|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU TỈNH SÓC TRĂNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2023/DS-ST Ngày: 14 – 8 – 2023 “V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Hiếu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Thái Tín Hiền.
- Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Hưng, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu tham gia phiên Tòa: Ông Âu Hoàng Mến – Kiểm sát viên.
Trong ngày 14 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 268/2022/TLST-DS ngày 26 tháng 12 năm 2022 về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2023/QĐXXST-DS ngày 04 tháng 7 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 39/2023/QĐST-DS ngày 20 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Ngân hàng N.
Địa chỉ: Số nhà 02 đường L, Quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Huỳnh Ngọc Tr, sinh năm 1984 (Có mặt).
Địa chỉ: Số nhà 45C đường Ng, khóm A, Phường A, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
* Bị đơn: Ông Lý Thanh T, sinh năm 1959 (vắng mặt).
Địa chỉ: Số 110 ấp Đ, xã Vĩnh T, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Lê Thị V, sinh năm 1959 (Vắng mặt).
- Anh Lý Minh H, sinh năm 1985 (vắng mặt).
Cùng địa chỉ: Số 110 ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 25/10/2022 của nguyên đơn và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện do nguyên đơn ủy quyền bà Huỳnh Ngọc Tr trình bày:
Ngày 23/5/2018, Ngân hàng N – Chi nhánh thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng (gọi tắt là Ngân hàng) với ông Lý Thanh T đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201800430. Theo Hợp đồng, Ngân hàng cho ông T vay số tiền 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi tôm; lãi suất 10,5%/năm; trả lãi hàng quý, thời hạn vay là 36 tháng, trả nợ gốc theo phân kỳ trả nợ.
Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, ông Lý Thanh T và bà Lê Thị V đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/19/2018/VT ngày 23/5/2018, tài sản thế chấp là:
- Diện tích 1.195m², loại đất cây lâu năm khác, tại thửa đất số 25 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Diện tích 2.000m², loại đất cây lâu năm khác, tại thửa đất số 149 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Diện tích 14.595m², loại đất lúa, tại thửa đất số 152 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; Tài sản trên đất gồm có 04 ao nuôi Tôm, 01 ao lắng và 02 chòi giữ tôm vách lá, nền đất.
- Diện tích 597m², (trong đó có 300m² đất ở nông thôn và 297m² loại đất cây lâu năm khác), tại thửa đất số 456 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Trên đất cơ 01 căn nhà cấp 4, vách trước xây gạch, vách lá hai bên, cột gỗ, nền xi măng của ông T và bà V.
Các phần đất này đã được được Ủy ban nhân dân huyện Vĩnh Châu (nay là Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu) cấp cho hộ ông Lý Thanh T ngày 09/5/1997 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số I 195121.
Tính đến ngày 14/8/2023, ông Lý Thanh T và bà Lê Thị V còn nợ của Ngân hàng tổng cộng là 209.215.542đ (hai trăm lẻ chín triệu hai trăm mười lăm nghìn năm trăm bốn mươi hai đồng) trong đó tiền nợ gốc là 118.000.000₫ (một trăm mười tám triệu đồng), lãi trong hạn là 66.812.667đ (sáu mươi sáu triệu tám trăm mười hai nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 24.402.875₫ (hai mươi bốn triệu bốn trăm lẻ hai nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng).
Ngân hàng đã nhiều lần làm việc với ông T – bà V yêu cầu thanh toán nghĩa vụ trả nợ nêu trên, tuy nhiên ông T – bà V vẫn không thực hiện.
Nay, Ngân hàng N yêu cầu Tòa án giải quyết, buộc ông T – bà V phải liên đới thanh toán số nợ nêu trên. Đồng thời, ông T – bà V còn phải tiếp tục trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp ông T – bà V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ.
Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ bà Tr yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật.
- Đối với bị đơn Lý Thanh T :
Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng ông T không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự, ông T cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 20/7/2023, ông T vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong quá trình giải quyết vụ án bà V trình bày:
Vào năm 2018, chồng của bà V là ông Lý Thanh T đã ký kết Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201800430. Theo Hợp đồng, Ngân hàng cho ông T vay số tiền 150.000.000₫ (một trăm năm mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi tôm; lãi suất 10,5%/năm; trả lãi hàng quý, thời hạn vay là 36 tháng, trả nợ gốc theo phân kỳ trả nợ.
Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, ông Lý Thanh T và bà Lê Thị V đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/19/2018/VT ngày 23/5/2018, tài sản thế chấp là:
- Diện tích 1.195m², loại đất cây lâu năm khác, tại thửa đất số 25 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Diện tích 2.000m², loại đất cây lâu năm khác, tại thửa đất số 149 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Diện tích 14.595m², loại đất lúa, tại thửa đất số 152 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; Tài sản trên đất gồm có 04 ao nuôi Tôm, 01 ao lắng và 02 chòi giữ tôm vách lá, nền đất.
- Diện tích 597m², (trong đó có 300m² đất ở nông thôn và 297m² loại đất cây lâu năm khác), tại thửa đất số 456 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Trên đất cơ 01 căn nhà cấp 4, vách trước xây gạch, vách lá hai bên, cột gỗ, nền xi măng của ông T và bà V .
Các phần đất này đã được được Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho hộ ông Lý Thanh T ngày 09/5/1997 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số I 195121.
Hiện nay vợ chồng bà còn nợ của Ngân hàng số tiền đúng như người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày. Do nuôi Tôm thua lỗ, hiện nay hoàn cảnh gia đình rất khó khăn nên vợ chồng bà Vân chưa có khả năng trả nợ cho Ngân hàng. Bà V xin Ngân hàng gia hạn cho vợ chồng bà trả mỗi tháng 2.000.000đ (hai triệu đồng) cho đến khi dứt nợ.
Trường hợp vợ chồng bà không thực hiện đúng nghĩa vụ trả nợ thì bà V đồng ý cho Ngân hàng phát mãi tài sản để thu hồi nợ.
Đối với chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ bà Vân yêu cầu Tòa án giải quyết theo pháp luật.
Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Lý Minh H :
Dù được tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, tại Thông báo thể hiện đầy đủ những tình tiết, sự kiện, tài liệu, yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng nhưng anh H không phản đối, không có văn bản trình bày ý kiến và nguyện vọng của mình. Trong quá trình giải quyết vụ án Tòa án có tiến hành triệu tập các đương sự, anh H cũng vắng mặt không có lý do trong các phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã thông báo kết quả phiên họp trên cho các đương sự được biết và đưa vụ án ra xét xử. Phiên tòa ngày 20/7/2023, anh H vẫn vắng mặt và không giao nộp tài liệu, chứng cứ gì nên Hội đồng xét xử quyết định hoãn phiên tòa, tiếp tục đưa vụ án ra xét xử theo luật định.
Chứng cứ Tòa án thu thập được là: Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa nêu quan điểm: Qua thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự, kể từ khi thụ lý đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, Thư ký phiên tòa cũng như Hội đồng xét xử đã thực hiện đầy đủ các thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, chứng cứ được thu thập đầy đủ đảm bảo quyền lợi hợp pháp cho các đương sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định pháp luật, riêng bị đơn Lý Thanh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V và anh Lý Minh H mặc dù Tòa án đã triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt nên đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với ông T, bà V và anh H theo quy định của pháp luật. Về quan hệ pháp luật tranh chấp: Hội đồng xét xử đã xác định đúng quan hệ tranh chấp.
Về nội dung giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn Lý Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V có trách nhiệm liên đới thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi đến ngày 14/8/2023, tổng cộng là 209.215.542đ (hai trăm lẻ chín triệu hai trăm mười lăm nghìn năm trăm bốn mươi hai đồng) trong đó tiền nợ gốc là 118.000.000₫ (một trăm mười tám triệu đồng), lãi trong hạn là 66.812.667đ (sáu mươi sáu triệu tám trăm mười hai nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 24.402.875đ (hai mươi bốn triệu bốn trăm lẻ hai nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng). Đồng thời, vợ chồng ông T – bà V còn phải tiếp tục liên đới trả lãi phát sinh theo lãi suất của Hợp đồng kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi hoàn thành nghĩa vụ trả nợ. Trường hợp vợ chồng ông T – bà V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ, Ngân hàng được quyền yêu cầu cơ quan thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm theo Hợp đồng thế chấp để thu hồi nợ. Quyết định về nghĩa vụ chịu án phí đối với đương sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Bị đơn Lý Thanh T cư trú tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Vĩnh Châu theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Bị đơn Lý Thanh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V và anh Lý Minh H đã được triệu tập hợp lệ hai lần tham gia phiên tòa, đều vắng mặt không có lý do nên phải chịu hậu quả pháp lý về việc vắng mặt của mình. Tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn yêu cầu Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật và Hội đồng xét xử căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự để xét xử vụ án vắng mặt ông Lý Thanh T, bà Lê Thị V và anh Lý Minh H.
[2] Về nội dung giải quyết:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện đòi nợ gốc, tiền lãi trong hạn, tiền lãi quá hạn của nguyên đơn, Hội đồng xét xử xét thấy:
[2.1.1] Xét tính hiệu lực của Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201800430 ngày 23/5/2018. Ông T đã nhận đủ số tiền vay là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng); mục đích vay để nuôi tôm. Nội dung của hợp đồng tuân thủ các quy định của pháp luật. Xác định hợp đồng tín dụng số 7606LAV201800430 ngày 23/5/2018 có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ của mình theo thỏa thuận của Hợp đồng tín dụng.
Thực hiện Hợp đồng tín dụng Ngân hàng đã giải ngân và ông T đã nhận đủ tiền vay là 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng). Như vậy Ngân hàng đã thực hiện đúng thỏa thuận trong hợp đồng.
Sau khi vay được tiền, ông T đã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán cho Ngân hàng như thỏa thuận trong hợp đồng. Như vậy, ông T. đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu phải trả toàn bộ số nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.
[2.1.2] Đối với nợ lãi: Hợp đồng tín dụng số 7606LAV201800430 ngày 23/5/2018 có lãi suất thỏa thuận là 10,5%/năm; trả lãi hàng quý. Đây là lãi suất do các bên thỏa thuận và không vi phạm các quy định của pháp luật về lãi suất. Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Hợp đồng, ông T. đã vi phạm nghĩa vụ trả lãi và bị xác định là vi phạm hợp đồng. Do đó Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Tùng phải trả nợ lãi trên dư nợ gốc là có cơ sở chấp nhận.
[2.2] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc yêu cầu bị đơn Lý Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Lê Thị V liên đới trả tiền các khoản nợ trên cho Ngân hàng, Hội đồng xét xử xét thấy: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên hòa giải và tại phiên tòa sơ thẩm theo lời trình bày của bà V thì việc vay nợ của ông T mục đích nuôi tôm, cùng phát triển kinh tế gia đình, mục đích là tìm kiếm lợi nhuận để phục vụ cho nhu cầu kinh tế chung của gia đình. Ông T và bà V là vợ chồng, cùng lao động, cùng sinh hoạt trong gia đình và cùng lấy tài sản chung để đảm bảo cho khoản nợ vay. Do đó, Ngân hàng yêu cầu ông T và bà V cùng liên đới trả các khoản nợ vốn và lãi cho Ngân hàng là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Kể từ ngày 15/8/2023, vợ chồng ông T – bà V còn phải tiếp tục chịu lãi đối với số tiền gốc còn nợ theo lãi suất đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng.
[2.3] Xét yêu cầu của nguyên đơn về việc xử lý tài sản thế chấp theo thỏa thuận Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp tài sản:
Đối với yêu cầu đề nghị xử lý khối tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản, Hội đồng xét xử xét thấy: Để đảm bảo thực hiện nghĩa vụ trả nợ vay, vợ chồng ông T – bà V đã ký kết với Ngân hàng Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/19/2018/VT ngày 23/5/2018, tài sản thế chấp là:
- Diện tích 1.195m², loại đất cây lâu năm khác, tại thửa đất số 25 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Diện tích 2.000m², loại đất cây lâu năm khác, tại thửa đất số 149 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Diện tích 14.595m², loại đất lúa, tại thửa đất số 152 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; Tài sản trên đất gồm có 04 ao nuôi Tôm, 01 ao lắng và 02 chòi giữ tôm vách lá, nền đất.
- Diện tích 597m², (trong đó có 300m² đất ở nông thôn và 297m² loại đất cây lâu năm khác), tại thửa đất số 456 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Trên đất cơ 01 căn nhà cấp 4, vách trước xây gạch, vách lá hai bên, cột gỗ, nền xi măng của ông T và bà V .
Các phần đất này đã được được Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho hộ ông Lý Thanh T ngày 09/5/1997 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số I 195121.
Khi tham gia ký Hợp đồng thế chấp tài sản thì vợ chồng ông T – bà V tự nguyện, trực tiếp ký kết với Ngân hàng. Trong quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng ông T – bà V đều thừa nhận phần đất này hiện nay vợ chồng ông T – bà V và con trai là Lý Minh H đang quản lý sử dụng. Đồng thời, bà V đồng ý cho Ngân hàng được đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thi hành án nếu vợ chồng ông Tù – bà V không thanh toán nợ cho Ngân hàng. Hội đồng xét xử nhận định: Khi ký kết Hợp đồng thế chấp tài sản, đã thực hiện đúng về hình thức, trình tự, thủ tục và tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Theo đó thỏa thuận trong Hợp đồng thế chấp do hai bên ký kết có hiệu lực pháp luật và các bên phải thực hiện quyền, nghĩa vụ theo thỏa thuận của Hợp đồng thế chấp tài sản.
Do vậy, yêu cầu của nguyên đơn đề nghị xử lý tài sản bảo đảm trong trường hợp vợ chồng ông T – bà V vi phạm nghĩa vụ trả nợ là có căn cứ và phù hợp với thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp được Hội đồng xét xử chấp nhận. Theo đó, trường hợp vợ chồng ông T – bà V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp thì bị đơn Lý Thanh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V và anh Lý Minh H phải bàn giao tài sản theo Hợp đồng thế chấp để Ngân hàng thu hồi nợ.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, vợ chồng ông T – bà V phải liên đới chịu chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng). Do nguyên đơn đã nộp tạm ứng nên vợ chồng ông T – bà V phải liên đới trả lại cho nguyên đơn số tiền nêu trên là 750.000₫ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
[4] Về án phí sơ thẩm: Yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận, vợ chồng ông T – bà V phải liên đới chịu án phí có giá ngạch tương ứng với nghĩa vụ thanh toán quy định tại khoản 1 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV. Tuy nhiên ông T – bà V thuộc đối tượng được miễn án phí và có đơn
xin miễn án phí nên ông T – bà V không phải chịu án phí theo điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
[5] Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Vĩnh Châu là có căn cứ pháp lý và cơ sở thực tiễn như đã nhận định ở trên, Hội đồng xét xử cần chấp nhận đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đã nêu.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 1 Điều 147, Điều 157, Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 295, 303, 325, 463, 466 và 470 của Bộ luật dân sự năm 2015;
Căn cứ Điều 90, 91, 95 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 và điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng N đối với bị đơn ông Lý Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V, về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
-
Buộc bị đơn ông Lý Thanh T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V có trách nhiệm liên đới trả cho nguyên đơn Ngân hàng N dư nợ tính đến ngày 14/8/2023, tổng cộng là 209.215.542đ (hai trăm lẻ chín triệu hai trăm mười lăm nghìn năm trăm bốn mươi hai đồng) trong đó tiền nợ gốc là 118.000.000đ (một trăm mười tám triệu đồng), lãi trong hạn là 66.812.667₫ (sáu mươi sáu triệu tám trăm mười hai nghìn sáu trăm sáu mươi bảy đồng), lãi quá hạn là 24.402.875đ (hai mươi bốn triệu bốn trăm lẻ hai nghìn tám trăm bảy mươi lăm đồng).
Đồng thời ông T – bà V còn phải liên đới trả cho Ngân hàng tiền lãi phát sinh tính trên số nợ gốc theo hợp đồng kể từ ngày 15/8/2023 cho đến khi trả xong số nợ gốc.
-
Trường hợp ông Lý Thanh T và bà Lê Thị V không thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho nguyên đơn Ngân hàng N và Ngân hàng đề nghị cơ quan thi hành án có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản thế chấp để thu hồi nợ thì bị đơn Lý Thanh T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V và anh Lý Minh H phải giao tài sản thế chấp theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất số 149/19/2018/VT ngày 23/5/2018, tài sản thế chấp là:
- Diện tích 1.195m², loại đất cây lâu năm khác, tại thửa đất số 25 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Diện tích 2.000m², loại đất cây lâu năm khác, tại thửa đất số 149 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng.
- Diện tích 14.595m², loại đất lúa, tại thửa đất số 152 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng; Tài sản trên đất gồm có 04 ao nuôi Tôm, 01 ao lắng và 02 chòi giữ tôm vách lá, nền đất.
- Diện tích 597m², (trong đó có 300m² đất ở nông thôn và 297m² loại đất cây lâu năm khác), tại thửa đất số 456 tờ bản đồ 02 tọa lạc tại ấp Đ, xã V, thị xã Vĩnh Châu, tỉnh Sóc Trăng. Trên đất cơ 01 căn nhà cấp 4, vách trước xây gạch, vách lá hai bên, cột gỗ, nền xi măng của ông T và bà V.
Các phần đất này đã được được Ủy ban nhân dân Ủy ban nhân dân thị xã Vĩnh Châu cấp cho hộ ông Lý Thanh T ngày 09/5/1997 tại giấy chứng nhận quyền sử dụng đất Số I 195121.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Ông Lý Thanh T và bà Lê Thị V liên đới chịu là 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng), số tiền này nguyên đơn Ngân hàng N đã nộp xong, ông Lý Thanh T và bà Lê Thị V có nghĩa vụ liên đới trả lại cho nguyên đơn 750.000đ (bảy trăm năm mươi nghìn đồng).
-
Về án phí dân sự sơ thẩm: Ông Lý Thanh T và bà Lê Thị V phải liên đới chịu là 10.460.777đ (mười triệu bốn trăm sáu mươi nghìn bảy trăm bảy mươi bảy đồng). Nhưng do ông Lý Thanh T và bà Lê Thị V là đối tượng được miễn án phí theo quy định pháp luật nên không phải nộp án phí.
Ngân hàng N không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm, hoàn trả cho nguyên đơn số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.732.062đ (bốn triệu bảy trăm ba mươi hai nghìn không trăm sáu mươi hai đồng) theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí tòa án số 0006057 ngày 26/12/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Vĩnh Châu.
-
Nguyên đơn có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án; Bị đơn Lý Thanh T và Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị V và anh Lý Minh H có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết, để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014.
Nơi nhận:
- - VKSND thị xã Vĩnh Châu;
- - Chi cục THADS thị xã Vĩnh Châu;
- - Phòng KTNV&THA TAND tỉnh ST;
- - Các đương sự;
- - Lưu hồ sơ.
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VÕ THỊ HIẾU |
Bản án số 88/2023/DS-ST ngày 14/08/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 88/2023/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/08/2023
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ VĨNH CHÂU, TỈNH SÓC TRĂNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: chấp nhận yêu cầu khởi kiện
