Hệ thống pháp luật
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BẮC GIANG
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
Bản án số: 88/2024/HS - PT.
Ngày: 05 - 6 - 2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Gia Lương.

Các thẩm phán: Ông Đặng Văn Quyết.

Bà Trần Thị Hà.

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Nguyễn Văn Hoan - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Ông Hoàng T - Kiểm sát viên.

Ngày 05/6/2024 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang mở phiên tòa công khai xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 81/2024/TLPT-HS ngày 18/3/2024 đối với bị cáo Dương Công T1 và đồng phạm, do có kháng cáo của bị cáo Dương Công T1, Dương Công C và Dương Ngô Đ đối với bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang;

Các bị cáo có kháng cáo:

  1. Họ và tên: Dương Công T1, sinh năm 1997; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Dương Công T2, sinh năm 1968; Con bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1966; Gia đình có 04 chị em, bị cáo là thứ 4; Vợ: Diêm Thị H, sinh năm 2001; Bị cáo có 01 con sinh năm 2023; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 15/9/2023 đến ngày 21/9/2023, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
  2. Họ và tên: Dương Công C, sinh năm 1995; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn N, xã T, huyện V (nay là thị xã V), tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 8/12; Con ông Dương Công K, sinh năm 1959; Con bà Giáp Thị T3, sinh năm 1961; Gia đình có 04 anh chị em, bị cáo là thứ 4; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 15/9/2023 đến ngày 21/9/2023, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).
  3. Họ và tên: Dương Ngô Đ, sinh năm 2000; Tên gọi khác: Không; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ văn hóa: 12/12; Con ông Dương Ngô L, sinh năm 1974; Con bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1977; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là thứ 2; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 15/9/2023 đến ngày 21/9/2023, thay thế bằng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại (Có mặt tại phiên tòa).

Trong vụ án còn có 01 người bị hại và 03 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nên cấp phúc thẩm không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bị cáo Dương Công Tùng và bị cáo Dương Công C đều trú tại thôn N, xã T, huyện V, tỉnh Bắc Giang; bị cáo Dương Ngô Đạt t tại thôn Đ, xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang và anh Đặng Tiến D, trú tại thôn T, xã Q, huyện Q, tỉnh Hà Giang cùng làm việc tại Công ty trách nhiệm hữu hạn C2 (viết tắt là Công ty C2), thuộc Khu công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Anh D là ca trưởng của T1, còn Đ, C là bạn của T1 nhưng làm khác tổ sản xuất.

Quá trình làm việc tại Công ty C2, giữa T1 và anh D có mâu thuẫn, lời qua tiếng lại với nhau. T1 nghĩ anh D bắt nạt nên nảy sinh ý định đánh dằn mặt, cảnh cáo anh D. Khoảng 23 giờ ngày 23/8/2023, trong lúc ăn cơm tại Công ty, T1 nói với Đ việc bị anh D bắt nạt. Khoảng 07 giờ ngày 24/8/2023, T1 gặp Đ ở cổng Công ty và rủ Đ đi đánh dằn mặt, cảnh cáo anh D thì Đ đồng ý. T1 gọi điện thoại qua ứng dụng M rủ C ra cổng Công ty C2 đi đánh nhau cùng T1. Chính hỏi T1 đánh ai thì T1 nói là đánh ca trưởng của T1 (tức đánh anh D) thì C đồng ý. Khoảng 07 giờ 30 phút cùng ngày, C điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B3- 570.11 đến khu vực cổng Công ty C2 gặp T1 và Đ. Sau đó, T1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 98K1- 300.03, Đ điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 98B3- 709.30 và C khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B3- 570.44 đi đến đoạn đường giao thông thuộc thôn Q, xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang là đường anh D thường xuyên đi qua sau khi đi làm về để về nhà trọ rồi đỗ xe ở rìa đường để chờ đánh anh D. Khoảng 10 phút sau, T1 thấy anh D ngồi trên xe mô tô do anh Vi Văn K1, sinh năm 1995 trú tại Bản V, xã B, huyện Q, tỉnh Nghệ An điều khiển đang đi gần đến chỗ T1, Đ và C đứng chờ nên một mình đi bộ ra lòng đường, đứng chặn đầu xe của anh K1. Anh K1 phanh xe mô tô lại làm xe bị đổ xuống mặt đường. Lúc này, T1 lao vào dùng tay, chân đấm đá nhiều cái vào vùng đầu, mặt và người anh D. Chính và Đ cũng lao vào dùng tay, chân đấm đá nhiều cái vào vùng đầu, mặt và người anh D. Thấy anh D bị đánh, anh K1 du tay đẩy, can ngăn T1 không cho đánh anh D. Trong lúc xô đẩy, con dao, loại dao dọc giấy, có chiều dài 15cm, rộng 01cm do T1 mang theo trước đó đút trong túi áo rơi xuống mặt đường. T1 dùng tay phải cầm dao giơ lên cao ngang người, rồi đâm hai nhát liên tiếp vào vùng bụng anh D gây thương tích. Sau đó, anh D bỏ chạy rồi ngồi nhờ xe mô tô của người đi đường đi về phòng trọ, còn T1, C và Đ điều khiển xe đi về nhà. Anh K1 điều khiển xe mô tô về phòng trọ, đưa anh D đến Bệnh viện Q- Bắc Ninh sơ cứu vết thương rồi về Trạm y tế xã Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang tiếp tục khám và khâu vết thương vùng bụng, sau đó về nhà tự điều trị thương tích. Cùng ngày 24/8/2023, anh D có đơn đề nghị Cơ quan điều tra Công an huyện V khởi tố T1, C, Đ về hành vi cố ý gây thương tích.

Ngày 25/8/2023, T1 đến Công ty C2 làm việc rồi cất giấu con dao dùng gây thương tích cho anh D vào tủ để quần áo của T1 tại xưởng LG 6X của Công ty.

Ngày 14/9/2023, T1, C, Đ đến Công an huyện V đầu thú và khai nhận hành vi gây thương tích anh D. Sau đó: Dương Công T1 giao nộp: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus màu bạc, số IMEI là 353011098081992, lắp thẻ sim số 0378579533; 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda SH, biển kiểm soát 98K1- 300.03 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Diêm Thị H, sinh năm 2001 ở Đ, H, V, Bắc Giang. Dương Công C giao nộp: 01 điện thoại nhãn hiệu Iphone 11 Pro Max mầu xanh, số IMEI là 353892102446070, lắp thẻ sim số 0981199507; 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, biển kiểm soát 98B3- 570.44 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Dương Công T4, sinh năm 2001 ở N, T, V, Bắc Giang. Dương Ngô Đ giao nộp: 01 điện thoại nhãn hiệu Redmi Note màu xanh, số IMEI 1 là 864348053730246, số IMEI 2 là 864348053730253, lắp thẻ sim số 0357209400; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter, biển kiểm soát 98B3- 709.30 và 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô, xe gắn máy mang tên Dương Ngô T5, sinh năm 1993 ở Đ, H, H, Bắc Giang.

Cùng ngày 14/9/2023, Cơ quan điều tra đã thu giữ tại ngăn tủ đựng quần áo của T1 tại Công ty C2 con dao T1 cùng các bị cáo khác dùng gây thương tích cho anh D.

Tại biên bản xem xét dấu vết trên thân thể của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V vào ngày 24/8/2023, tại Trạm y tế xã Q và phiếu tổng hợp khám bệnh của anh D tại Bệnh viện Q xác định anh D bị thương tích: Có vết tầm tím, sây sát da ở vùng trán bên trái, vùng mũi-siêu âm gãy xương mũi. Vùng lưng dưới có dấu vết sây sát da, kích thước (6x10)cm. Vùng lưng giữa có dấu vết sây sát, thích thước (5x4)cm. Vùng bùng có 01 vết thương rách đã được khâu một mũi có vết sây sát dài 3,5cm; 01 vết thương rách đã được khâu hai mũi có vết sây sát dài 10cm. Ngón chân phải có 01 vết xước đã được sơ cứu.

Ngày 15/9/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện V trưng cầu Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B giám định tỷ lệ thương tích và cơ chế hình thành thương tích của anh Đặng Tiến D. Con dao thu giữ gây ra những thương tích gì cho anh D.

Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 1692/23/KLTTCT-TTPY ngày 15/9/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Chạm thương trán trái không còn dấu vết: 0%. Thương tích vết thâm da sống mũi + CT Scanner hàm mặt: Hình ảnh gãy xương chính mũi: 8%. Thương tích vết thâm da vùng lưng dưới: 0,5%. Chạm thương vùng lưng giữa không còn dấu vết: 0%. Thương tích vết sẹo vùng bụng kích thước nhỏ + vết thâm da: 1,5%. Thương tích vết sẹo vùng bụng kích thước nhỏ: 1%. Thương tích vết sẹo ngón giữa chân phải kích thước nhỏ: 1%. Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Đặng Tiến D tại thời điểm giám định là: 12%. Thương tích gãy xương mũi do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động mạnh. Các thương tích: 02 vết sẹo vùng bụng và vết sẹo ngón giữa chân phải do vật sắc gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động không mạnh. Các thương tích còn lại do vật tày gây nên, không xác định được chiều hướng, lực tác động không mạnh.

Tại bản Kết luận giám định vật gây thương tích số 1692B/23/KLTTCT- TTPY ngày 20/9/2023 của Trung tâm pháp y Bệnh viện đa khoa tỉnh B kết luận: Căn cứ kết quả các vật gây thương tích được cơ quan trưng cầu giám định gửi đến phù hợp với đặc điểm tổn thương, xác định: Vật gửi giám định gây ra được các thương tích 01 vết thương rách đã được khâu 01 mũi có vết trượt (xây sát) dài 3,5cm; 01 vết thương rách đã được khâu 02 mũi có vết trượt dài 10cm (xây sát); ngón chân giữa bên phải có 01 vết xước cho anh D.

Ngày 15/9/2023, Cơ quan điều tra đã cho anh Đặng Tiến D nhận dạng Dương Công T1, để xác định người gây thương tích. Kết quả, anh D nhận dạng và xác định T1 là một trong ba người đã gây thương tích cho anh D vào ngày 24/8/2023.

Tại Bản cáo trạng số 225/CT-VKS ngày 30/11/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Việt Yên (nay là thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang) truy tố các bị cáo Dương Công T1, Dương Công C, Dương Ngô Đ về tội “Cố ý gây thương tích”, theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.

Bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, đã quyết định:

  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Dương Công T1 12 (Mười hai) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 15/9/2023 đến ngày 21/9/2023.
  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Dương Công C 09 (C1) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 15/9/2023 đến ngày 21/9/2023.
  • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
  • Xử phạt bị cáo Dương Ngô Đ 09 (C1) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt đi thi hành án nhưng trừ đi thời hạn tạm giữ từ ngày 15/9/2023 đến ngày 21/9/2023.

Ngoài ra bản án còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/02/2024, các bị cáo Dương Công T1, Dương Công C và Dương Ngô Đ cùng nộp đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm giảm nhẹ hình phạt và được hưởng án treo.

Trước khi xét xử phúc thẩm, ngày 08/5/2024 bị cáo Dương Công T1 đã có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo, do vậy Hội đồng xét xử không xem xét đối với kháng cáo của bị cáo T1.

Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ đều xin rút nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo.

Bị cáo Dương Công C trình bày: Bị cáo có bố đẻ có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến; bản thân bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự 01 năm 06 tháng xuất ngũ, trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2022, khi dịch bênh COVID - 19 sảy ra trên địa bàn, bị cáo có tham gia hỗ trợ địa phương tham gia phòng chống dịch như tham gia trực chốt, đóng góp nhu yếu phẩm, tham gia tuyên truyền phòng chống dịch bệnh được UBND xã T, thị xã V xác nhận; đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; người bị hại có đơn đề nghị cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

Bị cáo Dương Ngô Đ trình bày: Bị cáo có ông nội được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, hạng Ba; đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm; người bị hại có đơn đề nghị cấp phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

Đại diện VKSND tỉnh Bắc Giang thực hành quyền công tố tại phiên toà, sau khi phân tích các tình tiết của vụ án, tính chất mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội do các bị cáo gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, đưa ra đề nghị xem xét các vấn đề kháng cáo mà các bị cáo nêu ra đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự; chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ, sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt của bản án sơ thẩm nhưng cho các bị cáo được hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Giao các bị cáo cho UBND nơi các bị cáo cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Do kháng cáo của các bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ không tự bào chữa, tranh luận, đối đáp gì.

Bị cáo Dương Công C nói lời sau cùng: Không có ý kiến gì.

Bị cáo Dương Ngô Đ nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của các bị cáo Dương Công T1, Dương Công C và Dương Ngô Đ đã được làm trong thời hạn kháng cáo theo đúng quy định tại khoản 1 Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự nên được coi là đơn kháng cáo hợp pháp, Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của các bị cáo theo trình tự phúc thẩm.

Trước khi xét xử phúc thẩm, ngày 08/5/2024 bị cáo Dương Công T1 đã có đơn xin rút toàn bộ kháng cáo. Tại thông báo rút kháng cáo số: 28/2024/TB - TA ngày 08/5/2024, Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang đã có văn bản thông báo gửi cho bị cáo Dương Công T1 cũng như những người tham gia tố tụng và các cơ quan tiến hành tố tụng biết, nên Hội đồng xét xử không xem xét kháng cáo của bị cáo, bản án hình sự sơ thẩm số: 23/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 của Tòa án nhân dân thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Dương Công T1.

  1. Xét hành vi phạm tội của bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ thì thấy: Các bị cáo Dương Công T1, Dương Công C, Dương Ngô Đ và anh Đặng Tiến D cùng làm việc tại Công ty C2 thuộc Khu công nghiệp Q, huyện V, tỉnh Bắc Giang. Trong quá trình làm việc tại Công ty, giữa T1 và anh D có mâu thuẫn, lời qua tiếng lại với nhau. T1 cho rằng bị anh D bắt nạt nên rủ C, Đ đánh cảnh cáo, dằn mặt anh D thì cả hai đồng ý mặc dù không quen biết anh D. Khoảng 07 giờ 40 phút ngày 24/8/2023, tại đoạn đường giao thông thuộc địa phận thôn Q, xã Q, huyện V, T1, C và Đ cùng nhau dùng chân, tay đấm đá nhiều cái vào vùng đầu, mặt và người anh D. Tiếp đó, T1 dùng 01 con dao, loại dao dọc giấy dài 15cm, rộng 01cm đâm liên tiếp hai nhát vào vùng bụng anh D. Hậu quả, làm anh D bị đa thương tích vùng mũi, lưng, bụng, chân với tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể 12%.

Như vậy, hành vi của các bị cáo Dương Công T1, Dương Công C và Dương Ngô Đ đã đủ yếu tố cấu thành tội “ Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015; thuộc trường hợp “Dùng hung khí nguy hiểm” và “Có tính chất côn đồ”. Từ những nội dung trên án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “ Cố ý gây thương tích”, là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.

  1. Xét nội dung kháng cáo của các bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ thấy: Tại phiên tòa, các bị cáo chỉ kháng cáo xin được hưởng án treo nên các vấn đề khác của án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật, Hội đồng xét xử phúc thẩm không đặt ra giải quyết.

Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định các bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự năm 2015, là có căn cứ.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Án sơ thẩm xác định trong quá trình điều tra truy tố xét xử, các bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, các bị cáo đã bồi thường cho bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, sau khi phạm tội đã ra đầu thú; nên các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, là có căn cứ.

Hành vi phạm tội của các bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân, thể hiện sự coi thường pháp luật của Nhà nước. Do vậy, hành vi của các bị cáo cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự, lên một mức án tương xứng với hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra để răn đe và phòng ngừa chung. Án sơ thẩm xử phạt bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ mỗi bị cáo 09 (C1) tháng tù cùng về tội “ Cố ý gây thương tích”, là tương xứng với hành vi phạm tội đối với các bị cáo.

Tại quá trình xét xử phúc thẩm bị cáo Dương Công C xuất trình các tình tiết giảm nhẹ mới đó là bị cáo có bố đẻ là ông Lê Công K2 có thời gian tham gia dân công hỏa tuyến, bản thân bị cáo có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự 01 năm 06 tháng xuất ngũ, trong khoảng thời gian từ năm 2020 đến năm 2022, khi dịch bênh COVID - 19 sảy ra trên địa bàn, bị cáo có tham gia hỗ trợ địa phương tham gia phòng chống dịch như tham gia trực chốt, đóng góp nhu yếu phẩm, tham gia tuyên truyền phòng chống dịch bệnh được UBND xã T, thị xã V xác nhận; đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Bị cáo Dương Ngô Đ xuất trình các tình tiết giảm nhẹ mới đó là bị cáo có ông nội là Dương Ngô H1 được tặng Huân chương kháng chiến hạng Nhì, hạng Ba; đã nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm. Anh Đặng Tiến D là người bị hại tiếp tục có đơn đề nghị cấp phúc thẩm cho bị cáo Đ và bị cáo C được hưởng án treo.

Xét kháng cáo của các bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ xin được hưởng án treo thì thấy: Trong vụ án này, các bị cáo bị rủ rê lôi kéo; mặc dù các bị cáo phạm tội có tính chất côn đồ xong xét thấy, vai trò của các bị cáo là thứ yếu không đáng kể trong vụ án; các bị cáo đều có quan hệ họ hàng với nhau, đều là thanh niên mới lớn lên, nhận thức pháp luật hạn chế, phạm tội lần đầu, không có tổ chức. Hậu quả hành vi phạm tội của các bị cáo không đáng kể, đã khắc phục bồi thường đầy đủ cho người bị hại; Tại phiên tòa phúc thẩm, các bị cáo đều khai nhận, trước khi bị cáo T1 rủ các bị cáo đi đánh anh D, T1 nói với các bị cáo là T1 sẽ đánh anh D trước, nếu anh D chống cự lại thì nhờ các bị cáo vào hỗ trợ để đánh anh D. Tại cấp phúc thẩm anh Đặng Tiến D là người bị hại có đơn đề nghị cho các bị cáo được hưởng án treo. Hội đồng xét xử thấy, các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, các bị cáo đều có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, xét thấy không cần thiết phải bắt các bị cáo phải cách ly khỏi xã hội, mà giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi các bị cáo cư trú giám sát giáo dục như đề nghị của đại diện của Viện kiểm sát tại phiên tòa là có căn cứ.

  1. Về án phí hình sự phúc thẩm: Do kháng cáo của các bị cáo Dương Công C và Dương Ngô Đ được chấp nhận nên các bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
  1. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự.

  1. Chấp nhận kháng cáo xin được hưởng án treo của các bị cáo Dương Công CDương Ngô Đ; sửa bản án sơ thẩm.
    • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 58; Điều 65 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Dương Công C 09 (C1) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
    • Giao bị cáo Dương Công C cho Ủy ban nhân dân xã T, thị xã V, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
    • - Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1 Điều 54; Điều 17; Điều 38; Điều 58 Bộ luật hình sự.
    • Xử phạt bị cáo Dương Ngô Đ 09 (C1) tháng tù về tội “ Cố ý gây thương tích” nhưng cho hưởng án treo, phải chịu thời gian thử thách là 18 tháng kể từ ngày tuyên án phúc thẩm.
    • Giao bị cáo Dương Ngô Đ cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện H, tỉnh Bắc Giang giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
    • Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo qui định tại khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án hình sự.
    • Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể Quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
    • Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo qui định tại Điều 56 của Bộ luật hình sự năm 2015.
  2. Án phí hình sự phúc thẩm:
    • - Các bị cáo Dương Công CDương Ngô Đ không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
    • - Xác nhận bị cáo Dương Công C đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0001669 ngày 29/5/2024; bị cáo Dương Ngô Đ đã nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm tại biên lai thu tiền số 0001670 ngày 29/5/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Việt Yên, tỉnh Bắc Giang.
  3. Các quyết định khác của án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Bắc Giang;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bắc Giang;
  • - Cổng thông tin điện tử Tòa án;
  • - Cục THADS tỉnh Bắc Giang;
  • - CA-VKS-TA-CCTHADS sơ thẩm;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS, HСТР.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Gia Lương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS - PT ngày 05/06/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về hình sự - cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 88/2024/HS - PT
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự - Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 05/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Dương Công Tùng và đồng phạm - CYGTT
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger