Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỘI AN

TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/DS-ST

Ngày 10 – 7 - 2024

V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng và

hợp đồng thế chấp

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

  • 1/ Bà Nguyễn Thị Thu Hiền ;
  • 2/ Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Chấn Hưng – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Bông - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 7 năm 2024 tại Hội trường Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 197/2023/TLST - DS, ngày 27 tháng 11 năm 2023, về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp” và Thông báo thụ lý vụ án bổ sung số: 10/TB-TLVA ngày 09 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2024/QĐXXST-DS ngày 13 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần P; Địa chỉ: Số D L, phường B, quận A, thành phố Hồ Chí Minh; người đại diện theo pháp luật: ông Trịnh Văn T – Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Ông Trịnh Văn T ủy quyền cho ông Đỗ Thành Q – Chức vụ: Giám đốc Phòng G; Địa chỉ: Số E H, thành phố H, tỉnh Quảng Nam (giấy ủy quyền số 16/2023/UQ-CT.HĐQT ngày 14/3/2023 của Chủ tịch HĐQT ngân hàng TMCP P).

Ông Đỗ Thành Q ủy quyền cho ông Huỳnh Bá Lê H, chức vụ: Trưởng nhóm THN; Địa chỉ: Số C Q, quận H, thành phố Đà Nẵng và ông Nguyễn Công K, chức vụ: Chuyên viên THN; Địa chỉ: Lô D Đường N nối dài, Khu T, thành phố T, tỉnh Quảng Nam (giấy ủy quyền số 19/2024/UQ –OCB ngày 20/6/2024 – ông K có mặt)

- Bị đơn: Ông Lê B, sinh năm: 1981; bà Nguyễn Thị H1, sinh năm: 1983; ông Lê B1, sinh năm: 1982; bà Trần Thị L, sinh năm: 1992 (có mặt);

Cùng địa chỉ: Tổ B, khối N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, do ông Nguyễn Công K là đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng thương mại cổ phần P (O) trình bày:

Ngân hàng TMCP P (sau đây gọi tắt là Ngân hàng) với ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L đã ký Hợp đồng tín dụng số MERGEFIELD "Số_ngày HĐTD" 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018 đồng 5401/2018/PHA/HĐTD). Theo Hợp đồng tín dụng này Ngân hàng đồng ý cho ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L vay số tiền là 300.000.000 đồng (Ba trăm triệu đồng) với lãi suất được quy định cụ thể tại Hợp đồng tín dụng trên. Vào ngày 30/05/2018, Ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L đã ký giấy nhận nợ và nhận số tiền trên tại Ngân hàng.

Ngoài ra, ông Lê B còn ký Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD – THẺ - TTBL ngày 01/7/2018 (Hợp đồng 62/2018/HĐTD) để vay tại ngân hàng P ngày số tiền là 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng).

Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là bất động sản tại: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tọa lạc tại Thửa 19, tờ bản đồ số 54, Khối N, Phường T, Tp ., tỉnh Quảng NamGiấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 467042, số vào sổ cấp GCN: CS03102 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 30/11/2017, cập nhật thay đổi chủ sở hữu/ sử dụng ngày 12/04/2018 Tài sản bảo đảm đã được công chứng thế chấp theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 5401/2018/PHA/HĐTC ngày 30/05/2018 Văn phòng C, tỉnh Quảng Nam đã được đăng ký thế chấp theo quy định của pháp luật.

Từ thời điểm nhận nợ cho đến nay ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L đã liên tiếp vi phạm các kỳ trả nợ cho Ngân hàng, mặc dù ngân hàng đã nhiều lần tạo điều kiện cho ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L trả nợ đúng kỳ hạn nhưng vẫn không thực hiện. Các khoản vay này Ngân hàng chưa bán nợ cho Công ty Q1 của các tổ chức tín dụng Việt Nam (VAMC). Do ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L đã vi phạm các điều khoản được quy định tại các Hợp đồng tín dụng nêu trên không có thiện chí hợp tác với Ngân hàng yêu càu ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P chúng tôi, cụ thể:

Buộc ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L phải trả ngay toàn bộ nợ vay cho Ngân hàng TMCP P theo Hợp đồng 5401/2018/PHA/HĐTD với tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/07/2024 là: Nợ gốc: 125.717.071 đồng, nợ lãi: 33.804.728 đồng và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 09/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Buộc ông Lê B và ông Lê B1 có nghĩa trả ngay toàn nợ vay đối với Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An ngày 01/07/2018 với tổng số tiền tạm tính đến ngày 08/07/2024 tổng cộng số tiền là: 109,771,010 đồng; trong đó: Nợ gốc: 6,421,438 đồng, nợ lãi: 45,876,699 đồng, phí: 57,472,873 đồng và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 09/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.

Trường hợp Ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng TMCP P đối với các hợp đồng trên, đề nghị Tòa án cho phát mãi tài sản mà ông Lê B, ông Lê B1 đã thế chấp tại Ngân hàng TMCP P theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 5401/2018/PHA/HĐTC ngày 30/05/2018 Ngân hàng TMCP P thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L tại Ngân hàng TMCP P đối với Hợp đồng 5401/2018/PHA/HĐTD và Hợp đồng 62/2018/HĐTD. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết mọi khoản nợ thì ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.

Tại bản trình bày các lời khai và tại phiên tòa bị đơn ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L trình bày:

Ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L thống nhất đã ký Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018 vay số tiền là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) với lãi suất được quy định cụ thể tại Hợp đồng tín dụng trên và đã nhận đủ số tiền trên. Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là bất động sản là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tọa lạc tại thửa 19, tờ bản đồ số 54, Khối N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 467042, số vào sổ cấp GCN: CS03102 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 30/11/2017, cập nhật thay đổi chủ sở hữu/ sử dụng ngày 12/04/2018

Vào ngày 30/05/2018, ông Lê B còn ký Hợp đồng 62/2018/HĐTD để vay ngân hàng P – PGD Hội An số tiền khoảng 7.000.000 đồng nhưng ông Lê B không hiểu lý do vì sao ngân hàng tính lãi lên cao.

Tại phiên tòa, ông Lê B1 không đồng ý trả khoản nợ của ông Lê B theo Hợp đồng 62/2018/HĐTD và không đồng ý trong trường hợp ông Lê B không trả được khoản nợ theo Hợp đồng 62/2018/HĐTD thì ngân hàng xử lý tài sản thế chấp là Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tọa lạc tại thửa 19, tờ bản đồ số 54, khối N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam Vì lý do, ông Lê B tự ý ký hợp đồng tín dụng thẻ ông Lê B1 không biết và ông Lê B1 không được Ngân hàng thông báo về việc này.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:

Về tố tụng:

Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án cho đến nay, Thẩm phán, Thư ký và Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn được pháp luật quy định, đã tạo điều kiện cho các bên đương sự thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ của mình; đương sự chấp hành chưa nghiêm các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 275, Điều 280, Điều 299, Điều 303 Điều 307, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 323, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp” của Ngân hàng TMCP P (OCB) đối với ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L.
  2. Buộc: ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P (OCB) theo Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.
  3. Trường hợp ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018, Ngân hàng có quyền yêu cầu phát mãi tài sản mà ông ông Lê B, ông Lê B1 đã thế chấp tại Ngân hàng TMCP P theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số MERGEFIELD "Số_ngày_HĐBĐ" 5401/2018/PHA/HĐTC ngày 30/05/2018 Ngân hàng thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L đối với Ngân hàng, nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết mọi khoản nợ thì ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.

Buộc ông Lê B có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P (O) theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An ngày 01/07/2018 cho đến khi thanh toán xong khoản nợ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu và chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Đây là vụ án dân sự giữa nguyên đơn Ngân hàng TMCP P (O) và bị đơn ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; bị đơn có nơi đăng ký thường trú tại phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2]. Về nội dung vụ án:

[2.1] Về hợp đồng tín dụng:

Ngân hàng TMCP P với ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L đã ký Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018, vay số tiền là 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng), mục đích vay vốn: vay tiêu dùng, lãi suất được quy định cụ thể tại các Hợp đồng tín dụng trên. Ngân hàng đã giải ngân cho ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L số tiền 300.000.000 đồng theo Khế ước nhận nợ ngày 30/5/2018.

Quá trình thực hiện hợp đồng, ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L đã trả được: Tiền gốc: 174.282.929 đồng, lãi: 122.549.673 đồng; ngày 05/02/2024, ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L vi phạm nghĩa vụ trả nợ đối với Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018.

Ngân hàng TMCP P với ông Lê B đã ký Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An ngày 01/07/2018 để vay số tiền 10.000.000 đồng; đến ngày 15/01/2020 ông Lê B bắt đầu sử dụng thẻ và rút số tiền là 7.051.084 đồng và ngày vi phạm nghĩa vụ trả nợ là 09/02/2020. Tại phiên tòa hôm ngay, Ngân hàng yêu cầu ông Lê B và ông Lê B1 phải có nghĩa vụ trả tiền vay theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL số tiền tổng cộng là: 109.771.010 đồng; trong đó: Nợ gốc: 6.421.438 đồng, nợ lãi: 45.876.699 đồng, phí: 57.472.873 đồng và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 09/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ

Bị đơn ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L chỉ đồng ý trả tiền vay theo Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018; đối với Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An ngày 01/07/2018 thì ông Lê B1 không đồng ý với lý do đây là khoản vay của cá nhân ông Lê B nên ông Lê Bàn t chịu trách nhiệm trả và ông Lê B1 không biết về khoản vay này.

HĐXX, xét thấy:

Đối với Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018, khế ước nhận nợ đều có nội dụng thỏa thuận về mục đích vay vốn, lãi suất cho vay, phương thức tính lãi vay do các bên tự nguyện xác lập và phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Các tổ chức tín dụng. Do đó, Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018 là hợp đồng hợp pháp, buộc ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ thực hiện.

Đối với Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An ngày 01/07/2018 cá nhân ông Lê B vay và đứng tên chủ thẻ theo Giấy đăng ký sử dụng thẻ tín dụng kiêm hợp đồng; trong giấy đăng ký sử dụng thẻ thể thể hiện nội dụng thỏa thuận về mục đích vay vốn, lãi suất cho vay, phương thức tính lãi vay do các bên tự nguyện xác lập và phù hợp với các quy định của Bộ luật dân sự năm 2015, Luật Các tổ chức tín dụng. Ông Lê B1 không ký vào hợp đồng thẻ, ông B1 không biết và không được Ngân hàng thông báo hợp đồng thẻ tín dụng do ông Lê Bàn k, do đó không đủ căn cứ buộc ông Lê B1 phải có nghĩa vụ trả số tiền vay theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An. Do đó, buộc ông Lê B có nghĩa vụ trả nợ Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An là có căn cứ.

[2.2] Về hợp đồng thế chấp:

Ông Lê B và ông Lê B1 có ký Hợp đồng thế chấp tài sản số MERGEFIELD "Số_ngày_HĐBĐ" 5401/2018/PHA/HĐTC ngày 30/05/2018 Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là bất động sản tại: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tọa lạc tại thửa 19, tờ bản đồ số 54, khối N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 467042, số vào sổ cấp GCN: CS03102 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 30/11/2017, cập nhật thay đổi chủ sở hữu/ sử dụng ngày 12/04/2018

Căn cứ vào các Điều 299, Điều 303 Điều 307, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015. Hội đồng xét xử xét thấy, các bên ký kết Hợp đồng thế chấp đều có đủ năng lực hành vi dân sự, tự nguyện không bị cưỡng ép, nội dung giao dịch không vi phạm điều cấm, không trái đạo đức xã hội. Do đó, trường hợp ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng, yêu cầu phát mãi tài sản thế theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 5401/2018/PHA/HĐTC ngày 30/05/2018 để Ngân hàng thu hồi nợ. Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L đối với Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018 Ngân hàng TMCP P theo. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết mọi khoản nợ thì ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.

Riêng đối với Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An ngày 01/07/2018 do cá nhân ông Lê B vay và hình thức bảo đảm là tín chấp. Tài sản thế chấp Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tọa lạc tại thửa 19, tờ bản đồ số 54, Khối N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Lê B1 và ông Lê B; do đó không đủ căn cứ trong trường hợp ông Lê B không trả nợ hoặc trả nợ không đầy đủ cho Ngân hàng, yêu cầu phát mãi tài sản thế theo Hợp đồng thế chấp tài sản số 5401/2018/PHA/HĐTC ngày 30/05/2018 Ngân hàng thu hồi nợ tại Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An.

[2.3] Từ những nhận định trên, xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

[3] Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L phải chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ đối với tài sản thế chấp là 1.000.000₫ (một triệu đồng). Do Ngân hàng TMCP P (O) đã nộp đủ, ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng số tiền 1.000.000₫ (một triệu đồng) cho Ngân hàng TMCP P.

[4] Về án phí: Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận nên bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn phải chịu án phí đối với yêu cầu không được chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 157, Điều 158 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015; Điều 275, Điều 280, Điều 299, Điều 303 Điều 307, Điều 317, Điều 318, Điều 319, Điều 320, Điều 321, Điều 323, Điều 325, Điều 463, Điều 466 và Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, Điều 95 Luật Các tổ chức tín dụng; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Xử:

Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về việc “Tranh chấp Hợp đồng tín dụng và Hợp đồng thế chấp” của Ngân hàng TMCP P (OCB) đối với ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L.

  1. Buộc ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P (OCB) theo Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018 với số tiền tính đến ngày 08/7/2024 tổng cộng số tiền là: 159.521.799 đồng (một trăm năm mươi chín triệu năm trăm hai mươi mốt nghìn bảy trăm chín mươi chín đồng); trong đó: Nợ gốc: 125.717.071 đồng, nợ lãi: 33.804.728 đồng và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 09/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
  2. Ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L không trả được nợ, hoặc trả không đủ thì Ngân hàng TMCP P có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án phát phát mãi tài sản thế chấp Hợp đồng thế chấp tài sản số MERGEFIELD "SỐ_ngày_HĐBĐ" 5401/2018/PHA/HĐTC ngày 30/05/2018 Tài sản đảm bảo cho khoản vay trên là: Quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở tọa lạc tại thửa 19, tờ bản đồ số 54, khối N, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam Giấy chứng nhận Quyền sử dụng đất, Quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 467042, số vào sổ cấp GCN: CS03102 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Q cấp ngày 30/11/2017, cập nhật thay đổi chủ sở hữu/ sử dụng ngày 12/04/2018 Toàn bộ số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ của ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L đối với Ngân hàng TMCP P theo Hợp đồng tín dụng số 5401/2018/PHA/HĐTD ngày 30/05/2018. Nếu số tiền thu được từ việc bán/xử lý tài sản bảo đảm không đủ thanh toán hết mọi khoản nợ thì ông ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ.
  3. Buộc ông Lê B có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng TMCP P (O) theo Hợp đồng thẻ tín dụng số 62/2018/HĐTD - THẺ - TTBL Hội An ngày 01/07/2018 số tiền tính đến ngày 08/7/2024 tổng cộng số tiền là: 109.771.010 đồng; trong đó: Nợ gốc: 6.421.438 đồng, nợ lãi: 45.876.699 đồng, phí: 57.472.873 đồng và tiếp tục trả lãi kể từ ngày 09/7/2024 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ.
  4. Về chi phí tố tụng: Bị đơn ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L phải có nghĩa vụ trả lại cho Ngân hàng số tiền 1.000.000đ (một triệu đồng) tiền chi phí xem xét thẩm định tại chỗ.
  5. Về án phí:
    • Ông Lê B, bà Nguyễn Thị H1, ông Lê B1 và bà Trần Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 7.976.000 đồng (bảy triệu chín trăm bảy mươi sáu nghìn đồng).
    • Ông Lê B phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 5.488.500 đồng (năm triệu bốn trăm tám mươi tám nghìn năm trăm đồng).
    • Ngân hàng TMCP P (O) chịu án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đối với yêu cầu không được chấp nhận nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 4.575.321 đồng (bốn triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn ba trăm hai mươi mốt đồng) theo Biên lai thu số 0018805 ngày 27/11/2023 và 2.548.000 đồng (hai triệu năm trăm bốn mươi tám nghìn đồng) theo Biên lai thu số 0018941 ngày 08/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.
    • Hoàn trả cho Ngân hàng TMCP P (O) số tiền chênh lệch là 6.823.321 đồng (sáu triệu tám trăm hai mươi nghìn ba trăm hai mốt đồng).

Đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Nơi nhận:

  • - Toà án tỉnh Quảng Nam;
  • - VKSND Tp Hội An;
  • - Chi cục THADS Tp Hội An;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Ngọc H

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/DS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp

  • Số bản án: 88/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng và hợp đồng thế chấp
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 10/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vay
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger