TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày: 03-05-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tường Linh.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Võ Thị Mai
Bà Nguyễn Thị Lý
- Thư ký phiên tòa: Ông Phan Hoàng Đạt– Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy An- Kiểm sát viên.
Ngày 03 tháng 05 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 76/2024/TLST-HS ngày 27/03/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 98/2024/QĐXXST-HS ngày 05/04/2024 và quyết định hoãn phiên tòa số 22/QĐ-HPT ngày 19/04/2024 đối với bị cáo:
Trần Thế B; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 15/06/1988; Tại: tỉnh Bình Dương; Hộ khẩu thường trú: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; Nơi cư trú: 103/27/41 Đường số B, Phường C, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Trình độ văn hóa: 2/12; Nghề nghiệp: Không; con ông Trần Thế H (chết) và bà Mã Thị Ngọc H1; Hoàn cảnh gia đình: có vợ tên Phạm Thị N và có 02 con, con lớn sinh năm 2010 và con nhỏ sinh năm 2012; Nhân thân: Ngày 21/06/2017, bị Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử 4 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”, Đến ngày 20/05/2020 thì chấp hành xong hình phạt; Tiền sự: Không; Tiền án: Không; Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 28/04/2023. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào lúc 22 giờ 15 phút ngày 27/4/2023, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về M, Công an quận G phối hợp với Công an phường C, quận G tiến hành kiểm tra hành chính và thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp tại nhà số A đường số B, phường C, quận G phát hiện Trần Thế B, sinh năm: 1988; Nơi thường trú: ấp T, xã L, huyện D, tỉnh Bình Dương; Nơi ở hiện tại: 1 đường số B, phường C, quận G có hành vi Tàng trữ trái phép chất ma túy nhằm mục đích sử dụng cho bản thân nên tiến hành thu giữ, niêm phong toàn bộ vật chứng, bắt giữ B đưa về Cơ quan Công an lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.(BL:1-2)
Vật chứng thu giữ gồm:
Tại phòng tầng 01của nhà gồm có:
- Trên nóc loa nghe nhạc bên cạnh kệ ti vi có một tờ tiền mệnh giá 2.000 đồng (hai ngàn đồng) được gấp lại bên trong có chứa chất bột màu trắng (m1), tất cả đã được niêm phong thành một gói (gói 01).
- Trong ngăn kệ ti vi có một hộp gỗ đựng 50 (năm mươi) nỏ thủy tinh và một bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa.
- Tại ngăn thứ nhất từ trên xuống của kệ sắt có 05 ngăn để gần máy lọc nước có 02 (hai) gói nylon bên trong chứa tinh thể không màu (m2, m3), tất cả đã được niêm phong thành một gói (gói 02).
- Tại ngăn kệ gỗ phía bên phải tường có một khay nhựa đựng: 03 (ba) gói nylon chứa tinh thể không màu (m4, m5, m6); 01(một) gói nylon chứa 04 (bốn) viên nén màu nâu (m7); 01 (một) gói nylon chứa 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh (m8); 01 (một) gói nylon chứa 09 (chín) viên nén màu xanh lá (m9), 01(một) viên nén màu cam (m10) và 13 (mười ba) viên nén màu tím (m11), tất cả đã được niêm phong thành một gói (gói 03); 01 (một) cân điện tử không rõ hiệu; 01 (một) hộp nhưa chứa 10 (mười) nỏ thủy tinh đã qua sử dụng.
- Tại kệ gỗ trên tường phải trong phòng ở tầng 02 của nhà có 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng (m12), tất cả đã được niêm phong thành một gói (gói 04).
Tất cả 04 gói niêm phong bên ngoài đều có chữ ký ghi tên Trần Thế B và hình dấu Công an phường C, quận G.
- 01 (một) xe gắn máy hiệu SH biển số 59F2-299.00, Số máy: KF08E1076674KTGE1, Số khung: ZDCKF10B0BF105358;
- 01 (một) điện thoại hiệu Iphone, sim số: 0705.505.xxx;
- 01 (một) điện thoại di động hiệu S;
- 100 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 160 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 110 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Tổng số tiền là 112.000.000 đồng.
Quá trình điều tra xác định: Căn nhà số A đường số B, phường C, quận G, Trần Thế B thuê ở được khoảng hơn 02 năm đến nay với mục đích để ở, mua bán đồ cũ và sửa xe máy. Quá trình mua bán đồ cũ tại khu vực ngã ba C, quận G, Trần Thế B có quen biết với một người đàn ông tên X (chưa rõ họ tên, lai lịch) và B biết X có hoạt động mua bán ma túy cách trước khi mua bán khoảng nửa tháng. Vào ngày 17 và 24/4/2023, Trần Thế B có gặp X ở khu vực ngã ba Chú Í và mua ma túy thuốc lắc với số tiền 120.000 đồng một viên, còn ma túy Ketamine Trần Thế B mua với số tiền 3.500.000 đồng, Trần Thế B không nhớ số lượng là bao nhiêu. Sau khi mua ma túy Trần Thế B cất giữ ở nhà để sử dụng. Đến khoảng 22 giờ 15 phút ngày 27/4/2023, Trần Thế B đang ở nhà một mình, Tổ công tác Đội Cảnh sát điều tra về M, Công an quận G kết hợp với Công an phường C, quận G đến kiểm tra. Khi Trần Thế B dẫn Tổ công tác lên lầu 1 để kiểm tra, thì Tổ công tác phát hiện trên nóc loa nghe nhạc bên cạnh kệ tivi có 01 tờ tiền mệnh giá 2000 đồng (hai nghìn đồng) được gấp lại bên trong có chứa chất bột màu trắng, trong ngăn kệ tivi có một hộp gỗ đựng 50 (năm mươi) nỏ thủy tinh và 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa. Sau đó, Tổ công tác thực hiện Lệnh khám xét khẩn cấp nhà ở của Trần Thế B. Quá trình khám xét, Tổ công tác phát hiện tại ngăn thứ nhất từ trên xuống của kệ sắt có 05 (năm) ngăn để gần máy lọc nước có 02 (hai) gói nylon chứa tinh thể không màu, tại ngăn kệ gỗ phía bên phải tường có một khay nhựa đựng: 01 (một) gói nylon chứa 04 (bốn) viên nén màu nâu, 01 gói nylon chứa 02 (hai) viên nén hình tròn màu xanh, 01 (một) gói nylon chứa 09 (chín) viên nén màu xanh lá, 01 viên nén màu cam và 13 (mười ba) viên nén màu tím, 01 cân điện tử không rõ hiệu, 01 hộp nhựa chứa 10 nỏ thủy tinh đã qua sử dụng. Tiếp tục khám xét trong phòng tại tầng 2 của nhà thì tại kệ gỗ bên tường phải của phòng có 01 (một) gói nylon chứa chất bột màu trắng. Toàn bộ các gói nylon chứa tinh thể không màu, gói nylon chứa chất bột màu trắng và các viên nén là ma túy thuốc lắc và ma túy Ketamine và hàng đá của Trần Thế B mua về cất giấu để sử dụng như đã nêu trên, còn chiếc cân điện tử của Trần Thế B mua qua trang mạng xã hội Shopee với số tiền 300.000 đồng dùng để cân ma túy, riêng 02 gói nylon chứa tinh thể không màu Trần Thế B khai nhận là đường phèn Trần Thế B mua với số tiền 40.000 đồng. Đồng thời, Trần Thế B khai nhận toàn bộ số nỏ thủy tinh mà Công an thu giữ là dụng cụ sử dụng ma túy Trần Thế B mua của những người bán thuốc lá trên vỉa hè ở khu vực cầu T, quận T với số tiền 7000 đồng một chiếc nỏ thủy tinh. Tổ công tác đã lập Biên bản niêm phong, thu giữ toàn bộ vật chứng và đưa Trần Thế B cùng tang vật về Cơ quan Công an lập Biên bản bắt người phạm tội quả tang.
Căn cứ Bản kết luận giám định số 4464/KLGĐ-MT ngày 05/05/2023 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận:
- Gói 1: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m1 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,0047 g, loại Ketamine.
- Gói 2:
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m2 cần giám định có khối lượng 270, 87g, không tìm thấy ma túy;
- Tinh thể màu vàng được ký hiệu mẫu m3 cần giám định có khối lượng 4,0073g, không tìm thấy ma túy;
- Gói 3:
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m4 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 2,6307 g, loại Methamphetamine;
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m5 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 13,6995 g, không tìm thấy ma túy;
- Tinh thể không màu được ký hiệu mẫu m6 cần giám định là ma túy ở thể rắn có khối lượng 2,5292 g, loại Ketamine.
- 04 viên nén màu nâu được ký hiệu mẫu m7 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 1,9490 g, loại MDMA;
- 02 viên nén màu xanh hình tròn được ký hiệu mẫu m8 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 0,6427 g, loại MDMA;
- 09 viên nén màu xanh lá được ký hiệu mẫu m9 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 3,2412 g, loại MDMA;
- 01 viên nén màu cam được ký hiệu mẫu m10 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,4047 g, loại MDMA.
- 13 viên nén màu tím được ký hiệu mẫu m11 cần giám định đều là ma túy ở thể rắn, có tổng khối lượng 6,4444 g, loại MDMA.
- Gói 4: Bột màu trắng được ký hiệu mẫu m12 cần giám định là ma túy ở thể rắn, có khối lượng 0,3554 g, loại Ketamine.(BL: 77-78).
Vật chứng vụ án gồm :
- Gói 1: Mẫu m1 đã sử dụng hết; gói 2: tinh thể không màu (m2) có khối lượng 261,56 g, tinh thể màu vàng (m3) có khối lượng 3,4141g; gói 3: tinh thể không màu (m4) có khối lượng 2,5443 g, tinh thể không màu (m5) có khối lượng 13,0547 g; tinh thể không màu (m6) có khối lượng 2,4520 g, phần còn lại của mẫu m7 có tổng khối lượng 1,4573 g, phần còn lại của mẫu m8 có tổng khối lượng 0,4984 g, phần còn lại của mẫu m9 có tổng khối lượng 2,5160 g, phần còn lại của mẫu m10 có khối lượng 0,2861 g, phần còn lại của mẫu m11 có tổng khối lượng 5,4555 g; gói 4: Bột màu trắng (m12) có khối lượng 0,2917 g; đã được niêm phong có chữ ký của giám định viên và cán bộ điều tra là ma túy còn lại sau giám định.
- 01 điện thoại hiệu Iphone, sim số 0705.505.xxx (tài sản cá nhân của Trần Thế B);
- 01 điện thoại di động hiệu S (tài sản cá nhân của Trần Thế B);
- 01 hộp gỗ, 01 cân tiểu ly;
- 50 nỏ thủy tinh và 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa;
- 01 hộp nhựa chứa 10 nỏ thủy tinh;
- 100 tờ tiền mệnh giá 100.000 đồng; 160 tờ tiền mệnh giá 500.000 đồng và 110 tờ tiền mệnh giá 200.000 đồng. Tồng 112.000.000 đồng.
Cơ quan điều tra đã nhập kho vật chứng theo Lệnh nhập kho vật chứng số 122 ngày 30/05/2023 và Phiếu nhập kho vật chứng số 110/PNK ngày 31/05/2023.(BL: 112-113).
01 (một) xe gắn máy hiệu SH biển số 59F2-299.00, Số máy: KF08E1076674KTGE1, Số khung: ZDCKF10B0BF105358. Qua xác minh chiếc xe trên do anh Huỳnh Tự T, địa chỉ: 6, phường T, Quận A đứng tên chủ sở hữu. Anh Huỳnh Tự T khai mua chiếc xe trên năm 2022 và có đưa xe nhờ Trần Thế B sửa xe và thay nhớt, sau đó mới biết Trần Thế B bị bắt và chiếc xe đang bị Công an quận G tạm giữ. Cơ quan điều tra đã trả lại chiếc xe trên cho anh Huỳnh Tự T .
Tại bản cáo trạng số 17/Ctr-VKS-GV, ngày 04/01/2024 Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp đã truy tố bị cáo Trần T1 bảo về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm n khoản 2 Điều 249 và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” điểm đ khoản 2 điều 254 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà Đại diện Viện kiểm sát sau khi luận tội và đưa ra quan điểm xét xử đã đề nghị căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; Điểm đ khoản 2 điều 254; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Xử phạt bị cáo Trần Thế B từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, từ 05 năm đến 05 năm 06 tháng tù về tội Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy. Tổng hợp hình phạt của 02 tội danh, buộc bị cáo phải chấp hành hình chung từ 10 năm đến 11 năm tù.
- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Thế B và hình dấu Công an phường C1, quận G đã được niêm phong, bên trong chứa ma túy có khối lượng: 2,6307 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 2,8893 gam ma túy ở thể rắn loại Ketamine; 12,682 gam ma túy ở thể rắn loại MDMA
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Iphone, sim số 0705.505.xxx, 01 điện thoại di động hiệu S và số tiền 112.000.000 đồng
- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp gỗ, 01 cân tiểu ly, 50 nỏ thủy tinh và 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa, 01 hộp nhựa chứa 10 nỏ thủy tinh;
- Miễn phạt bổ sung cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận G, Tp . Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, Tp ., Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Tại phiên toà hôm nay, sau khi Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp công bố bản cáo trạng thì bị cáo đã khai nhận hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” như nội dung bản cáo trạng đã nêu. Nhưng bị cáo đề nghị hội đồng xét xử xem xét lại khung hình phạt mà Viện kiển sát truy tố bị cáo ở khoản 2 điều 254 của bộ luật hình sự về tội Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy là chưa đúng với hành vi của bị cáo vì 50 nỏ thủy tinh đựng trong hộp gỗ bị cáo cũng không mua và không tàng trữ như nội dung bản cáo trạng truy tố mà 50 nỏ thủy tinh trên là của người bạn tên K ngoài xã hội gửi cho bị cáo nói đi công việc một chút nữa sẽ quay lại lấy và bị cáo không biết trong hộp gỗ đó chứa 50 nỏ thủy tinh, đến khi công an bắt thì bị cáo mới biết trong trong hộp gỗ chứa 50 nỏ thủy tinh, bị cáo chỉ mua mỗi lần 20 cái nỏ để sử dụng từ từ, và bị hư hết 10 cái bị cáo đã bỏ, khi công an khám xét thì thu 10 cái nỏ bên ngoài là của bị cáo tàng trữ để sử dụng ma túy.
Hội đồng xét xử xét thấy tại các lời khai của bị cáo khi bị khởi tố về tội tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất và sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo không thừa nhận 50 nỏ thủy tinh trong hộp gỗ là của bị cáo, bị cáo chỉ biết đó là nỏ thủy tinh khi công an khám xét nhà bị cáo, khi mở ra bị cáo mới biết là nỏ thủy tinh, hộp gỗ trên là do một người bạn tên K gửi để đi ra ngoài đi công việc chút nữa sẽ quay lại lấy, chứ bị cáo không biết bên trong hộp gỗ chứa gì, Hội đồng xét xử đã trả hồ sơ bổ sung cho Viện Kiểm sát điều tra vấn đề trên tại phiên tòa ngày 05/03/2024 để xem xét lại khung hình phạt mà Viện kiểm sát truy tố đối với bị cáo, nhưng Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo B ở điểm đ khoản 2 điều 254 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo B vẫn khẳng định bị cáo không biết trong hộp gỗ chứa 50 nỏ thủy tinh để dùng vào việc sử dụng trái phép chất ma túy, bị cáo chỉ thừa nhận 10 chiếc nỏ thủy tinh khi thu giữ ở nhà bị cáo là của bị cáo dùng để sử dụng ma túy. Hội đồng xét xử xét thấy hành vi tàng trữ dụng cụ sử dụng trái pháp chất ma túy, bị cáo phải biết đó là dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy nhưng bị cáo không biết trong hộp gỗ do tên K gửi là chứa 50 nỏ thủy tinh để sử dụng trái phép chất ma túy nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo B theo điểm đ khoản 2 điều 254 là chưa đúng với hành vi phạm tội của bị cáo, nên Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 298 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 xử bị cáo Trần Thế B ở điểm b khoản 1 điều 254 của Bộ luật hình sự.
[2] Lời khai nhận tội của bị cáo hoàn toàn phù hợp với bản kết luận điều tra của Công an quận G, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp, biên bản phạm pháp quả tang và tang vật thu giữ, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Đối chiếu với các điều luật tương ứng do Bộ luật Hình sự quy định. Hội đồng xét xử thấy có đủ cơ sở pháp lý để cho rằng hành vi của bị cáo Trần Thế B đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” tội phạm và hình phạt trừng trị được quy định tại Điều 249 và 254 của Bộ luật Hình sự.
[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội. Bởi lẽ, đã xâm phạm đến sự quản lý của Nhà nước về các chất ma tuý, đã xâm phạm và làm ảnh hưởng đến chính sách quản lý kinh tế, an ninh quốc gia, gây mất trật tự trị an xã hội và là nguồn gốc phát sinh các tội phạm khác.
[4] Mặc dù bị cáo nhận thức được việc tàng trữ, vận chuyển, sử dụng và mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ dụng cụ dùng vào sử dụng trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghiêm cấm và nếu vi phạm sẽ bị trừng trị nghiêm khắc, nhưng bị cáo vẫn ngang nhiên tàng trữ trái phép chất ma tuý và dụng cụ để sử dụng ma túy, bất chấp những quy định của pháp luật, bất chấp mọi hậu quả xảy ra kể cả việc trừng trị của pháp luật, cần thiết phải có mức hình phạt thật nghiêm khắc đối với bị cáo. Số ma túy bị cáo tàng trữ trái phép qua giám định có khối lượng: 2,6307 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 2,8893 gam ma túy ở thể rắn loại Ketamine; 12,682 gam ma túy ở thể rắn loại MDMA và 10 cái nỏ thủy tinh dùng để sử dụng ma túy, mặt khác bị cáo có nhân thân xấu. Nên Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp truy tố bị cáo về tội tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm n khoản 2 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy là có cơ sở, do đó Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài nhằm tạo điều kiện cho bị cáo phấn đấu trở thành người tốt hơn sau này biết tôn trọng pháp luật đồng thời cũng nhằm răn đe, phòng ngừa tội phạm chung.
[5] Tuy nhiên khi lượng hình cần xem xét các tình tiết, tại Cơ quan điều tra cũng như qua diễn biến phiên toà hôm nay bị cáo đã thành khẩn khai báo và ăn năn hối cải, gia đình bị cáo thuộc thành phần lao động nghèo, để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo mà lẽ ra bị cáo phải chịu. Do bị cáo phạm 02 tội nên Hội đồng xét xử áp điều 55 của Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt đối với bị cáo.
[6] Về hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 249 và khoản 3 điều 254 của Bộ luật Hình sự Hội đồng xét tính chất vụ án và hoàn cảnh của bị cáo nên quyết định miễn phạt cho bị cáo.
[7] Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 gói đã được niêm phong bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Thế B và hình dấu Công an phường C1, quận G, có khối lượng: 2,6307 gam ma túy ở thể rắn, loại Methamphetamine; 2,8893 gam ma túy ở thể rắn loại Ketamine; 12,682 gam ma túy ở thể rắn loại MDMA là chất Nhà nước cấm lưu hành nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy.
- Đối với chiếc điện thoại hiệu Iphone, sim số 0705.505.xxx, điện thoại di động hiệu S và số tiền 112.000.000 đồng là tài sản riêng bị cáo không liên quan đến vụ án, Hội đồng xét xử quyết định trả lại cho bị cáo.
- Đối với 01 hộp gỗ, 01 cân tiểu ly, 50 nỏ thủy tinh và 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa, 01 hộp nhựa chứa 10 nỏ thủy tinh là vật chứng vụ án không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng xét xử quyết định tịch thu tiêu hủy,
- Đối với đối tượng bán ma túy cho bị cáo, và tên K là người gửi hộp gỗ chứa 50 nỏ thủy tinh do chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục áp dụng các biện pháp điều tra xác minh, nếu xác định được đề nghị xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Trần Thế B phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “ Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy” ;
Căn cứ vào điểm n khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Trần Thế B 05(năm) năm tù.
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 254; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 298 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Xử phạt bị cáo Trần Thế B 01(một) năm tù.
Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017;
Tổng hợp hình phạt của hai tội danh, buộc bị cáo chấp hành hình phạt chung là 06(sáu) năm tù. Thời hạn tù được tính kể từ ngày 28/04/2023
Áp dụng Điều 47, 48 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu và tiêu hủy 01 gói bên ngoài có chữ ký ghi tên Trần Thế B và hình dấu Công an phường C1, quận G đã được niêm phong, bên trong chứa ma túy có khối lượng: 2,6307 gam ma túy ở thể rắn loại Methamphetamine; 2,8893 gam ma túy ở thể rắn loại Ketamine; 12,682 gam ma túy ở thể rắn loại MDMA
- Trả lại cho bị cáo 01 điện thoại hiệu Iphone, sim số 0705.505.xxx, 01 điện thoại di động hiệu S và số tiền 112.000.000 đồng
- Tịch thu tiêu hủy 01 hộp gỗ, 01 cân tiểu ly, 50 nỏ thủy tinh và 01 bình nhựa có gắn nỏ thủy tinh và ống hút nhựa, 01 hộp nhựa chứa 10 nỏ thủy tinh;
Theo (Phiếu nhập kho vật chứng số 122/PNK ngày 30/05/2022 và phiếu nhập kho vật chứng ngày 31/05/2023 của Công an quận G).
Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày tính kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Căn cứ Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế theo quy định tại Điều 6, Điều 7, 7a, 7b, Điều 9 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành được thực hiện tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự năm 2008, sửa đổi, bổ sung năm 2014.
Nơi nhân:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Tường Linh |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 03/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (tàng trữ trái phép chất ma túy và tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tàng trữ trái phép chất ma túy và Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 03/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trần Thế B phạm tội “ Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tàng trữ dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma túy”
