Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2025/HSST

Ngày 28/5/2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Hồng Phúc

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. 1. Ông Mai Trọng Thắng;
  2. 2. Bà Hồ Thị Lệ Thu;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đào Tấn Sang - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Tuynh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28 tháng 5 năm 2025 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 69/2025/HSST ngày 02 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 90/2025/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Thu T, sinh ngày 14 tháng 8 năm 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nữ; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: KD31 H, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: 8/12; Con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Thu L; Bị cáo chưa có chồng con; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: (1) Năm 2002 bị Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đưa đi cai nghiện bắt buộc 05 năm tại Cơ sở cai nghiện P. Năm 2007 chấp hành xong về địa phương; (2) Năm 2009 bị Công an phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh đưa đi cai nghiện bắt buộc 04 năm tại Cơ sở cai nghiện T, Sông B. Năm 2013 chấp hành xong về địa phương; (3) Tháng 4 năm 2014 Nguyễn Thị Thu T bị Tòa án nhân dân Quận 7 xử 09 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tháng 01/2015 chấp hành xong hình phạt tù. Qua xác minh tại Chi cục thi hành án dân sự Quận 7, Nguyễn Thị Thu T đã chấp hành xong án phí dân sự. Bị cáo bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam từ ngày 09/12/2024. Bị cáo có mặt tại phiên toà.

Bị hại: Ông Nguyễn Lê T1, sinh năm 2006; Địa chỉ: A N, Khu phố D, phường T, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. 1/ Ông Nguyễn Hoàng A, sinh năm 1970; Địa chỉ: 4, Khu phố G, Thị trấn N, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
  2. 2/ Ông Đoàn Quốc B, sinh năm 1965; Địa chỉ: 6 P, phường N, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 03 giờ 55 phút, ngày 22/11/2024, Nguyễn Thị Thu T đi bộ từ Quận H qua Quận G mục đích tìm tài sản trộm cắp, khi đến Gara xe ER Auto; địa chỉ A N, phương T, Quận G, T đi vào bên trong phát hiện 01 điện thoại Iphone 13 màu xanh ngọc của anh Nguyễn Lê T1 đang sạc pin gần chỗ T2 đang nằm ngủ, T lấy trộm và đi bộ qua đường về hướng cầu T đón xe ôm đến quán nước của anh Đoàn Quốc B tại trước Bảo tàng Quận A. Tại đây T mượn anh B 30.000 đồng trả tiền xe ôm. Sau đó T hỏi anh B có biết ai mua điện thoại cũ không thì anh B gọi điện thoại cho báo cho Nguyễn Hoàng A thì Hoàng A đồng ý mua. Khi B về kiểm tra điện thoại, T nói với Hoàng A là điện thoại của T do bấm sai mật khẩu nhiều lần nên bị khoá màn hình nên Hoàng A đồng ý mua với giá 750.000 đồng, T đồng ý. Qua truy xét Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Q đưa T về trụ sở làm việc, T khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Theo kết luận định giá tài sản số 434/KLHĐ ĐGTS ngày 05/12/2024 của Hội đồng định giá tài sản Tố tụng Hình sự Ủy ban nhân dân Quận G, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh, 128Gb, đã qua sử dụng, có giá trị 10.000.000 đồng (mười triệu đồng).

Vật chứng vụ án:

Thu giữ của bị cáo Nguyễn Thị Thu T:

  • - 01 (một) áo ngắn tay màu xanh;
  • - 01 (một) chiếc quần dài màu trắng.

Bản cáo trạng số 65/CT-VKSQ7 ngày 27 tháng 3 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Thu T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại ông Nguyễn Lê T1 yêu cầu bồi thường số tiền 10.000.000 đồng. Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền trên cho bị hại.

Tại phiên tòa, bị cáo không tranh luận gì. Bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội phù hợp với nội dung vụ án đã được tóm tắt như trên, đã thể hiện sự ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;

Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Q, Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa, kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được có trong hồ sơ, xét đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 03 giờ 55 phút ngày 22/11/2024, bị cáo Nguyễn Thị Thu T đã lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Lê T1 tại cửa hàng của hàng Gara xe. Tài sản bị trộm cắp là một chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 13, màu xanh, 128Gb, đã qua sử dụng có giá trị tại thời điểm chiếm đoạt là 10.000.000 đồng. Vì vậy, hành vi của bị cáo cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”. Tội phạm và hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Thị Thu T được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố là đúng người, đúng tội.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản, đồng thời còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự, trị an. Bị cáo là người có đủ sức khỏe để lao động kiếm sống, bị cáo biết rõ tài sản đang thuộc sở hữu của người khác, nhưng do lười lao động mà lại muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài cho bản thân nên bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở về cách quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản. Bị cáo là người có nhân thân xấu, nhận thức rõ hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật nhưng bị cáo vẫn phạm tội. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm nhằm răn đe, giáo dục, cải tạo riêng và phòng ngừa chung trong xã hội

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Thu T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 nhằm thể hiện tính nhân đạo của pháp luật.

[5] Đối với Đoàn Quốc B, Nguyễn Hoàng A là người giới thiệu và mua điện thoại do bị cáo trộm cắp mà có nhưng B, Hoàng A không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ.

[6] Về xử lý vật chứng: 01 (một) áo ngắn tay màu xanh; 01 (một) chiếc quần dài màu trắng. Đây là quần áo của bị cáo T sử dụng đi trộm cắp tài sản, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

[7] Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Lê T1 số tiền 10.000.000 đồng.

[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

[9] Quyền kháng cáo: Bị cáo, người tham gia tố tụng có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Thu T 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù được tính từ ngày 09/12/2024.

  2. Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Tịch thu tiêu hủy 01 (một) áo ngắn tay màu xanh; 01 (một) chiếc quần dài màu trắng;

    (Theo Biên bản giao, nhận vật chứng số 122 ngày 02/6/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).

  3. Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo đồng ý bồi thường cho bị hại ông Nguyễn Lê T1 số tiền 10.000.000 đồng.
  4. Căn cứ Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Luật phí và lệ phí Tòa án năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Bị cáo Nguyễn Thị Thu T phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

  5. Về quyền, nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 được sửa đổi, bổ sung năm 2014.
  6. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Nguyễn Thị Thu T có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND Tp.HCM;
  • - VKSND Tp.HCM;
  • - VKSND Quận 7;
  • - Công an Quận 7;
  • - Chi cục THADS Quận 7;
  • - Sở Tư pháp Tp.HCM;
  • - Bị cáo;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, HS (TK Sang).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa




Đoàn Hồng Phúc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HSST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)

  • Số bản án: 88/2025/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger