|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST
Ngày 11/7/2024
Về việc: “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phan Văn Thể
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Vũ Ngọc Côn
2. Ông Trần Đăng Thanh
Thư ký phiên toà: Ông Vũ Hữu Thơ - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Ngạn tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Khắc Tú - Kiểm sát viên.
Ngày 11/7/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn mở phiên toà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 95/2024/TLST-HNGĐ ngày 01/3/2024 việc “Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 18/6/2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Anh Trần Văn T năm 1982 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang
Bị đơn: Chị Lê Thị T1 năm 1983 (Vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, nguyên đơn anh Trần Văn T2 trình bày:
Anh và chị Lê Thị T3 hôn với nhau vào năm 2000. Trước khi cưới anh chị có được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Tuy nhiên anh chị không đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã có thẩm quyền. Sau ngày cưới anh chị về chung sống với nhau ngay tại thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hạnh phúc.
Đến năm 2021 thì nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Gia đình họ hàng hai bên cũng đã hoà giải cho hai vợ chồng nhưng không thành. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay không còn gọi điện hỏi thăm nhau gì nữa. Nay xét thấy mục đích của hôn nhân không đạt được nữa, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, anh đề nghị Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với chị Lê Thị T4 theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Anh và chị Lê Thị T5 03 con chung là Trần Kim T2sinh ngày 02/10/2001; Trần Thị Mỹ D ngày 07/01/2008 và Trần Tuấn A ngày 02/01/2009. Sau khi ly hôn anh có nguyện vọng như sau: Do cháu Trần Kim T6 trưởng thành đủ 18 tuổi nên anh không đề nghị Toà án giải quyết. Còn đối với cháu Trần Thị Mỹ D1 Trần Tuấn A1 có nguyện vọng để chị Lê Thị T7 dưỡng cả 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung: Anh và chị Lê Thị T8 thoả thuận, anh không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Anh không đề nghị Toà án giải quyết.
* Tại bản tự khai, bị đơn chị Lê Thị T4 trình bày:
Chị và anh Trần Văn T9 hôn với nhau vào năm 2000. Trước khi cưới anh chị được tìm hiểu trên cơ sở tự nguyện, không ai ép buộc, được hai bên gia đình tổ chức cưới theo phong tục địa phương. Tuy nhiên anh chị không đăng ký kết hôn tại uỷ ban nhân dân xã có thẩm quyền. Sau ngày cưới anh chị về chung sống với nhau ngay tại thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Tình cảm vợ chồng ban đầu hạnh phúc.
Đến năm 2021 thì vợ chồng nảy sinh mâu thuẫn, nguyên nhân mâu thuẫn do hai vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung, thường xuyên cãi vã. Gia đình họ hàng hai bên cũng đã hoà giải cho hai vợ chồng nhưng không thành. Vợ chồng anh chị đã ly thân từ đầu năm 2024 đến nay không còn gọi điện hỏi thăm nhau gì nữa. Nay xét thấy mục đích của hôn nhân không đạt được nữa, cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục, mục đích hôn nhân không đạt được, nay anh T10 kiện ly hôn chị chị hoàn toàn đồng ý và đề nghị Toà án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về con chung: Chị và anh Trần Văn T11 03 con chung là Trần Kim T2sinh ngày 02/10/2001; Trần Thị Mỹ D ngày 07/01/2008 và Trần Tuấn A ngày 02/01/2009. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng như sau: Do cháu Trần Kim T6 trưởng thành đủ 18 tuổi nên chị không đề nghị Toà án giải quyết. Còn đối với cháu Trần Thị Mỹ D1 Trần Tuấn A2 c có nguyện vọng được nuôi dưỡng cả 02 con chung. Cấp dưỡng nuôi con chung: Chị và anh Trần Văn T12 thoả thuận, tôi không đề nghị Toà án giải quyết.
Về tài sản chung, công nợ: Chị không đề nghị Toà án giải quyết.
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/5/2024, cháu Trần Thị Mỹ D2 bày:
Cháu là con chung của bố Trần Văn T13 mẹ Lê Thị T1 cháu được biết bố mẹ cháu đang làm thủ tục ly hôn tại Toà án, cháu muốn bố mẹ cháu về đoàn tụ để nuôi dậy chị em cháu, tuy nhiên nếu bố mẹ cháu kiên quyết ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ là Lê Thị T4
* Tại biên bản lấy lời khai ngày 20/5/2024, cháu Trần Tuấn A3 trình bày:
Cháu là con chung của bố Trần Văn T13 mẹ Lê Thị T1 cháu được biết bố mẹ cháu đang làm thủ tục ly hôn tại Toà án, cháu muốn bố mẹ cháu về đoàn tụ để nuôi dậy chị em cháu, tuy nhiên nếu bố mẹ cháu kiên quyết ly hôn cháu có nguyện vọng ở với mẹ là Lê Thị T4
* Tại biên bản xác minh ngày 20/5/2024, ông Hỷ Văn N chủ tịch Ủy ban nhân dân xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang cung cấp:
Anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T14 phương tra cứu thông tin tại sổ sách và dữ liệu thì thấy anh T15 T1 không đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã. Tuy nhiên, anh T15 T1 có chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2000. Địa phương có phổ biến và tuyên truyền cho các hộ dân chưa đăng ký kết hôn nhưng sống chung như vợ chồng đi đăng ký kết hôn nhưng anh T15 T1 không đăng ký kết hôn.
Tại phiên tòa sơ thẩm: Anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T16 vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, Hội đồng xét xử tóm tắt nội dung vụ án, công bố các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của các đương sự. Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, xác định đúng thẩm quyền, quan hệ pháp luật, thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng nguyên tắc, trình tự tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 71 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chấp hành đúng các quy định về quyền nghĩa vụ của mình quy định tại Điều 70, 72 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án, Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào các Điều 9; Điều 14; Điều 51; Điều 53; Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238; khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn T2: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T4.
- Về con chung: Giao cho chị Lê Thị T4 nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Mỹ D ngày 07/01/2008 và Trần Tuấn A ngày 02/01/2009. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét vì đường sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn anh Trần Văn T2 được quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản anh Trần Văn T2 thực hiện quyền này.
- Về án phí: Anh Trần Văn T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006000 ngày 28/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật, thẩm quyền giải quyết vụ án: Anh Trần Văn T17 kiện yêu cầu Toà án nhân dân huyện Lục Ngạn giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con với chị Lê Thị T4, chị Lê Thị T4 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại thôn B, xã Q, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 28, Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, xác định đây là quan hệ tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[2] Về sự vắng mặt của đương sự: Anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T4 đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T4 theo quy định tại Điều 227, Điều 228 và Điều 238 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì thấy:
[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T4 chung sống như vợ chồng trên cơ sở có tìm hiểu, tự nguyện, có tổ chức cưới hỏi theo phong tục truyền thống địa phương từ năm 2000 nhưng không đăng ký kết hôn tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và Gia đình. Như vậy quan hệ giữa anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T4 không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ giữa vợ và chồng theo quy định tại khoản 1, Điều 14 Luật Hôn nhân và Gia đình.
Nay cả anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T16 xác định cuộc sống chung có mâu thuẫn trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, đã tìm cách hòa giải nhưng không có kết quả, tình cảm không còn, không đoàn tụ được, anh Trần Văn T18 nghị Toà án căn cứ quy định của pháp luật giải quyết không công nhận quan hệ vợ chồng với chị Lê Thị T4. Căn cứ quy định tại Điều 14 và khoản 2, Điều 53 Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T4.
[3.2] Về con chung: Anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T5 03 con chung là Trần Kim T2sinh ngày 02/10/2001; Trần Thị Mỹ D ngày 07/01/2008 và Trần Tuấn A ngày 02/01/2009. Hiện nay, anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T4 đều thống nhất do cháu Trần Kim T2sinh ngày 02/10/2001 đã trưởng thành đủ 18 tuổi nên anh chị không đề nghị Toà án giải quyết, con đối với cháu Trần Thị Mỹ D3, sinh ngày 07/01/2008 và Trần Tuấn A ngày 02/01/2009 anh chị đều thoả thuận để chị Lê Thị T4 là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hội đồng xét xử xét thấy hiện Trần Kim T19 đã trưởng thành đủ 18 tuổi, anh chị đều không đề nghị Toà án giải quyết nên không đặt ra xem xét, còn đối với Trần Thị Mỹ D ngày 07/01/2008 và Trần Tuấn A ngày 02/01/2009 hiện các con chung đang ở với chị Lê Thị T20 cháu vẫn khoẻ mạnh phát triển bình thường, anh T15 T1 đều thống nhất việc nuôi con chung. Hơn nữa cháu Trần Mỹ D3 và Trần Tuấn A3 đều có nguyện vọng được ở với mẹ là Lê Thị T21 đó cần giao cho chị Lê Thị T4 trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Trần Mỹ D ngày 07/01/2008 và Trần Tuấn A ngày 02/01/2009 là phù hợp với quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình. Việc cấp dưỡng nuôi con chung do anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T22 yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[3.3] Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T4 đều xác định không có và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét, giải quyết.
[4] Về án phí: Căn cứ khoản 4, Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 6, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc anh Trần Văn T2 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006000 ngày 28/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
[5] Về quyền kháng cáo: Các đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 271; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 9; Điều 14; Điều 51; khoản 2, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 28, Điều 35, Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 238, khoản 4 Điều 147, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử:
- Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Văn T2: Không công nhận quan hệ vợ chồng giữa anh Trần Văn T13 chị Lê Thị T4.
- Về con chung: Giao cho chị Lê Thị T4 nuôi dưỡng con chung là Trần Thị Mỹ D ngày 07/01/2008 và Trần Tuấn A ngày 02/01/2009. Việc cấp dưỡng nuôi con chung không đặt ra xem xét vì đường sự không yêu cầu. Sau khi ly hôn anh Trần Văn T2 được quyền thăm nom con chung không ai được ngăn cản anh Trần Văn T2 thực hiện quyền này.
- Về án phí: Anh Trần Văn T23 chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng đã nộp theo biên lai thu số 0006000 ngày 28/02/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Ngạn, tỉnh Bắc Giang.
- Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt hoặc niêm yết bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ (Đã ký) Phan Văn Thể |
Bản án số 88/2024/HNGĐ-ST ngày 11/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG về không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 88/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Không công nhận quan hệ vợ chồng, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 11/07/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NGẠN, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T và T ly không công nhận quan hệ vợ chồng, con chung
