê Minh Nhựt Quang, Thư ký Toà án nhân dân huyện Gò Dầu.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Gò Dầu tham gia phiên tòa: Ông Lương Bá Xanh - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Gò Dầu xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 239/2024/TLST-DS ngày 25 tháng 4 năm 2024, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 108/2024/QĐXX-ST ngày 18 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên toà số: 53/2024/QÐST-DS ngày 03 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S (S1).

Địa chỉ trụ sở: Số B, N, Phường H, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D - Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Quốc H - Phó Giám đốc Chi nhánh kiêm Trưởng phòng giao dịch G. Địa chỉ liên hệ: KP4/9AC, Nội ô B, thị trấn G, huyện G, tỉnh Tây Ninh (Theo văn bản uỷ quyền số 3525/2023/QĐ-PL ngày 25/12/2023).

Người đại diện theo uỷ quyền của ông H là ông Nguyễn Minh C, chức vụ: Trưởng bộ phận Quản lý tín dụng & Kiểm soát rủi ro (Theo văn bản uỷ quyền số 40/GUQ-PGDGD ngày 03/4/2024). “vắng mặt”

2. Bị đơn: Ông Đỗ Thành C1, sinh năm 1989. “vắng mặt”

Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện G, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 23/4/2024 và trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn - ông Nguyễn Minh C đã khai:

Căn cứ vào tài khoản chi lương qua tài khoản Ngân hàng TMCP S (gọi tắt ngân hàng) số [...], do ông Đỗ Thành C1 là chủ thẻ. Ngày 09/12/2021, ông C1 có thực hiện giao dịch vay tiền trực tuyến trên ứng dụng S1 để vay số tiền 50.000.000 đồng theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nợ số LD2134300884 với số tiền tổng cộng 50.000.000 đồng, mục đích vay tiêu dùng sinh hoạt, lãi suất 16,9%/năm (biên độ 9,9%/năm), lãi suất được áp dụng cho 03 tháng đầu tiên kể từ ngày ký kết hợp đồng tín dụng (sau đó điều chỉnh theo suất cơ sở tương ứng theo kỳ hạn vay được S1 niêm yết), lãi suất trong hạn bằng 150% lãi trong hạn, thời hạn vay 24 tháng, trả tiền tương ứng với ngày khách hàng nhận lượng qua tài khoản thanh toán chi lương tại S1, thời điểm trả hết nợ ngày 09/12/2023. Ngày 09/12/2021, ông C1 được giải ngân số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản 050054978011. Sau khi vay, ông C1 đã thanh toán tiền gốc và tiền lãi được 32.743.880 đồng, tuy nhiên sau đó ông C1 không tiếp tục duy trì tiền lương để ngân hàng trừ tiền như thỏa thuận nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ nợ quá hạn của ông C1 từ ngày 09/11/2022. Do ông C1 vi phạm nghĩa vụ hợp đồng nên ngân hàng áp dụng mức lãi phạt là 150% trên lãi suất đã thỏa thuận số tiền nợ theo quy định tại mục 3.2 Điều 3 của Hợp đồng cho vay kiêm giấy nợ số LD2134300884 ngày 09/12/2021. Do đó, ngân hàng yêu cầu ông C1 trả số tiền còn nợ đến ngày 15/7/2024 là 33.815.942 đồng (trong đó tiền gốc là 23.212.143 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.260.641 đồng, lãi quá hạn là 6.916.316 đồng và lãi chậm trả là 426.842 đồng) và tiếp tục trả tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng số LD2134300884 ngày 09/12/2021.

Bị đơn - ông Đỗ Thành C1:

Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhiều lần, nhưng vắng mặt không có lý do, do đó Tòa án không ghi lời khai, không tiến hành hòa giải được, đã tiến hành tống đạt hợp lệ cho ông C1 đến lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng ông C1 vắng mặt không có lý do.

Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:

Về tố tụng:

Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án: Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng Dân sự về việc xét xử sơ thẩm. Bị đơn là ông C1 đã được tống đạt hợp lệ nhưng vắng mặt và không có yêu cầu phản tố nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông C1. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 và khoản 1 Điều 238 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng là đúng pháp luật. Kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử vào phòng nghị án, Kiểm sát viên không phát hiện vi phạm tố tụng.

Về nội dung vụ án:

Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 90, 91, 95 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Chấp nhận yêu cầu Ngân hàng TMCP S đối với ông Đỗ Thành C1. Buộc ông C1 có nghĩa vụ trả cho ngân hàng số tiền 23.212.143 đồng và tiền lãi phát sinh.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào ý kiến trình bày của đương sự, phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

[1.1] Về quyền khởi kiện và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng khởi kiện ông Đỗ Thành C1 về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng, ông C1 có địa chỉ tại huyện G, tỉnh Tây Ninh, do đó căn cứ khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng Dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Dầu.

[1.2] Về sự vắng mặt của đương sự: Ông Đỗ Thành C1 vắng mặt không có lý do và không có yêu cầu phản tố nên căn cứ khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt ông C1. Ông C1 phải chịu hậu quả của việc không cung cấp chứng cứ và không thực hiện nghĩa vụ chứng minh cho quyền và lợi ích hợp pháp của mình theo quy định tại các Điều 6, 72 và 91 Bộ luật tố tụng Dân sự. Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 238 Bộ luật tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những người tham gia tố tụng.

[2] Xét yêu cầu khởi kiện của ngân hàng:

Nhận thấy giữa Ngân hàng TMCP S và ông Đỗ Thành C1 có thực hiện hợp đồng tín dụng là Hợp đồng tín dụng LD2134300884 ngày 09/12/2021 (hay Hợp đồng cho vay kiêm giấy nợ số LD2134300884 ngày 09/12/2021) qua ứng dụng Sacombank Pay, mục đích tiêu dùng cá nhân, hình thức vay tín chấp, không kỳ hạn, lãi suất 16,9%/năm (có thể thay đổi lãi suất theo từng thời kỳ). Việc ký kết hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và ông C1 thông qua phương tiện điện tử dưới hình thông điệp điện tử (ứng dụng Sacombak Pay) là phù hợp pháp luật theo quy định tại Điều 38 của Luật Giao dịch điện tử năm 2005 và khoản 1 Điều 119 của Bộ luật dân sự. Ngày 09/12/2021, ông C1 đã nhận số tiền 50.000.000 đồng vào tài khoản 050054978011 do ông Đỗ Thành C1 chủ thẻ là sự kiện thực tế xảy ra. Hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng và ông C1 thỏa thuận về mức lãi suất, phí dịch vụ như nêu trên là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật các Tổ chức tín dụng. Sau khi vay, ông C1 thanh toán được số tiền gốc và lãi là 32.743.880 đồng, tuy nhiên sau đó ông C1 không thanh toán theo thỏa thuận nên ngân hàng đã chuyển toàn bộ sang nợ quá hạn từ ngày 09/11/2022 theo mục 3.2 Điều 3 của Hợp đồng cho vay kiêm giấy nợ số LD2134300884 ngày 09/12/2021. Ông C1 không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng là vi phạm hợp đồng tín dụng đã giao kết. Do đó, ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông C1 trả số tiền còn nợ đến ngày 15/7/2024 là 33.815.942 đồng (trong đó tiền gốc là 23.212.143 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.260.641 đồng, lãi quá hạn là 6.916.316 đồng và lãi chậm trả là 426.842 đồng) và yêu cầu tiếp tục tính lãi theo hợp đồng tín dụng đã giao kết là có cơ sở chấp nhận.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Về án phí: Ông Nguyễn Thành C2 phải chịu án phí theo quy định tại Điều 147 Bộ luật tố tụng Dân sự. Ngân hàng không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 90, 91, 95 của Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; Điều 38 của Luật Giao dịch điện tử năm 2005; Điều 119 của Bộ luật dân sự; Điều 147 của Bộ luật tố tụng Dân sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S đối với ông Đỗ Thành C1.

    Buộc ông Đỗ Thành C1 có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền đến ngày 15/7/2024 là 33.815.942 (ba mươi ba triệu tám trăm mười lăm nghìn chín trăm bốn mươi hai) đồng, trong đó: tiền gốc là 23.212.143 đồng, tiền lãi trong hạn là 3.260.641 đồng, lãi quá hạn là 6.916.316 đồng và lãi chậm trả là 426.842 đồng.

    Kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm (16/7/2024), nếu ông Đỗ Thành C1 chưa thanh toán số tiền nêu trên cho Ngân hàng TMCP S thì ông C1 còn phải chịu khoản tiền lãi theo Hợp đồng tín dụng ngày 09/12/2021 (hay Hợp đồng cho vay kiêm giấy nợ số LD2134300884 ngày 09/12/2021) đã giao kết cho đến khi thanh toán xong.

    Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho Ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của Ngân hàng cho vay.

  2. Về án phí: Ông Đỗ Thành C1 phải chịu 1.690.000 (một triệu sáu trăm chín mươi nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền 805.000 (tám trăm lẻ năm nghìn) đồng theo biên lai số: 0014047 ngày 25/4/2024 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Gò Dầu, tỉnh Tây Ninh.
  3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S, ông Đỗ Thành C1 được quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án niêm yết hợp pháp.
  4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng GĐKTNV&THA;
  • - VKSND huyện Gò Dầu;
  • - CC.THADS huyện Gò Dầu;
  • - Các đương sự;
  • - Hồ sơ;
  • - Lưu./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Tiến Danh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/DS-ST ngày 15/07/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU - TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 88/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ DẦU - TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp về hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng - Đỗ Thành C
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger