|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày: 09-8-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Lịnh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quốc Thơ
Ông Nguyễn Văn Nồng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tấn Đạt - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang tham gia phiên tòa: Bà Lữ Thị Minh Cảnh - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Kiên Giang xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 67/2024/TLST-HS ngày 21 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 92/2024/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Danh Minh T, sinh ngày 01/01/1987 tại huyện G, tỉnh Kiên Giang. Nơi thường trú: Tổ G, ấp H, xã T, huyện G, tỉnh Kiên Giang; nghề nghiệp: Ngư phủ; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Khmer; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Danh D, sinh năm 1964 và bà Thị Lệ H, sinh năm 1965; chưa có vợ con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị tạm giữ: ngày 17/01/2024; tạm giam: ngày 26/01/2024 đến nay (Có mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 17/01/2024 Công an xã B kết hợp với Công an huyện C, tỉnh Kiên Giang tuần tra trên tuyến đường C - C thuộc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang, phát hiện Danh Minh T có biểu hiện nghi vấn, nên tiến hành kiểm tra, thu giữ trên người của T 01 khẩu súng ngắn màu đen, trắng, có ổ đạn quay, bên trong lắp sẵn 03 viên đạn kim loại màu vàng còn nguyên đầu đạn.
Quá trình điều tra Danh Minh T khai nhận: Vào khoảng năm 2014, T quen biết với người tên “Mỹ Đen” (không rõ tên thật và địa chỉ) rủ đi tàu đánh bắt thủy sản chung, trên đường về đến vùng biển Cà Mau khi ngồi uống rượu chung với L và B (không rõ tên thật và địa chỉ) cùng đi trên tàu, T nói muốn mua 01 khẩu súng để phòng thân, L ngỏ ý bán 01 khẩu súng giá 7.000.000đ, sau đó L mang súng ra bắn thử 03 viên đạn cho T xem và Bằng mượn bắn 01 viên, thấy được nên T đồng ý mua. Sau chuyến đi biển đó, T mang súng có lắp sẵn 03 viên đạn về cất giấu tại bãi đất trống gần cột điện ở gần cầu C. Đến khoảng tháng 10/2023, T đến chỗ cất giấu, đào lấy súng lên xem và dùng chai xịt RP7 xịt lao chùi chống rỉ sét rồi tiếp tục cất giấu súng vào chỗ cũ. Do có mâu thuẫn với người tên T1 (không rõ tên thật) ở ấp P, xã M, huyện C, tỉnh Kiên Giang, ngày 17/01/2024 T định đi gặp T1 giải quyết mâu thuẫn nên đến lấy súng mang theo để phòng thân. Lúc này, có người bạn tên V nhà ở huyện A gọi điện thoại kêu T qua nhà uống rượu, T đang đi bộ nên V kêu Ngô Thành T2 đến đón T, vì vậy T mang khẩu súng giấu ở đám cỏ ven đường chờ T2 đến đón để qua nhà V. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, T cùng T2 ra về, trên đường đi về T kêu T2 dừng xe để đi vệ sinh nhưng thực chất là để lấy khẩu súng đã giấu trước đó (T2 không biết T mang theo súng). Sau đó, T lên xe T2 chở đi đến đoạn gần Cống C, thuộc ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Kiên Giang thì bị lực lượng chức năng kiểm tra bắt quả tang, thu giữ 01 (một) khẩu súng và 03 viên đạn bằng kim loại.
* Vật chứng thu giữ gồm:
- + 01 (một) khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu đen, trắng, không rõ nhãn hiệu, bên trái ốp tay cầm có ký hiệu “ZP-5”.
- + 03 (ba) viên đạn màu vàng cỡ (5.6 x 15.5) mm.
* Tại bản Kết luận giám định số 1001/KL-KTHS, ngày 24/01/2024 của V1 Bộ C tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:
- Khẩu súng ổ quay gửi giám định nguyên là đồ chơi nguy hiểm được chế tạo thủ công để bắn với loại đạn thể thao cỡ (5.6 x 15.5) mm. Hiện tại, khẩu súng bắn được đạn nổ. Khẩu súng nêu trên là vũ khí có tính năng, tác dụng tương tự như vũ khí quân dụng và thuộc vũ khí quân dụng.
Sử dụng khẩu súng ổ quay nêu trên bắn với loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm trúng cơ thể người có thể gây thương tích hoặc tử vong.
- 03 (ba viên đạn gửi giám định là đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5) mm, không phải là vũ khí quân dụng và sử dụng để bắn được cho khẩu súng ổ quay nêu trên.
* Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra đã giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K quản lý, bảo quản 01 (một) khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu đen, trắng không rõ nhãn hiệu, bên trái ốp tay cầm có ký hiệu “ZP-5”, theo biên bản giao nhận ngày 13/6/2024.
Tại bản Cáo trạng số: 27/CT - VKSTKG-P1, ngày 19/6/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang truy tố bị cáo Danh Minh T về tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
* Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến:
- - Giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo Danh Minh T.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 304, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, tuyên bố bị cáo Danh Minh T phạm tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”; xử phạt bị cáo Danh Minh T từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù.
- - Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- + Tịch thu giao Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh K quản lý 01 (một) khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu đen, trắng không rõ nhãn hiệu, bên trái ốp tay cầm có ký hiệu “ZP-5”.
- + Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) viên đạn là loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm.
* Bị cáo Danh Minh T có ý kiến thừa nhận bản thân đã thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng như truy tố của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an tỉnh K, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Kiên Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về hành vi bị truy tố của bị cáo: Tại phiên tòa bị cáo Danh Minh T khai nhận bản thân đã thực hiện hành vi mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng như truy tố của Viện kiểm sát, cụ thể: năm 2014 T mua khẩu súng và 03 viên đạn giá 7.000.000đ của người tên L không rõ tên thật địa chỉ, sau đó đem về cất giấu. Đến khoảng tháng 10 năm 2023, T đến lấy khẩu súng lau chùi chống rỉ sét rồi tiếp tục cất giấu. Ngày 17/01/2024, T lấy khẩu súng mang theo trên người định đi gặp người tên T1 không rõ tên thật để giải quyết mâu thuẫn, trên đường đi thì bị Công an kiểm tra bắt giữ. Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các liệu chứng cứ có trong hồ sơ như lời khai của bị cáo giai đoạn trình điều tra; lời khai của người làm chứng; biên bản bắt người phạm tội quả tang; kết luận giám định... Từ đó có cơ sở để kết luận hành vi bị cáo Danh Minh T thực hiện đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng” theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự.
[3] Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo thấy rằng, hành vi của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự của Nhà nước. Hành vi phạm tội của bị cáo tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến tính mạng, sức khỏe người khác và gây ra các hậu quả xấu khác cho xã hội. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nên phải bị xử lý theo quy định.
[4] Về nhân thân và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo phạm tội không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo có người thân là người có công với cách mạng (ông Danh Đ, bà Trịnh Thị T3 là ông, bà ngoại của bị cáo được tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạnh Nhất, hạnh Nhì), nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Từ các phân tích trên, Hội đồng xét xử chấp nhận ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, xử phạt bị cáo một mức hình phạt tương xứng tính chất, mức độ phạm tội, để có thời gian giáo dục, cải tạo bị cáo, đồng thời cũng nhằm răn đe cảnh tỉnh chung.
[5] Về xử lý vậy chứng: căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử sẽ quyết định xử lý các vật chứng liên quan đến vụ án như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nêu trên.
[6] Về án phí: căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Danh Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Danh Minh T phạm tội “Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng”.
1. Căn cứ khoản 1 Điều 304; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Danh Minh T 01 (một) năm tù. Thời điểm chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 17/01/2024).
2. Về xử lý vật chứng, căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- - Tịch thu, giao Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh K quản lý 01 (một) khẩu súng ổ quay bằng kim loại màu đen, trắng, không rõ nhãn hiệu, bên trái ốp tay cầm có ký hiệu “ZP-5” (Cơ quan điều tra Công an tỉnh K đã giao cho Bộ chỉ huy Quân sự tỉnh K theo biên bản giao nhận ngày 13/6/2024).
- - Tịch thu tiêu hủy: 03 (ba) viên đạn là loại đạn thể thao cỡ (5,6 x 15,5)mm, không phải là vũ khí quân dụng và sử dụng để bắn được cho khẩu súng ổ quay (đã niêm phong) - Hiện Cục thi hành án dân sự tỉnh Kiên Giang đang quản lý theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 19/6/2024.
4. Về án phí, căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Danh Minh T phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 09/8/2024).
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Võ Văn Lịnh |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 09/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG về hình sự về tội mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội Mua bán, tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 09/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KIÊN GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Danh Minh Trí tàng trữ vũ khí quân dụng bị bắt
