|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN TỈNH BÌNH DƯƠNG |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2024/HS-ST
Ngày: 11-12-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Tiến Lợi.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Đoàn Văn Lước;
Bà Lê Nhật Linh.
Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Đức Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên tham gia phiên tòa: Ông Võ Hữu Ngọc - Kiểm sát viên.
Trong ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 98/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2024/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
1. Lê Văn H, sinh năm 1982, tại Cần Thơ. Hộ khẩu thường trú: Ấp T, thị trấn C, huyện C, thành phố Cần Thơ; Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã T, huyện L, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa (học vấn): 01/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn H1, sinh năm 1941 và bà Trần Thị T, sinh năm 1941 (Đã chết); vợ Lê Thị M, sinh năm 1985, bị cáo có 01 người con sinh năm 2022.
Tiền án: Không; Tiền sự: Không.
Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án đến vụ án:
Ông Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh năm 2002; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Ông Nguyễn Văn C, sinh năm 1996; Địa chỉ: Ấp S, xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1955; Địa chỉ: Ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 9/2022, Lê Văn H đến thuê phòng trọ của ông Hoàng Văn T1, sinh năm 1955 tại ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương. Trong thời gian ở trọ, H lên mạng xã hội T2 thấy tài khoản tên “Thanh Ngọc” đăng video nội dung làm giấy phép lái xe không cần đi thi nên nảy sinh ý định tìm người làm giấy phép lái xe để lấy tiền. H sử dụng tài khoản Zalo tên “Doi xa xu” kết bạn, liên lạc với tài khoản Zalo “Thanh Ngọc” hỏi cách thức và giá cả làm giấy phép lái xe ô tô hạng B2 thì người này báo giá 14.000.000 đồng. Cũng trong thời gian này, Hải giới thiệu cho ông T1 biết H có người anh làm ở trường sát hạch và cấp bằng lái ở Cần Thơ có thể hỗ trợ học, thi và cấp bằng lái xe. Sau khi nghe Hải giới thiệu, ông T1 nói với cháu ngoại là Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh năm 2002, thường trú: ấp B, xã T, huyện B biết và hỏi H để đăng ký học, thi bằng lái xe. Cuối tháng 9/2022, K gọi và nhắn tin cho H qua mạng xã hội Z, K nhờ Hải đăng ký học và hỗ trợ thi cấp giấy phép lái xe hạng B2, H báo giá là 18.000.000 đồng trọn gói và kêu K gửi mặt trước và mặt sau căn cước công dân của K qua cho H để làm thủ tục. K đã chụp gửi mặt trước và mặt sau căn cước công dân của K cho H. H dùng Zalo gửi hình căn cước công dân của K cho tài khoản Zalo tên “Thanh N”, người có tài khoản Zalo tên “Thanh N” nói 02 tuần đến 01 tháng sẽ có giấy phép lái xe. Sau đó, H trả giá nhiều lần thì người có tài khoản Z “Thanh Ngọc” đồng ý làm giấy phép lái xe B2 giả với giá 6.000.000 đồng. Đến ngày 01/10/2022, Nguyễn Văn C, sinh năm: 1996, chỗ ở: xã Đ, huyện B, tỉnh Bình Dương là nhân viên giao hàng đến nhà trọ ông T1 để giao bưu kiện cho H, H kêu C ngồi đợi để H lấy tiền trả cho C. Sau đó, H gọi K đến nhà trọ của ông T1 để kiểm tra và nhận giấy phép lái xe hạng B2. K và ông T1 cùng kiểm tra hồ sơ giấy phép lái xe và 01 Giấy phép lái xe hạng B2 mang tên Nguyễn Hoàng Tuấn K. Kiệt kiểm tra trên hệ thống cấp giấy phép lái xe thì không có thông tin về Giấy phép lái xe này nên nghi là giả, K đã trình báo và giao nộp cho Công an xã T toàn bộ hồ sơ Giấy phép lái xe.
Đồ vật thu giữ gồm:
- - 01 túi nilong màu xám bị rách một đầu, bên ngoài có dán giấy của Công ty N1 có tên người gửi là Hoàng A, tên người nhận là Nguyễn Hoàng Tuấn K;
- - 01 bìa hồ sơ dạy nghề lái xe;
- - 01 giấy phép lái xe số [...];
- - 01 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe ô tô;
- - 01 đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phé lái xe;
- - 01 bài thi sát hạch lý thuyết;
- - 01 biên bản sát hạch thực hành lái xe trong hình;
- - 01 biên bản sát hạch thực hành lái xe trên đường;
- - 01 giấy khám sức khỏe của người lái xe;
- - 01 chứng chỉ sơ cấp nghề.
Ngày 21/11/2022, Cơ quan CSĐT Công an huyện B, tỉnh Bình Dương ra Quyết định số 148/QĐ-CQCSĐT trưng cầu Phòng K1 Công an tỉnh B tiến hành giám định đối với:
- - 01 Giấy phép lái xe, hạng B2 số: [...], tên: Nguyễn Hoàng Tuấn K;
- - 01 Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe ô tô;
- - 01 Giấy khám sức khỏe của người lái xe có hình dấu tròn có chữ “BỆNH VIỆN GIAO THÔNG VẬN TẢI TRUNG ƯƠNG”.
- - 01 Chứng chỉ sơ cấp nghề cấp cho Nguyễn Hoàng Tuấn K.
Tại Kết luận giám định số 481/KL-KTHS ngày 30/11/2022 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận (BL 27):
- - Một (01) “Giấy phép lái xe” (PET) số: [...], hạng B2, họ tên: Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh năm 11/06/2002, nơi cư trú: X. T, H. B, T. B, đề ngày 26/9/2022 (ký hiệu A1) là giả;
- - Một (01) “Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe ô tô”, không đề ngày, tháng, năm (ký hiệu A2) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử;
- - Một (01) “Chứng chỉ sơ cấp nghề” cấp cho “Nguyễn Hoàng Tuấn K”, sinh năm 2002, nghề đào tạo: lái xe ô tô hạng B2, cấp ngày 19/9/2022 (ký hiệu A3) là giả bằng phương pháp in phun màu điện tử.
Đối với tài liệu là “Giấy khám sức khỏe của người lái xe”, Phòng K1 Công an tỉnh B đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thu mẫu con dấu của “Bệnh viện G” (ít nhất 03 mẫu) gửi về Phòng K1 Công an tỉnh B để tiến hành giám định.
Ngày 18/7/2024, Cơ quan CSĐT Công an huyện B ban hành Công văn số 902 đề nghị Bệnh viện G cung cấp thông tin và thu thập mẫu dấu phục vụ giám định.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, Bệnh viện G có Công văn số 369/BV-HKTH trả lời như sau:
- - Trần Văn S; Ngô Hoài Â; Đặng Thị Kim T3 không phải là nhân viên của Bệnh viện G tại thời điểm tháng 9/2022.
- - Bệnh viện G không tiếp nhận khám, cấp “Giấy khám sức khỏe của người lái xe” cho Nguyễn Hoàng Tuấn K, sinh năm 2002, ĐKHKTT: ấp B, xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương tại thời điểm tháng 9/2022.
- - Cung cấp mẫu dấu kèm theo văn bản trả lời.
Ngày 22/8/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Quyết định trưng cầu giám định số 740 yêu cầu giám định hình dấu tròn trên Giấy khám sức khỏe ngày 19/9/2022.
Tại Kết luận giám định số 4083/KL-KTHS ngày 09/9/2024, Phòng K1 Công an tỉnh B, có nội dung:
Qua quan sát, nghiên cứu, phân tích, đánh giá và tổng hợp các đặc điểm về hình dấu tròn trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với hình dấu tròn trên tài liệu mẫu (ký hiệu M) thấy hình dấu tròn trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với hình dấu tròn trên Công văn số 369/BV-KHTH, đề ngày 05/8/2024 (ký hiệu M) là hai hình dấu có nội dung khác nhau. Đối với nội dung kết luận về đối tượng giám định, để có cơ sở kết luận hình dấu tròn trên “Giấy khám sức khỏe của người lái xe” (ký hiệu A) là thật hay giả, Phòng K1 Công an tỉnh B đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B thu mẫu hình dấu tròn có cùng nội dung, cùng thời điểm, số lượng ít nhất 05 mẫu và gởi toàn bộ về Phòng K1 Công an tỉnh B để giám định.
Ngày 10/9/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B ban hành Công văn số 1279, đề nghị Cục Y, Bộ Y cung cấp thông tin: Bệnh viện G có phải là đơn vị trực thuộc Cục Y, mẫu dấu đăng ký của Bệnh viện G có đặc điểm ra sao. Trong các đơn vị trực thuộc Cục Y có đơn vị nào đăng ký mẫu dấu tròn có nội dung: Bệnh viện G, Cục Y.
Tại Công văn số 364 ngày 24/9/2024 của Cục Y, Bộ Y cung cấp thông tin như sau:
- - Trước thời điểm cổ phần hóa, Bệnh viện G là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục Y, Bộ Y. Cục Y không quản lý bản đăng ký mẫu dấu của Bệnh viện G. Ngày 05/01/2016, Bệnh viện G đã được chuyển đổi thành Công ty cổ phần theo phương án thí điểm cổ phần hóa Bệnh viện G được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1129/QĐ-TTg ngày 21/7/2015, với tên gọi thay đổi: Công ty cổ phần G. Kể từ thời điểm này, không còn đơn vị có tên gọi là Bệnh viện G và đơn vị không còn là đơn vị sự nghiệp trực thuộc Cục Y.
- - Trong các đơn vị trực thuộc Cục Y, không có đơn vị nào đăng ký mẫu dấu tròn có nội dung: Bệnh viện G Cục Y.
Đối với các đồ vật, tài liệu thu giữ, gồm:
- + 01 bìa hồ sơ dạy nghề lái xe; 01 biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe ô tô; 01 đơn đề nghị học, sát hạch để cấp giấy phép lái xe; 01 bài thi sát hạch lý thuyết; 01 biên bản sát hạch thực hành lái xe trong hình; 01 biên bản sát hạch thực hành lái xe trên đường; 01 giấy khám sức khỏe của người lái xe; 01 chứng chỉ sơ cấp nghề. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đã đưa vào hồ sơ vụ án.
- + 01 giấy phép lái xe số [...]; 01 túi nilong màu xám bị rách một đầu, bên ngoài có dán giấy của Công ty N1 có tên người gửi là Hoàng A, tên người nhận là Nguyễn Hoàng Tuấn K. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tạm giữ.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen, loại Galaxy A21S thu giữ của Lê Văn H. Đây là điện thoại, H sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B đang tạm giữ.
Cáo trạng số 92/CT-VKBTU ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự. Đánh giá tính chất, mức độ, hậu quả, hành vi phạm tội của Lê Văn H, Kiểm sát viên đề nghị áp dụng tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Đối với bị cáo Lê Văn H, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có trình độ học vấn thấp, hiện nay phải nuôi con nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Văn H từ 02 (Hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (S1) tháng tù.
Xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 46, Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tiếp tục lưu giữ các chứng cứ:
- 01 giấy phép lái xe số [...], tên Nguyễn Hoàng Tuấn K.
- 01 túi nilong màu xám bị rách một đầu, bên ngoài có dán giấy của Công ty N1 có tên người gửi là Hoàng A, tên người nhận là Nguyễn Hoàng Tuấn K
Đề nghị tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Lê Văn H 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen, loại Galaxy A21S, số seri: R58N73FYNMX; IMEI: 351662613584459 (không kiểm tra hoạt động bên trong máy), đây là công cụ phương tiện bị cáo H thực hiện hành vi phạm tội.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn H cho rằng Cáo trạng Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội. Bị cáo nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi; quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện B, tỉnh Bình Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Co quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Văn C, Hoàng Văn T1 vắng mặt; Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự xét xử để xét xử vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vị liên quan nêu trên.
[2] Về nội dung vụ án Hội đồng xét xử xét thấy:
Tháng 9/2022, tại xã T, huyện B, tỉnh Bình Dương, Lê Văn H đã sử dụng mạng xã hội Zalo đặt làm giả 04 tài liệu của cơ quan, tổ chức, gồm: 01 Giấy phép lái xe ô tô hạng B2 giả, 01 Biên bản tổng hợp kết quả sát hạch lái xe ô tô giả, 01 Chứng chỉ sơ cấp nghề giả, 01 Giấy khám sức khỏe của người lái xe giả cho người khác để lấy tiền thì bị người dân phát hiện, tố cáo với Cơ quan Công an.
Như vậy; Cáo trạng số 92/CT-VKBTU ngày 10/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bắc Tân Uyên truy tố bị cáo Lê Văn H về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm c khoản 2 Điều 341 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội; tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của các bị cáo:
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính của Nhà nước, gây mất uy tín của các Cơ quan Nhà nước trong hoạt động quản lý hành chính được pháp luật bảo vệ, đồng thời còn gây mất an ninh, trật tự tại địa phương, bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức là vi phạm pháp luật nhưng vì động cơ tham lam, tư lợi, bị cáo đã thực hiện tội phạm mà không nghĩ đến sự trừng phạt của pháp luật. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án thật nghiêm mới tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm trừng trị, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cũng cần căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để quyết định hình phạt đối với bị cáo cho phù hợp.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo H không có.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bị cáo H trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có trình độ học vấn thấp, hiện nay phải nuôi con nhỏ là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, để bị cáo thấy được chính sách khoan hồng của pháp luật, sớm nhận ra lỗi lầm của mình, an tâm cải tạo trở thành công dân tốt cho xã hội.
Xét thấy, mức án đề nghị của đại diện Viện kiểm sát đối với các bị cáo là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lê Văn H phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức".
- Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:
- - Về hình phạt:
- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự;
- Xử phạt bị cáo Lê Văn H 02 (Hai) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo chấp hành án.
- Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng các Điều 46, Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tiếp tục lưu giữ giấy tờ, tài liệu:
- 01 giấy phép lái xe số [...], tên Nguyễn Hoàng Tuấn K;
- 01 túi nilong màu xám bị rách một đầu, bên ngoài có dán giấy của Công ty N1 có tên người gửi là Hoàng A, tên người nhận là Nguyễn Hoàng Tuấn K.
Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Lê Văn H 01 điện thoại di động hiệu Samsung, màu xanh đen, loại Galaxy A21S, số seri: R58N73FYNMX; IMEI: 351662613584459 (không kiểm tra hoạt động bên trong máy).
(Thể hiện tại Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 17 tháng 10 năm 2024 giữa Công an huyện B, tỉnh Bình Dương với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bắc Tân Uyên, tỉnh Bình Dương).
- Về án phí hình sự sơ thẩm: Áp dụng các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/PL/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án buộc bị cáo Lê Văn H phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án
trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết công khai.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Tiến Lợi |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG về hình sự sơ thẩm về tội làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BẮC TÂN UYÊN, TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Làm giả tài liệu - Lê Văn H
