|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày 12-6-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thanh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Trọng Phúc
2. Bà Phi Thị Thanh Huyền
- Thư ký phiên tòa: Bà Mai Thị Quyên, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Đặng Huyền Trang, Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 89/2024/TLST-HS ngày 17 tháng 5 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 31 tháng 5 năm 2024 đối với bị cáo: Hoàng Văn T, sinh ngày 17/12/1985 tại Thái Bình; nơi cư trú: Thôn P, xã V, thành phố T, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Thế L và bà Hoàng Thị D; vợ: Phạm Thị C, 02 con; tiền sự: Không; tiền án: Không. Bị cáo tạm giữ từ ngày 25/3/2024 đến ngày 31/3/2024 chuyển tạm giam, hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình (có mặt).
* Người chứng kiến:
- Anh Lê Thanh T1, sinh năm 1970; Nơi cư trú: Số nhà H, đường P, tổ A, phường Q, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
- Ông Lê Xuân T2, sinh năm 1962; Nơi cư trú: Số nhà A, ngõ F, đường B, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 10 giờ 30 phút ngày 25/3/2024, Hoàng Văn T đi xe ôm từ nhà đến khu vực đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì xuống xe, trả tiền xe ôm rồi đi bộ một đoạn, gặp và mua của một người nam giới, không biết tên, tuổi, địa chỉ 200.000 đồng được 01 gói ma túy. Sau đó T cầm gói ma túy vừa mua trong lòng bàn tay phải rồi đi bộ tìm chỗ để sử dụng. Đến khoảng 11 giờ cùng ngày, khi T đi đến khu vực ngã tư đường P giao với đường N, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình thì bị Tổ công tác Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình phát hiện. Tại đây, trước sự chứng kiến của ông Lê Thanh T1 và ông Lê Xuân T2, T tự giác đưa từ lòng bàn tay phải ra giao nộp cho tổ công tác 01 gói giấy bạc màu trắng, bên trong chứa chất bột màu trắng, dạng cục và khai nhận đó là ma túy, loại Heroin của T vừa mua để sử dụng cho bản thân.
Tại kết luận giám định số 409/KL-KTHS(MT) ngày 29/3/2024 của Phòng K Công an tỉnh T kết luận: Mẫu vật quản lý của Hoàng Văn T gửi giám định là ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1636 gam.
Cáo trạng số 95/CT-VKSTPTB ngày 16/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình truy tố ra trước Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình để xét xử đối với bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu; đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình vẫn giữ nguyên nội dung Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: tịch thu tiêu hủy số ma túy thu của bị cáo được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 409/KL-KTHS(MT) của Phòng K - Công an tỉnh T. Trả lại một điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh cho bị cáo T.
Bị cáo Hoàng Văn T đồng ý với tội danh Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình đã truy tố, không trình bày lời bào chữa và không có ý kiến tranh luận đối với bản luận tội của Kiểm sát viên.
Bị cáo Hoàng Văn T nói lời sau cùng: Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2]. Về căn cứ kết tội đối với bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo Hoàng Văn T khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản niêm phong vật chứng, kết luận giám định, lời khai của người chứng kiến và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Hồi 11 giờ ngày 25/3/2024, tại khu vực ngã tư đường P giao với đường N, tổ A, phường K, thành phố T, tỉnh Thái Bình Hoàng Văn T đã có hành vi tàng trữ trái phép trên người 01 gói ma túy, loại Heroin, có khối lượng 0,1636 gam, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo Hoàng Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quy định quản lý chất gây nghiện của Nhà nước. Nghiện ma tuý là tệ nạn đang được đấu tranh bài trừ ra khỏi đời sống xã hội. Bị cáo đã nhận thức đầy đủ về tính chất nguy hiểm cũng như hậu quả của hành vi do mình thực hiện, nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “1. Người nào tàng trữ trái phép chất ma túy mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm:...c) Heroin, C1, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA hoặc XLR-11 có khối lượng từ 0,1 gam đến dưới 05 gam; ...”. Như vậy, hành vi trên của bị cáo Hoàng Văn T đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
[3]. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình truy tố bị cáo Hoàng Văn T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4]. Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo: Bị cáo Hoàng Văn T không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[5]. Căn cứ vào tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian, để cải tạo, giáo dục bị cáo, góp phần đấu tranh phòng ngừa chung.
[6]. Khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự quy định: “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 500.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Xét thấy bị cáo tàng trữ ma túy để sử dụng cho bản thân, do đó không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[7]. Về xử lý vật chứng:
[7.1]. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, số ma túy thu giữ trong vụ án còn lại sau giám định là chất Nhà nước cấm lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
[7.2]. Đối một điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh. Cơ quan điều tra Công an thành phố T thu giữ của bị cáo T không liên quan đến việc phạm tội nên cần trả lại cho bị cáo chiếc điện thoại trên.
[8]. Về nguồn gốc số ma túy, bị cáo khai mua ma túy của một người nam giới, không biết tên, tuổi, địa chỉ tại khu vực đường T, tổ A, phường T, thành phố T, tỉnh Thái Bình, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T, tỉnh Thái Bình không có căn cứ để điều tra, xử lý.[9]. Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự; Điều 106; Điều 136; Điều 331; Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Hoàng Văn T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Hoàng Văn T 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ (ngày 25/3/2024).
- Về xử lý vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy toàn bộ số ma túy thu giữ của Hoàng Văn T còn lại sau giám định được niêm phong trong phong bì hoàn trả mẫu vật giám định số 409/KL-KTHS (MT) của Phòng K Công an tỉnh T.
- Trả lại một điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu xanh cho bị cáo Hoàng Văn T.
(Vật chứng trên đã được chuyển đến Chi Cục Thi hành án dân sự thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình, thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 17/5/2024).
- Về án phí: Bị cáo Hoàng Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Hoàng Văn T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 12/6/2024).
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Thanh |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 12/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/06/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hoàng Văn T
