Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN Ý YÊN

TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2023/HS-ST

Ngày: 02-11-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Anh

  • - Các Hội thẩm nhân dân:

    1. Ông Nguyễn Trọng Tảo

    2. Ông Nguyễn Xuân Định

  • - Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định.

  • - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định tham gia phiên toà: Ông Hoàng Minh Tâm - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 11 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 78/2023/TLST-HS ngày 02 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2023/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 10 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Bùi Thanh T, tên gọi khác: Không; Sinh năm 1990; nơi cư trú: Thôn H, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; nghề nghiệp: Làm ruộng; văn hóa: 12/12; tôn giáo: Không; Con ông: Bùi Văn T1; con bà Nguyễn Thị T2; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ 2; Vợ: Lê Thị P, sinh năm 1989; có 02 con: Lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; Biện pháp ngăn chặn: Bị cáo bị bắt truy nã, tạm giữ từ ngày 07/6/2023 đến ngày 10/6/2023 chuyển tạm giam. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Ý.

Bị hại: Chị Phạm Thị T3 - Sinh năm 1994

Nơi cư trú: Thôn K, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Anh Phạm Hữu Đ - Sinh năm 2000.

Nơi cư trú: Thôn V, xã Y, huyện Ý, tỉnh Nam Định.

Người làm chứng:

Anh Nguyễn Văn H - Sinh năm 2004

Anh Đặng Văn T4 - Sinh năm 1982

Bị cáo có mặt. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng tháng 7/2021, Phạm Hữu Đ có quen biết và nảy sinh tình cảm với chị Phạm Thị T3, chị T3 có chồng là Đặng Văn T4 tại thôn K, xã Y. Đ có vay tiền của chị T3 một số lần và cũng được chị T3 cho tiền để tiêu sài cá nhân. Khoảng cuối tháng 7/2021, biết chị T3 có tiền và thường cho Đ tiền nên Bùi Thanh T đã bàn bạc với Đ với nội dung là Đ sẽ rủ chị T3 vào nhà nghỉ để quan hệ tình dục, rồi Đ sử dụng điện thoại của T để quay video rồi sử dụng đoạn video đó để yêu cầu chị T3 đưa cho Đ 40 triệu đồng. Khi chị T3 đi chăm mẹ chồng ốm phải nhập viện ở thành phố N. T đã nói với Đ rủ chị T3 vào nhà nghỉ để quan hệ tình dục rồi quay lại video, Đ đồng ý. Sau đó, T gọi taxi cho Đ đi ra thành phố N và cho Đ mượn điện thoại của T để Đ quay video. Đ đến gặp chị T3 rồi cùng chị T3 vào một nhà nghỉ trên địa bàn thành phố N để quan hệ tình dục, khi quan hệ xong, chị T3 ngồi trên giường mặc áo thì Đ dùng điện thoại mượn của T quay lại video hình ảnh của chị T3 dài khoảng 7-8 giây. Sau đó, Đ mang đoạn video này về đưa cho T xem. Hôm sau, T gọi điện cho chị T3 nói có video của chị T3 và Đ trong nhà nghỉ và nói Đ nợ T số tiền 40.000.000 đồng yêu cầu chị T trả nợ thay cho Đ. Sau đó, chị T3 gọi điện cho Đ hỏi thì Đ nói: “Có vay của T số tiền 40 triệu đồng”. Đ gọi điện, nhắn tin cho chị T3 bảo chị T3 đưa cho Đ số tiền 40.000.000 đồng để trả cho T thì T sẽ đưa video trong nhà nghỉ của chị T3 để xóa video và nói nếu không đưa tiền thì T sẽ đưa video cho anh T4, chồng chị T3 xem. Sau đó Đ nhiều lần gọi điện, nhắn tin yêu cầu chị T3 chuyển tiền cho Đ để đưa cho T. Khi chị T3 chưa có tiền để đưa cho Đ thì T đã đến gia đình chị T3 gặp anh T4 để nói chuyện nhưng chị T3 không có ở nhà nên anh T4 gọi điện cho chị T3 thì chị T3 nói không biết chuyện gì, chị T3 lo sợ không đưa tiền cho Đ và T thì sẽ bị lộ việc có quan hệ tình cảm với Đ sẽ ảnh hưởng đến danh dự bản thân và hạnh phúc gia đình. Sau đó, chị T3 đã nhiều lần đưa tiền mặt và chuyển cho Đ với tổng số tiền là 40.000.000 đồng. Khi nhận được tiền thì Đ có chia cho T 15 triệu đồng, bản thân Đ giữ lại 25 triệu đồng. Đến khoảng tháng 8/2021 Đ tiếp tục nói với chị T3 là người khác cũng có video của chị T3 và yêu cầu chị T3 đưa số tiền 10.000.000 đồng để xóa video. Do lo sợ chị T3 đã chuyển cho Đ số tiền 10.000.000 đồng. Sau khi nhận được tiền của chị T3, Đ chi tiêu cá nhân hết.

Đến khoảng cuối tháng 10/2021 chị T3 có gặp T để hỏi về việc tiền nong với Đ thì T nói với chị T3 là Đ lừa tiền chị đấy. Chị T3 gọi điện cho Đ hẹn xuống nhà T nói chuyện cho rõ ràng. Chị T3 đi một mình lên thôn H, xã Y đợi Đ, Đ đến gặp Lê Mạnh H1, sinh năm 1977 trú tại thôn D, xã Y nhờ H1 đi cùng Đ đến gặp, nói chuyện với T, H1 rủ thêm Mai Đức K, sinh năm 1996 trú tại thôn A, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam và Nguyễn Thế T5, sinh năm 2001 ở tổ H thị trấn L, huyện Ý, tỉnh Nam Định đi cùng. Đến nơi, do T không có nhà nên tất cả ra về. Mấy hôm sau K đòi Đ trả tiền công việc K đi cùng Đ nhưng Đ không có tiền trả thì K báo với Đ đến gặp chị T3 để hỏi xin tiền chị T3 để trả Kháng. Đ đến hỏi chị T3 để lấy tiền trả công cho K nhưng chị T3 không đồng ý. K báo Đ đưa K đến nhà chị T3 để đòi tiền công nhưng vợ chồng chị T3, anh T4 không đồng ý trả với lý do chị T3 không nhờ, không thuê ai đòi tiền hay làm việc gì cả. Sau đó K nhiều lần gọi điện cho anh T4 nói có video của chị T3 trong nhà nghỉ, yêu cầu anh T4 phải đưa số tiền 10.000.000 đồng thì sẽ đưa video của chị T3 cho anh T4. Lúc này việc chị T3 có quan hệ tình cảm và có video trong nhà nghỉ với Đ bị anh T4 biết nên chị T3 làm đơn tố cáo hành vi chiếm đoạt tiền của Đ, T.

Ngày 14/7/2022, cơ quan CSĐT đó ra Quyết định khởi tố vụ án hình sự, Quyết định khởi tố bị can đối với Phạm Hữu Đ, Bùi Thanh T, Mai Đức K về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 170 BLHS.

Tại bản án số 05/2023/HSST ngày 19/01/2023 của TAND huyện Ý Yên đã xử phạt Phạm Hữu Đ 36 tháng tù. Tại bản án số tại bản án số 12/2023/HSST ngày 21/02/2023 của TAND huyện Ý Yên đã xử phạt Mai Đức K 15 tháng tù.

Do T bỏ trốn, nên ngày 01/8/2022, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý ra quyết định truy nã. Ngày 07/6/2023, Bùi Thanh T bị bắt theo quyết định truy nã. Cơ quan CSĐT Công an huyện Ý ra quyết định phục hồi điều tra vụ án đối với bị can T.

Quá trình điều tra, cơ quan CSĐT Công an huyện Ý đã tạm giữ của T 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu trắng đã cũ và 300.000 đồng.

Đối với số tiền các bị cáo đó chiếm đoạt của chị Phạm Thị T3, Phạm Hữu Đ đã tác động gia đình trả lại cho chị T3 số tiền là 50.000.000 đồng. Chị Phạm Thị T3 và anh Đặng Văn T4 không có yêu cầu gì thêm.

Bản cáo trạng số 78/CTR-VKS-YY ngày 29 tháng 9 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên tỉnh Nam Định truy tố Bùi Thanh T về tội "Cưỡng đoạt tài sản" theo quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên toà: Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi như bản cáo trạng đã truy tố, và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo đồng ý trả cho Phạm Hữu Đ số tiền 15 triệu đồng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo như cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản". Áp dụng khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt Bùi Thanh T từ 12 đến 15 tháng tù. Thời hạn từ tính từ ngày bị tạm giữ, ngày 07/6/2023

Hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Phạm Hữu Đ yêu cầu bị cáo Bùi Thanh T phải hoàn lại cho Đ số tiền 15.000.000 đồng mà Đ đã chia cho T. Nên căn cứ vào Điều 288 của Bộ luật dân sự cần buộc bị cáo Bùi Thanh T hoàn trả lại cho Phạm Tiến Đ1 số tiền 15.000.000 đồng.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội đồng xét xử tuyên trả lại cho bị cáo 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu trắng đã cũ; số tiền 300.000 đồng.

Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về giúp đõ gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Ý Yên tỉnh Ý, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đảm bảo đúng quy định của pháp luật.

[2] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của người bị hại, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nên Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 7 đến tháng 8/2021, Bùi Thanh T và Phạm Hữu Đ đã bàn bạc thống nhất, Phạm Hữu Đ rủ chị Phạm Thị T3 vào nhà nghỉ để quan hệ tình dục, Đ sẽ quay lại video rồi dùng video đó để ép chị T3 phải đưa tiền cho Đ. Sau khi quan hệ tình dục với chị T3, Đ sử dụng điện thoại di động mượn của Bùi Thanh T quay lại hình ảnh chị Phạm Thị T3 ngồi trên giường mặc áo thời lượng khoảng 7 đến 8 giây. Bùi Thanh T và Phạm Hữu Đ đã sử dụng đoạn Video này để đe dọa, uy hiếp tinh thần của chị Phạm Thị T3, làm chị Phạm Thị T3 lo sợ ảnh hưởng đến danh dự bản thân và hạnh phúc gia đình nên đã miễn cưỡng đưa số tiền 40.000.000 đồng theo yêu cầu của Phạm Hữu Đ và Bùi Thanh T.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền bảo hộ về tài sản và quyền nhân thân của công dân, được pháp luật bảo vệ. Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ được hành vi sử dụng đoạn video mà Phạm Hữu Đ đã quay lén chị Phạm Thị T3 mặc áo để uy hiếp tinh thần của chị T3 với mục đích nhằm chiếm đoạt bằng được tài sản của chị T3. Do đó, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 170 của Bộ luật Hình sự như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn là tình tiết giảm nhẹ TNHS quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

[5] Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội đối với hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo; căn cứ vào các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

[6] Về hình phạt bổ sung: Bị cáo làm nghề tự do thu nhập không ổn định nên HĐXX xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Số tiền Phạm Hữu Đ và Bùi Thanh T chiếm đoạt của chị Phạm Thị T3 là 40.000.000 đồng. Phạm Hữu Đ đã tác động với gia đình trả lại đầy đủ cho chị T3. Phạm Hữu Đ yêu cầu bị cáo Bùi Thanh T phải hoàn lại cho Đ số tiền 15.000.000 đồng mà Đ đã chia cho T. T đồng ý trả cho Đ số tiền này. Căn cứ vào Điều 288 của Bộ luật dân sự cần buộc bị cáo Bùi Thanh T hoàn trả lại cho Phạm Tiến Đ1 15.000.000 đồng.

[7] Xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử đồng ý với đề xuất xử lý vật chứng của đại diện Viện kiểm sát.

[8] Án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án buộc bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[9] Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo theo quy định tại các Điều 331, 332 và 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 170; điểm s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

    Tuyên bố bị cáo Bùi Thanh T phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản". Xử phạt bị cáo Bùi Thanh T 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ, ngày 07/6/2023.

  2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ vào Điều 288 của Bộ luật dân sự buộc bị cáo Bùi Thanh T phải trả cho Phạm Tiến Đ1 số tiền 15.000.000 đồng.

    Kể từ khi bản án có hiệu lực pháp luật và Phạm Tiến Đ1 có đơn yêu cầu thi hành án, bị cáo Bùi Thanh T phải chịu lãi suất đối với số tiền chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 tương ứng với thời gian chậm thi hành án.

  3. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả lại cho bị cáo Bùi Thanh T 01 điện thoại Iphone 7 Plus màu trắng đã cũ; số tiền 300.000 đồng. (Theo biên bản bàn giao vật chứng ngày 09/10/2023 giữa Công an huyện Ý với Chi cục thi hành án dân sự huyện Ý Yên).
  4. Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

    Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải nộp 200.000 đồng; Án phí dân sự: Bị cáo phải nộp 750.000 đồng.

  5. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.

    Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì bị cáo, bị hại có quyền tự nguyện thi hành án, thỏa thuận thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND tỉnh + huyện Ý Yên;
  • - Công an huyện;
  • - Chi cục THADS huyện Ý Yên;
  • - Bị cáo;
  • - UBND xã Yên Khang, huyện Ý Yên;
  • - Hồ sơ vụ án;
  • - Để THA hình sự.
  • - Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Vũ Văn Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2023/HS-ST ngày 02/11/2023 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH về cưỡng đoạt tài sản

  • Số bản án: 88/2023/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cưỡng đoạt tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/11/2023
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Ý YÊN, TỈNH NAM ĐỊNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Bị cáo Bùi Thanh T phạm tội "Cưỡng đoạt tài sản".
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger