|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2024/HNGĐ -ST
Ngày: 07/6/2024
(V/v Tranh chấp ly hôn)
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thạch Thị Ngọc Bích
Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Minh Hoàng và bà Đỗ Kim Phụng
Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị An – Thư ký Tòa án nhân dân huyện ĐH, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa: Ông Lê Quốc Huy - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 6 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đ H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 183/2024/TLST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2024 về việc “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 85/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 21 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Bão X, sinh năm 1998
- Bị đơn: Anh Nguyễn Duy L, sinh năm 1989
Địa chỉ: ấp 1, thị trấn Gành H, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu
Địa chỉ: ấp 1, thị trấn Gành H, huyện Đ H, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị X và anh L có đơn xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo đơn khởi kiện ngày 28/3/2024, lời khai trong quá trình tố tụng, chị Nguyễn Thị Bão X và anh Nguyễn Duy L trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Anh chị chung sống với nhau vào năm 2015, hôn nhân tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gành H, huyện Đ H và đã được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật.
Nguyên nhân ly hôn: Trong thời gian chung sống vợ chồng thường xuyên mâu thuẫn, cải vả do bất đồng quan điểm sống nên cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng đã sống ly thân khoảng 06 - 07 tháng nay không còn quan tâm nhau, cũng không còn biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng. Nay anh chị xác định vợ chồng không còn khả năng hàn gắn với nhau cũng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên Chị X yêu cầu ly hôn, anh L cũng đồng ý.
Về con chung: Chị X và anh L thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Bảo Tr, sinh năm 27/01/2016. Hiện nay đang sống chung với anh L. Khi ly hôn Chị X và anh L thỏa thuận giao con chung cho anh L nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị X và anh L không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị X và anh L thống nhất xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ H tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và của nguyên đơn, bị đơn là đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Chị X và anh L kết hôn hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Nhưng do thời gian chung sống anh chị phát sinh nhiều mâu thuẫn không hàn gắn được. Chị X và anh L xác định vợ chồng không thể tiếp tục chung sống với nhau nên thống nhất ly hôn, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật Hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn giữa Chị X và anh L .
Về con chung: Chị X và anh L thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Bảo Tr, sinh năm 27/01/2016. Hiện nay đang sống chung
với anh L. Khi ly hôn Chị X và anh L thỏa thuận giao con chung cho anh L nuôi dưỡng, cháu Tr có nguyện vọng sống với anh L nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về cấp dưỡng: Chị X và anh L không đặt ra.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị X và anh L thống nhất xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không yêu cầu xem xét giải quyết.
Về án phí hôn nhân gia đình: Chị X phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và trên cơ sở phát biểu của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy:
[1] Về thủ tục tố tụng: Chị Nguyễn Thị Bão X có đơn khởi kiện yêu cầu giải quyết về việc tranh chấp ly hôn với anh Nguyễn Duy L. Anh L có địa chỉ cư trú tại huyện Đ H. Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Đông Hải.
Chị X và anh L có đơn yêu cầu được vắng mặt tại phiên tòa xét xử sơ thẩm. Căn cứ khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung vụ án: Chị X và anh L chung sống với nhau vào năm 2015, hôn nhân hoàn toàn tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật, đã được Ủy ban nhân dân thị trấn Gành H và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên hôn nhân của anh chị là hợp pháp.
Xét yêu cầu ly hôn của Chị X và anh L, Hội đồng xét xử thấy rằng mục đích của hôn nhân là để tạo dựng một gia đình hạnh phúc, vợ chồng phải biết yêu thương, quý trọng, chăm sóc nhau, giúp đỡ nhau trong cuộc sống. Nhưng trong thời gian chung sống anh chị xãy ra mâu thuẫn, bất đồng trong cuộc sống nên vợ chồng không còn hành phúc, hiện nay anh chị không còn quan tâm nhau cũng không tìm được biện pháp hàn gắn cuộc sống vợ chồng nên Chị X yêu cầu ly hôn,
anh L cũng đồng ý. Hội đồng xét xử căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đình công nhận thuận tình ly hôn của anh chị.
Về con chung: Chị X và anh L thống nhất xác định anh chị có 01 người con chung tên Nguyễn Thị Bảo Tr, sinh năm 27/01/2016. Hiện nay đang sống chung với anh L. Khi ly hôn Chị X và anh L thỏa thuận giao con chung cho anh L nuôi dưỡng, cháu Trân có nguyện vọng sống với anh L nên Hội đồng xét xử ghi nhận, tiếp tục giao cháu Trân cho anh L nuôi dưỡng.
Về cấp dưỡng: Chị X và anh L không đặt ra nên không xem xét.
Về tài sản chung: Chị X và anh L thống nhất xác định anh chị không có tài sản chung và không có nợ chung nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm Chị X phải nộp theo quy định của pháp luật.
Quan điểm của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa là phù hợp, được Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận.
Vì các lẽ nêu trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 228, Điều 238 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Căn cứ vào các Điều 51, 55, 58, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Về quan hệ hôn nhân: Công nhận thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị Bão X và anh Nguyễn Duy L.
- Về con chung: Giao con chung tên Nguyễn Thị Bảo Tr, sinh năm 27/01/2016 cho anh Nguyễn Duy L nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
- Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét giải quyết
Chị Nguyễn Thị Bão X có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung không ai được quyền cản trở.
- Về tài sản chung và nợ chung: Không có.
- Về án phí: Chị Nguyễn Thị Bão X phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm 300.000 đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0010141 ngày 04 tháng 04 năm 2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đ H.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho chị Nguyễn Thị Bão X và anh Nguyễn Duy L được biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Thị Ngọc Bích |
Bản án số 88/2024/HNGĐ -ST ngày 07/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 88/2024/HNGĐ -ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 07/06/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ H - TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chị Nguyễn Thị Bão Xuyên yêu cầu ly hôn với anh Nguyễn Duy Linh
