Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN KIM THÀNH

TỈNH HẢI DƯƠNG

Bản án số: 88/2023/HSST

Ngày: 06/12/2023

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH - TỈNH HẢI DƯƠNG

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Trung.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Văn Chỉ và ông Nguyễn Trọng Bộ.

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hằng Nga, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Vui, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 12 năm 2023, tại Nhà văn hóa thôn V, xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 101/2023/HSST ngày 14 tháng 11 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 88/2023/QĐXXST-HS ngày 23/11/2023, đối với bị cáo Trần Minh T, sinh năm 1989. Giới tính: Nam. Nơi cư trú: Thôn V, xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ văn hoá: 9/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông Trần Văn Q và bà Nguyễn Thị L. Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ nhất. Có vợ là Nguyễn Thị L1. Bị cáo có 01 con sinh năm 2015. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Kim Thành từ ngày 13/10/2023 đến ngày 16/10/2023. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ - Công an huyện Kim Thành từ ngày 16/10/2023 đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

* Người làm chứng: Nguyễn Văn C và Đồng Văn Ch (Đều vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 08 giờ ngày 13/10/2023, Trần Minh T đi xe ô tô khách đến khu vực chân cầu thuộc phường Q, quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng mua của một người đàn ông không rõ tên và địa chỉ 01 túi ma tuý đá được gói trong mảnh giấy màu vàng với giá 300.000 đồng, mục đích để sử dụng. Sau đó, T cất giấu túi ma túy vừa mua được vào trong túi quần phía trước bên trái đang mặc rồi đi chơi ở quanh khu vực phường Q. Khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày, T đi xe ô tô khách về khu vực thị trấn P, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương thì xuống xe và đi bộ vào khu công nghiệp N thuộc thôn L, xã K1, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương. Hồi 15 giờ cùng ngày, khi T đang đi bộ trong khu công nghiệp N thì bị Tổ tuần tra liên xã thuộc Công an xã K1 và Công an xã K, huyện Kim Thành kiểm tra. Lúc này, T tự nguyện lấy từ trong túi quần phía trước bên trái đang mặc ra 01 gói giấy màu vàng bên trong có 01 túi nilon chứa chất rắn dạng tinh thể màu trắng giao nộp cho lực lượng công an và khai nhận đó là ma tuý đá, T mua về mục đích để sử dụng.

Kết luận giám định số 501/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon được niêm phong trong phong bì ghi thu của Trần Minh T gửi đến giám định có khối lượng 0,141 gam là ma tuý, loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 90/CT-VKS ngày 14/11/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố Trần Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa: Bị cáo khai nhận như quá trình điều tra, thừa nhận có hành vi tàng trữ trái phép 0,141 gam ma túy, loại Methamphetamine, bị cáo xác định Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng, không oan và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Trần Minh T từ 13 đến 15 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/10/2023.

Không phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,087 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 mảnh giấy màu vàng; 01 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật, trong niêm phong số 501/KL-KTHS.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Kim Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Kim Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan T hành tố tụng, người T hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về hành vi của bị cáo và các chứng cứ xác định tội: Lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp với lời khai của bị cáo và người làm chứng tại cơ quan điều tra, phù hợp với Biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu được và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở xác định: Hồi 15 giờ ngày 13/10/2023, tại khu công nghiệp N thuộc thôn L, xã K1, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương, Trần Minh T có hành vi cất giấu trái phép trong túi quần phía trước bên trái đang mặc 0,141 gam ma túy loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng thì bị Tổ tuần tra liên xã thuộc Công an xã K1 và Công an xã K, huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương kiểm tra bắt quả tang, thu giữ vật chứng.

[3] Về định khung: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, căn cứ Kết luận giám định số 501/KL-KTHS ngày 16/10/2023 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hải Dương kết luận: Chất rắn dạng tinh thể màu trắng trong túi nilon được niêm phong trong phong bì ghi thu của Trần Minh T gửi đến giám định có khối lượng 0,141 gam là ma tuý, loại Methamphetamine.

Methamphetamine nằm trong Danh mục II, STT: 247, Nghị định 57/2022/NĐ-CP ngày 25/8/2022 của Chính phủ.

Mục đích bị cáo Trần Minh T tàng trữ ma túy để sử dụng.

Từ những nhận định trên, xác định: Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương truy tố và xét xử bị cáo Trần Minh T về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy" theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi phạm tội của mình là nguy hiểm, bị pháp luật cấm nhưng vẫn cố ý phạm tội. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, là một trong những nguyên nhân gây mất trật tự trị an tại địa phương.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

[3] Về quyết định hình phạt: Qua phân tích, đánh giá các chứng cứ, căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân, mục đích phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo lần đầu phạm tội, thái độ ăn năn hối cải nên cần giảm nhẹ một phần hình phạt đối với bị cáo. Tuy nhiên, tình trạng vi phạm pháp luật liên quan đến ma túy trên địa bàn huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương thời gian qua có chiều hướng gia tăng, gây bức xúc trong dư luận nhân dân nên cần thiết áp dụng hình phạt tù, buộc bị cáo phải cách ly khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người lương thiện, có ích cho xã hội và răn đe, phòng ngừa tội phạm tương tự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự thì bị cáo còn có thể bị phạt tiền sung vào ngân sách Nhà nước, xét việc bị cáo tàng trữ ma túy mục đích sử dụng, bị cáo là người không có việc làm, không có tài sản và đang bị giam giữ nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Xác định 0,087 gam ma túy loại Methamphetamine, là vật chứng của vụ án, vật Nhà nước cấm mua bán, lưu hành và 01 mảnh giấy màu vàng; 01 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật, là vật chứng của vụ án, vật không có giá trị sử dụng, tịch thu tiêu hủy.

[5] Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Minh T bị kết án nên phải chịu án phí sơ thẩm hình sự.

* Trong vụ án này: Đối với người bán chất ma tuý cho Trần Minh T, tài liệu điều tra không xác định được là ai, ở đâu, do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Kim Thành không đủ căn cứ để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.

1/ Về tội danh: Tuyên bố: Bị cáo Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2/ Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Trần Minh T 12 (mười hai) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ 13/10/2023.

3/ Xử lý vật chứng: Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Tịch thu tiêu hủy 0,087 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 mảnh giấy màu vàng; 01 vỏ túi nilon và 01 vỏ phong bì niêm phong mẫu vật, trong niêm phong số 501/KL-KTHS.

(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản lập hồi 15 giờ 00 phút ngày 01/12/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Kim Thành, tỉnh Hải Dương).

4/ Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án. Bị cáo Trần Minh T phải chịu 200.000đồng án phí sơ thẩm hình sự.

5/ Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - VKSND huyện Kim Thành;
  • - VKSND tỉnh Hải Dương;
  • - Cơ quan CSĐT- Công an huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan THAHS – Công an huyện Kim Thành;
  • - Cơ quan THAHS – Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Bộ phận hồ sơ – nghiệp vụ, Công an huyện Kim Thành;
  • - Phòng hồ sơ – Công an tỉnh Hải Dương;
  • - Chi cục THADS huyện Kim Thành;
  • - Sở Tư pháp tỉnh Hải Dương;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, hồ sơ THA hình sự, văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Nguyễn Văn Trung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2023/HSST ngày 06/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG về hình sự sơ thẩm (tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 88/2023/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm (Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIM THÀNH, TỈNH HẢI DƯƠNG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trần Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger