|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 88/2023/HSST Ngày: 06/12/2023 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Minh Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Quốc Thái
Bà Trần Thanh Thuỷ
- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Trung Tín - Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa:
Bà Hoàng Thúy Hằng - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2023/TLST-HS ngày 08 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2023/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 11 năm 2023, đối với:
Bị cáo: Trần Ngọc H, sinh năm 2003 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; Thường trú: D ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông Trần Văn S (sinh năm 1962) và bà Lê Thị Minh G (sinh năm 1966); là con út trong gia định có 06 chị em; chưa có vợ, con. Tiền án, tiền sự: không.
Bị bắt ngày 22/6/2023, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B. (có mặt)
- * Người bào chữa: Luật sư Huỳnh Ngọc H1, Văn phòng luật sư Huỳnh Ngọc H1, Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt).
- * Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- + Ông Trần Minh T, sinh năm 1992. Địa chỉ: tổ F, ấp P, xã T, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (vắng mặt)
- + Bà Lê Thị Minh G, sinh năm 1966. Địa chỉ: D ấp A, xã A, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
1. Theo hồ sơ vụ án và theo diễn biến tại phiên tòa thì nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 02h00' ngày 22/6/2023, tại khu phố L, thị trấn L, huyện L, tổ tuần tra Công an tỉnh B và Công an thị trấn L phát hiện, bắt quả tang Trần Ngọc H chuẩn bị bán 01 gói ma túy dạng đá giá 700.000 đồng cho Trần Minh T (sinh năm 1992, thường trú: Tổ F, ấp P, xã T, huyện L), tịch thu toàn bộ tang vật (BL 101- 135) gồm:
Thu giữ từ Trần Ngọc H:
- 73 (bảy mươi ba) gói ma túy đá, tổng khối lượng giám định là 55,2139 gam.
- 01 (một) khẩu súng dạng Rulo (đã có kết luận giám định là vũ khí quân dụng), 03 (ba) viên đạn thể thao (không phải là vũ khí quân dụng)
- 01 (một) hũ nhựa hình trụ tròn, nắp đen, thân quấn băng keo màu trắng.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 màu xám đen, IMEI 1: 353220824189978, IMEI 2: 353319904189971.
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia TA-1034 màu đen, IMEI 1: 359007094457225, IMEI 2: 359007094457224.
- 03 (ba) ống thủy tinh, 01 (một) ống hút bằng nhựa.
- 02 (hai) sợi dây bằng kim loại màu vàng.
- 1.400.000 đồng (một triệu bốn trăm ngàn đồng).
Thu giữ từ Trần Minh T:
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02s màu xanh đen, IMEI 1: 351864454655873/01, IMEI2: 355795644655876/01.
- 700.000 đồng (bảy trăm ngàn đồng).
Quá trình điều tra Trần Ngọc H khai nhận: bắt đầu sử dụng ma túy đá từ khoảng đầu tháng 6/2023 cùng với Trần Minh T và T1 (cả hai đều chưa rõ nhân thân, lai lịch), được T cho bộ D sử dụng ma túy đá là các ống thủy tinh, ống nhựa và một ít ma túy đá còn dư. Ngày 15/6/2023, T1 hỏi mua lại số ma túy đá còn dư H được T cho với giá 200.000 đồng. H đồng ý và giao nhận tiền, ma túy với T1 tại khu vực gần Trung tâm y tế huyện L, đã tiêu xài hết tiền nhận từ T1. (BL124-126,129-130)
Sau đó, H nảy sinh ý định tìm mua ma túy đá, chia nhỏ bán cho những người làm thuê chung để kiếm lời. Qua T giới thiệu, H mua ma túy đá từ một người tên Út H2 (chưa rõ nhân thân, lai lịch), cụ thể: khoảng 19h00' ngày 20/6/2023, H mang theo 28.000.000 đồng tiền mặt, cân tiểu ly, hộp 80 túi zip và các dụng cụ sử dụng ma túy đá đã mua trước đó, đi xe máy từ nhà đến khu vực vòng xoay M gặp Út H2 mua khoảng hơn 50 gam ma túy đá giá 28.000.000 đồng, thuê phòng tại một nhà nghỉ ở thành phố B (không rõ địa chỉ), lấy một ít ma túy ra sử dụng, cân số ma túy đá còn lại được 51,26 gam, đổ chúng với phần ma tuý còn lại, phân chia, đóng gói vào các túi zip mang theo; lấy bút bi ghi chép lên một tấm bìa cứng nội dung tính toán, dự định sẽ phân chia hơn 50 gam ma túy đá thành 4 gói loại 5 gam/gói, 8 gói loại 2,5 gam/gói, 6 gói loại 1,4 gam/gói, 22 gói loại 0,5 gam/gói, 15 gói loại 0,4 gam/gói, 12 gói loại 0,3 gam/gói. Tổng cộng, H đã phân chia hơn 55 gam ma túy đá thành 74 gói với các loại khối lượng khác nhau; dự định bán từ 550.000 đồng/gam - 1.000.000 đồng/gam tùy theo người mua nhiều hay ít, cụ thể như sau: 5.500.000 đồng/gói 10 gam (tương ứng 550.000 đồng/gam), 1.500.000 đồng/gói gói 2,5 gam (tương ứng 600.000 đồng/gam), 1.000.000 đồng/gói 1,2 gam (tương ứng khoảng 833.000 đồng/gam), 500.000 đồng/gói 0,5 gam (tương ứng 1.000.000 đồng/gam), 400.000 đồng/gói 0,4 gam (tương ứng 1.000.000 đồng/gam), 300.000 đồng/gói 0,3 gam (tương ứng 1.000.000 đồng/gam). Sau đó, H đổ hết ngũ cốc chứa trong hũ nhựa trong suốt đã chuẩn bị sẵn, quấn băng keo trắng quanh hũ, bỏ 74 gói ma túy đá đã phân chia cùng các ống thủy tinh, ống nhựa dùng để sử dụng ma túy vào trong hũ, giấu hũ nhựa trên ở một bãi rác gần nhà trên đường về. (BL 121-133).
Sáng ngày 21/6/2023, H đi uống cà phê gặp Trần Minh T. T hỏi H có ma túy đá không, bán cho T một ít. H đáp có. T hẹn về chuẩn bị tiền, đến tối nhắn tin thỏa thuận với H sau. Chiều cùng ngày, H vào ứng dụng Facebook gõ từ khóa “bán súng tự chế tại Vũng Tàu”, tìm mua một khẩu súng để phòng thân, liên hệ được với tài khoản của một người tên K (không rõ nhân thân, địa chỉ) và hẹn gặp giao dịch trực tiếp mua súng, đạn tại khu vực Bệnh viện B thuộc phường L, thành phố B. Khoảng 19h00' ngày 21/6/2023, H mượn xe máy và 2.000.000 đồng của mẹ đến khu vực bãi đất trống phía sau Bệnh viện B gặp người đàn ông tên K nói trên, nhận một khẩu súng tự chế dạng Rulo và 03 viên đạn cất vào túi quần đang mặc, đưa K 2.000.000 đồng rồi điều khiển xe về nhà. (BL.112-120, 127-128)
Đến 0h25' ngày 22/6/2023, Trần Minh T nhắn tin cho H qua ứng dụng M hỏi mua 700.000 đồng ma túy đá, đề nghị H gặp mặt giao ngay cho T. H hẹn T gặp nhau tại khu vực Miễu C thuộc thị trấn L, huyện L. T đồng ý và đi xe máy từ thị trấn L, huyện L đến điểm hẹn chờ H. H ra bãi rác gần nhà lấy hũ nhựa đựng 74 gói ma túy đá cất giấu trước đó, đem về phòng mình trên gác xép, lấy ra một gói loại 0,3 gam và một gói loại 0,4 gam đổ chung thành một gói 0,7 gam rồi bỏ vào hũ nhựa chung với 72 gói khác, đi xe máy, mặc chiếc quần đang cất giấu khẩu súng và 03 viên đạn vừa mua từ K đến khu vực Miễu C, chuẩn bị lấy gói 0,7 gam ma túy đá trong hũ nhựa ra bán cho T thì bị tổ tuần tra của Công an thị trấn L phát hiện, bắt quả tang như đã nêu trên
- Tại Bản Kết luận giám định số 312/KL-KTHS-MT ngày 29/6/2023, Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận đối với tang vật là 73 gói nylon hàn kín chứa chất kết tinh không màu – trong suốt (ký hiệu mẫu A) thu giữ của Trần Ngọc H như sau: “Mẫu A có khối lượng 55,2139 gam, là ma túy, loại Methamphetamine”
- Tại Bản Kết luận giám định số 14257/KL ngày 06/7/2023, Phân viện Khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh - Bộ C đã kết luận:
- Khẩu súng gửi giám định là vũ khí được chế tạo thủ công để bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6x15,5)mm. Hiện tại, súng bắn được đạn nổ. Khẩu súng trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và thuộc nhóm vũ khí quân dụng.
- 03 (ba) viên đạn gửi giám định là đạn thể thao chưa bắn cỡ (5,6 x 15,5)mm, không phải đạn quân dụng. Đạn sử dụng để bắn được cho một số loại súng như: K55, TOZ8, khẩu súng gửi giám định”.
* Vật chứng của vụ án:
Ngày 11/10/2023, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B đã trả lại cho bà Lê Thị Minh G (mẹ bị cáo Trần Ngọc H) các tài sản thuộc sở hữu của bà G, gồm: 02 (hai) sợi dây vàng là lắc vàng, dây chuyền vàng bà G cho bị cáo H mượn đeo, 1.400.000 đồng bà G đưa bị cáo H đi siêu thị mua vật dụng sinh hoạt gia đình, 01 (một) xe mô tô Honda Wave biển số 72K1-483.63 cho bị cáo mượn sử dụng, vì tiền và vàng không liên quan đến tội phạm, bà G không biết, không có lỗi trong việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện thực hiện việc mua bán trái phép chất ma túy và mua vũ khí quân dụng; theo quyết định xử lý vật chứng số 04/QĐ ngày 10/10/2023 của Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh B. (BL 165-167; 192-194)
Các vật chứng còn lại đã chuyển giao, bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu chờ xử lý, gồm:
- 01 (một) phong bì màu trắng, được niêm phong vụ số 312 ngày 29/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B, chứa chất ma túy còn lại sau giám định;
- 01 (một) hũ nhựa hình trụ tròn, nắp đen, thân quấn băng keo màu trắng;
- 03 (ba) ống thủy tinh, 01 (một) ống hút bằng nhựa;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A23 màu xám đen, IMEI 1: 353220824189978, IMEI 2: 353319904189971;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia TA-1034 màu đen, IMEI 1: 359007094457225, IMEI 2: 359007094457224;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A02s màu xanh đen, IMEI 1: 351864454655873/01, IMEI2: 355795644655876/01;
- 700.000 đồng (bảy trăm nghìn đồng)
Riêng 01 (một) khẩu súng dạng Rulo, 03 (ba) viên đạn thể thao hiện Cơ quan An ninh điều tra đang bảo quản chờ xử lý.
* Các vấn đề khác:
Sau khi có kết luận giám định 03 (ba) viên đạn thu được khi bắt quả tang Trần Ngọc H là đạn thể thao, không phải là vũ khí quân dụng, ngày 19/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện L đã có văn bản đề nghị Ủy ban nhân dân huyện L xử phạt vi phạm hành chính đối với Trần Ngọc H về hành vi “Tàng trữ trái phép các loại vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự vũ khí thể thao” theo quy định tại điểm c khoản 4 Điều 11 Nghị định 144/2021/NĐ-CP. Ngày 26/7/2023, Ủy ban nhân dân huyện L đã ra Quyết định xử phạt hành chính phạt tiền 15.000.000 đồng (mười lăm triệu đồng) đối với Trần Ngọc H về hành vi nêu trên.
Đối tượng Trần Minh T bị Công an thị trấn L, huyện L lập biên bản bắt người phạm tội quả tang về hành vi mua bán trái phép chất ma túy ngày 22/6/2023, xét nghiệm Trần Minh T dương tính với chất ma tuý Methamphetamine. Kết quả điều tra xác định Trần Minh T chưa mua được ma túy đá từ Trần Ngọc H, không có hành vi tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L đã ra Quyết định trả tự do Trần Minh T và làm thủ tục áp dụng biện pháp đưa T vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; hiện đang cai nghiện ma túy tại Cơ sở tư vấn và điều trị nghiện ma túy thuộc ấp P, xã H, huyện X, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (BL 136-162)
Đối tượng tên T1 cùng sử dụng ma túy và mua của bị cáo bị cáo Trần Ngọc H 200.000 đồng ma túy vào ngày 15/6/2023 tại khu vực gần Trung tâm y tế huyện L: ngoài lời khai của bị cáo Trần Ngọc H thì không thu thập được thông tin, dữ liệu, tài liệu, chứng cứ nào khác. Bị cáo Trần Ngọc H khai không biết nhân thân lai lịch, không lưu thông tin liên lạc, không nhớ đặc điểm nhận dạng và nơi làm việc chung với đối tượng này nên không đủ cơ sở để xác minh nhân thân lai lịch. Vì vậy, chưa đủ cơ sở để kết luận về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cũng như khối lượng, chủng loại ma túy mà bị cáo đã bán. Cơ quan An ninh điều tra (PA09) Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật.
Đối tượng tên Út H2 (không rõ lai lịch, địa chỉ), là người đã bán ma túy cho bị cáo Trần Ngọc H ngày 20/6/2023 giá 28.000.000 đồng tại khu vực vòng xoay Metro V: đã xác minh tại Công an phường A, thành phố V nhưng không có kết quả. Cơ quan An ninh điều tra (PA09) Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, có căn cứ sẽ xử lý sau theo quy định của pháp luật. (BL 170)
Đối tượng K (không rõ lai lịch, địa chỉ) là người bán 01 khẩu súng và 03 viên đạn cho bị cáo Trần Ngọc H giá 2.000.000 đồng ngày 21/6/2023 tại khu vực Bệnh viện B: đã xác minh tại Công an phường L, thành phố B nhưng không có kết quả. Sau khi mua được súng đạn, bị cáo Trần Ngọc H đã xóa toàn bộ dữ liệu trên ứng dụng Facebook và M liên quan đến việc tìm kiếm, liên hệ, thỏa thuận mua súng đạn với K. Cơ quan An ninh điều tra (PA09) Công an tỉnh B tiếp tục xác minh, có căn cứ sẽ xử lý theo quy định của pháp luật. (BL 171).
Đối với việc Trần Ngọc H khai nhận đã bán 200.000 đồng ma túy đá cho đối tượng Thịnh ngày 15/6/2023 tại khu vực gần Trung tâm y tế huyện L: đến nay ngoài lời khai của bị cáo Trần Ngọc H thì không thu thập được thông tin, dữ liệu, tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan An ninh điều tra chưa đủ cơ sở để kết luận về hành vi mua bán trái phép chất ma túy, cũng như khối lượng, chủng loại ma túy mà bị cáo đã bán.
2. Tại Cáo trạng số 112/CT-VKS-P1 ngày 30 tháng 10 năm 2023, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu truy tố bị cáo Trần Ngọc H về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự.
3. Tại phiên tòa, trong bản luận tội vị đại diện Viện Kiểm sát đã nêu các tình tiết vụ án, tính chất nguy hiểm trong hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự; đề nghị hình phạt:
- 3.1. Áp dụng khoản điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 16 (Mười sáu) - 18 (mười tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- 3.2. Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 01 (Một) - 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- 3.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của hai tội, buộc bị cáo Trần Ngọc H phải chấp hành hình phạt chung là 17 (Mười bảy) - 20 (Hai mươi) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/6/2023.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, căn cứ khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự xử lý theo quy định của pháp luật: tịch thu tiêu huỷ các phong bì chứa ma tuý còn lại sau giám định và các dụng cụ tàng trữ, sử dụng ma tuý không còn giá trị sử dụng, súng đạn; tịch thu sung quỹ Nhà nước 700.000 đồng và điện thoại Samsung bị cáo đã sử dụng vào việc phạm tội; trả lại điện thoại còn lại cho bị cáo và Trần Minh T vì không liên quan đến việc phạm tội.
4. Tranh luận và đối đáp tại phiên toà:
4.1. Luật sư Huỳnh Ngọc H1 bào chữa cho bị cáo: Cáo trạng, luận tội của Viện kiểm sát thể hiện đúng diễn biến vụ án. Luật sư đồng ý với tội danh, Điều khoản Viện Kiểm sát truy tố bị cáo; đề nghị Hội đồng xét xử lưu tâm xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự khi lượng hình đối với bị cáo là: bị cáo còn trẻ, là con út trong gia đình, nghỉ học sớm đi làm phụ giúp gia đình, chịu tác động của ngoại cảnh, phạm tội mua bán trái phép ma tuý, có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, thành khẩn khai báo, thực sự ăn năn hối cải. Luật sư đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, mức án thấp dưới đề nghị của Viện Kiểm sát, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
4.2. Bị cáo Trần Ngọc H thống nhất theo quan điểm bào chữa của luật sư và không bào chữa gì thêm.
5. Trong lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối hận, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo có cơ hội sớm trở về làm công dân tốt có ích cho xã hội, chăm sóc gia đình và người thân.
6. Căn cứ vào các tài liệu và chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, người bào chữa, của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác;
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
[1] Về tố tụng:
Hành vi, các quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an tỉnh B, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã tuân thủ nghiêm chỉnh theo thủ tục tố tụng trong việc thu thập chứng cứ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về tội danh và điều luật áp dụng:
Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa. Vì vậy, Hội đồng xét xử đã có căn cứ xác định nội dung vụ án như sau:
Khoảng 0h25' ngày 22/6/2023, tại khu vực Miễu C thuộc thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, bị cáo Trần Ngọc H có hành vi bán 0,7 gam ma túy loại Methamphetamine cho Trần Minh T giá 700.000 đồng thì bị cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang, thu giữ 55,2139 gam ma túy Methamphetamine bị cáo đã mua về cất giấu để bán lại kiếm lời. Ngoài ra, cơ quan Công an còn thu giữ trong người bị cáo 01 (một) khẩu súng Rulo qua giám định xác định là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng, thuộc nhóm vũ khí quân dụng.
Như vậy, có đủ căn cứ xác định bị cáo Trần Ngọc H phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 3 Điều 251 Bộ luật Hình sự và tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định khoản 1 Điều 304 Bộ luật Hình sự, đúng như truy tố của Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội:
Hành vi phạm tội của bị cáo là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến chế độ quản lý đặc biệt của Nhà nước đối với ma túy, các chất gây nghiện và quản lý vũ khí quân dụng, gây ảnh hưởng xấu đến an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội, là nguyên nhân phát sinh các loại tội phạm khác, tiềm ẩn nguy cơ gây nên những hậu quả khó lường cho xã hội, cộng đồng và bản thân, gây tâm lý bất ổn trong quần chúng nhân dân. Là công dân trưởng thành, phát triển đầy đủ về thể chất và tinh thần, nhận thức được tác hại của ma tuý đối với sức khỏe của con người và những ảnh hưởng tiêu cực mà ma túy gây ra cho cá nhân, gia đình, cộng đồng và xã hội, nhận thức rõ tác hại của việc tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; nhận thức rõ hành vi mua bán trái phép ma tuý, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng của mình là vi phạm pháp luật, nhưng vẫn cố ý thực hiện việc tàng trữ để mua bán trái phép chất ma tuý với mong muốn nhanh chóng có lợi nhuận, cố ý tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng để thoả mãn nhu cầu của bản thân, cố tình vi phạm pháp luật.
Vì vậy, phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi phạm tội bị cáo đã thực hiện, để đảm bảo tác dụng răn đe, cải tạo, giáo dục và đấu tranh phòng ngừa chung, đồng thời nêu cao tính nhân đạo, khoan hồng của pháp luật xã hội chủ nghĩa.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[4.1] Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng.
[4.2] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ là “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải”, là lao động chính trong gia đình có hoàn cảnh khó khăn, trực tiếp chăm sóc cha già được Uỷ ban nhân dân xã nơi cư trú xác nhận, theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[5] Về xử lý vật chứng:
- 01 (Một) phong bì được niêm phong vụ số 312 ngày 29/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B chứa chất ma túy còn lại sau giám định; (Một) hũ nhựa hình trụ tròn, nắp đen, thân quấn băng keo màu trắng; 03 (Ba) ống thủy tinh; 01 (Một) ống hút bằng nhựa, là ma túy còn lại sau giám định và các vật liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- 01 (Một) khẩu súng dạng Rulo, 03 (Ba) viên đạn thể thao cần giao cho Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh B xử lý theo thẩm quyền, đúng quy định của pháp luật.
- 01 (Một) điện thoại di động S1 A23 màu xám đen, IMEI 1: 353220824189978, IMEI 2: 353319904189971; 01 (Một) điện thoại di động Samsung Galaxy A02s màu xanh đen, IMEI 1: 351864454655873/01, IMEI2: 355795644655876/01; 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng) là tiền, công cụ phương tiện liên quan, sử dụng trong quá trình phạm tội nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước.
- 01 (một) điện thoại di động Nokia TA-1034 màu đen, IMEI 1: 359007094457225, IMEI 2: 359007094457224 là tài sản của bị cáo không liên quan đến tội phạm nên trả lại cho bị cáo.
[6] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo luật định.
Bởi các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về trách nhiệm hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc H phạm các tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”, “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- 1.1. Áp dụng điểm b khoản 3 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 16 (Mười sáu) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- 1.2. Áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Ngọc H 01 (Một) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
- 1.3. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 55 Bộ luật Hình sự, tổng hợp hình phạt chung của hai tội, buộc bị cáo Trần Ngọc H phải chấp hành là 17 (Mười bảy) năm tù, tính từ ngày 22/6/2023.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;
- 2.1. Tịch thu, giao Bộ chỉ huy quân sự tỉnh B tiếp nhận, xử lý theo thẩm quyền 01 (Một) khẩu súng dạng Rulo, 03 (Ba) viên đạn thể thao hiện đang bảo quản tại Cơ quan An ninh điều tra (PA09) Công an tỉnh B.
- 2.2. Tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì được niêm phong vụ số 312 ngày 29/6/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh B chứa chất ma túy còn lại sau giám định; (Một) hũ nhựa hình trụ tròn, nắp đen, thân quấn băng keo màu trắng; 03 (Ba) ống thủy tinh; 01 (Một) ống hút bằng nhựa,.
- 2.3. Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động S1 A23 màu xám đen, IMEI 1: 353220824189978, IMEI 2: 353319904189971; 01 (Một) điện thoại di động Samsung Galaxy A02s màu xanh đen, IMEI 1: 351864454655873/01, IMEI2: 355795644655876/01; 700.000 đồng (Bảy trăm nghìn đồng).
- 2.4. Trả lại cho bị cáo Trần Ngọc H 01 (một) điện thoại di động N-1034 màu đen, IMEI 1: 359007094457225, IMEI 2: 359007094457224
Các vật chứng hiện đang bảo quản tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo biên bản giao nhận vật chứng số 14/BB-CTHADS ngày 01/11/2023 và biên lai thu tiền số 0001219 ngày 01/11/2023.
3. Về án phí hình sự sơ thẩm:
Bị cáo Trần Ngọc H nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng).
4. Quyền kháng cáo:
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (06/12/2023), bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm. Thời hạn kháng cáo 15 (Mười lăm) ngày đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Minh Bắc |
Bản án số 88/2023/HSST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về hình sự: mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 88/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Ngọc H
