Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÒN ĐẤT

TỈNH KIÊN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 01/7/2024

Tranh chấp xin ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lâm Nguyễn Thanh Huy;

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Kim Hoa;

Bà Hà Thị Kim Thu.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Mộng Trinh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Thuộc trường hợp Viện Kiểm sát không tham gia phiên tòa.

Ngày 01 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 233/2024/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 về tranh chấp xin ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 85/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 5 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 38/2024/QĐST-HNGĐ ngày 13 tháng 6 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Ngô Thanh L (Nguyễn Thanh L1), sinh năm: 1972. Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Có đơn xin vắng mặt).

- Bị đơn: Chị Nguyễn Thị Kim L2, sinh năm: 1971. Địa chỉ: Tổ A, khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang (Vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn anh Ngô Thanh L trình bày như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 1997, anh và chị Nguyễn Thị Kim L2 tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 08/4/2019. Sau khi kết hôn, vợ chồng anh về sinh sống tại tổ A, khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang

Thời gian đầu cuộc sống vợ chồng rất hạnh phúc, đến cuối năm 2022 giữa anh và chị L2 thường xuyên phát sinh mâu thuẫn do chị L2 có người đàn ông khác, chị L2 không chăm lo cho gia đình, chồng con. Anh đã nhiều lần khuyên nhũ chị L2 từ bỏ, để đảm bảo cuộc sống hạnh phúc gia đình, nhưng chị L2 vẫn không sửa đổi, chứng nào tật nấy. Vì các lý do trên, anh nhận thấy vợ chồng không thể chung sống với nhau được nữa, anh muốn giải thoát cuộc hôn nhân này, để mỗi người có cuộc sống tốt đẹp hơn, nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L2

- Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống với nhau, anh và chị L2 có hai người con chung tên Ngô Tuấn S, sinh ngày 10/11/1997 và Ngô Thị Tuyết T, sinh ngày 13/5/2005. Hiện nay, hai con đã trưởng thành và phát triển bình thường, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh L xác nhận quá trình chung sống giữa anh và chị L2 không có tài sản chung và nợ chung, nên không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.

Bị đơn chị Nguyễn Thị Kim L2:

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tiến hành tống đạt hợp lệ đạt Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận công khai chứng cứ, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, nhưng chị L2 đều vắng mặt, nên Tòa án không ghi nhận được ý kiến của chị L2 đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh luận tại phiên toà Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định như sau:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Theo nội dung đơn xin khởi kiện anh Ngô Thanh L yêu cầu được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L2. Xét thấy đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, bị đơn chị Nguyễn Thị Kim L2 có nơi cư trú tại tổ A, khu phố T, thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang, nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

[2] Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Ngô Thanh L có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn chị Nguyễn Thị Kim L2 đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai, nhưng vắng mặt. Căn cứ vào khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, HĐXX quyết định tiến hành xét xử trong trường hợp vắng mặt nguyên đơn và bị đơn tại phiên tòa.

[3] Về nội dung vụ án:

[3.1] Về quan hệ hôn nhân: Theo các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đương sự trong quá trình giải quyết vụ án, HĐXX có cơ sở xác định: Anh Ngô Thanh L và chị Nguyễn Thị Kim L2 tự tìm hiểu, yêu thương nhau, sau đó tiến đến hôn nhân, được hai bên gia đình thống nhất tổ chức lễ cưới, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân (UBND) thị trấn S, huyện H, tỉnh Kiên Giang cấp giấy chứng nhận kết hôn số 59 ngày 08/4/2019. Như vậy, hôn nhân giữa anh L với chị L2 là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ.

Xét yêu cầu của anh L về việc xin ly hôn với chị L2 thấy rằng: Trong quá trình chung sống giữa anh L và chị L2 có phát sinh mâu thuẫn, mà theo anh L cho rằng là do chị L2 có người đàn ông khác, chị L2 không chăm lo gia đình, chồng con. Anh đã nhiều lần khuyên nhũ chị L2 từ bỏ, để đảm bảo cuộc sống hạnh phúc gia đình, nhưng chị L2 vẫn không sửa đổi, chứng nào tật nấy.

Quá trình giải quyết vụ án Tòa án, tiến hành giải thích pháp luật và động viên anh L bỏ qua những lỗi lầm của chị L2, cho chị L2 thêm một cơ hội để đoàn tụ gia đình, nhưng anh L vẫn kiên quyết ly hôn với chị L2. Đồng thời Tòa án cũng tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị L2 nhiều lần, nhưng chị L2 vẫn vắng mặt và không thể hiện ý kiến của mình đối với yêu cầu của nguyên đơn, điều này chứng tỏ chị L2 cũng không muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng với anh L.

Từ đó thấy được mối quan hệ hôn nhân giữa anh L với chị L2 đã đến mức trầm trọng, tình cảm vợ chồng không còn và mục đích hôn nhân không đạt được, nên việc anh L yêu cầu được ly hôn với chị L2 là có cơ sở.

Căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, HĐXX chấp nhận cho anh Ngô Thanh L được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L2.

[3.2] Về quan hệ con chung: Anh L trình bày trong quá trình chung sống giữa anh và chị L2 có hai người con chung tên Ngô Tuấn S, sinh ngày 10/11/1997 và Ngô Thị Tuyết T, sinh ngày 13/5/2005. Hiện nay, hai con đã trưởng thành và phát triển bình thường, nên anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.

[3.3] Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh L xác nhận giữa anh và chị L2 không tài sản chung và nợ chung, nên anh L không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, HĐXX không giải quyết.

[4] Về án phí: Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, thì anh Ngô Thanh L phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 1 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 266, Điều 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

- Áp dụng khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Anh Ngô Thanh L được ly hôn với chị Nguyễn Thị Kim L2.
  2. Về quan hệ con chung: Anh Ngô Thanh L với chị Nguyễn Thị Kim L2 có hai người con chung tên Ngô Tuấn S, sinh ngày 10/11/1997 và Ngô Thị Tuyết T, sinh ngày 13/5/2005. Hiện nay, hai con đã trưởng thành và phát triển bình thường, nên Hội đồng xét xử không giải quyết.
  3. Về quan hệ tài sản chung và nợ chung: Anh Ngô Thanh L xác nhận giữa anh và chị Nguyễn Thị Kim L2 không tài sản chung và nợ chung, nên anh L không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Buộc anh Ngô Thanh L phải nộp án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng), nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà anh L đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001056 ngày 10 tháng 5 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hòn Đất, tỉnh Kiên Giang (Do Nguyễn Thanh L1 nộp). Anh L1 không phải nộp thêm.
  5. Quyền kháng cáo: Báo cho các đương sự có quyền kháng cáo Bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc kể từ ngày Bản án được niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Kiên Giang;
  • - VKSND huyện Hòn Đất;
  • - THADS huyện Hòn Đất;
  • - UBND thị trấn Sóc Sơn, Hòn Đất, Kiên Giang;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Lâm Nguyễn Thanh Huy

6. Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7, Điều 7a, Điều 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

5

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HNGĐ-ST ngày 01/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG về tranh chấp xin ly hôn

  • Số bản án: 88/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp xin ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 01/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÒN ĐẤT, TỈNH KIÊN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ngô Thanh L kiện Nguyễn Thị Kim L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger