Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BẮC NINH

TỈNH BẮC NINH

Bản án số: 88/2025/HS-ST

Ngày 26/02/2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thu Trang

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Văn Lưu - Giáo viên nghỉ hưu

Bà Nguyễn Thị Mai Hương - Giáo viên nghỉ hưu

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Tuyết Nhung, Thẩm tra viên chính Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 26 tháng 02 năm 2025, tại Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 75/2025/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2025/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 02 năm 2025 đối với các bị cáo:

  1. Trần Đức Q, sinh ngày 09/11/2007; HKTT: Khu K, phường K, TP B, tỉnh Bắc Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Trần Lê Q1, sinh năm 1983 và bà: Dương Thị X, sinh năm 1987; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Tại bản án số 281/2024/HSST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 8 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

    Năm 2023: Tại Quyết định số 52/QĐ-XPHC ngày 10/7/2023 Trần Đức Q bị Công an thành phố B xử phạt vi phạm hành chính hình thức cảnh cáo đối với hành vi “gây rối trật tự công cộng mà có mang theo các loại vũ khí thô sơ có khả năng sát thương”.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2024 đến nay, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt.

  2. Lê Duy T, sinh ngày 02/10/2006; HKTT: khu Y, phường T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 8/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Hồng Q2, sinh năm 1982 và bà: Nguyễn Thị Q3, sinh năm 1979; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Vợ, con: Chưa có; Tiền án: Không;

    Tiền sự: Ngày 13/3/2023 Lê Duy T bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 2.000.000đ, ngày 13/3/2023 T đã chấp hành xong.

    Ngày 10/4/2023 Lê Duy T bị Chủ tịch UBND phường T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp hành chính giáo dục tại xã, phường thị trấn 6 tháng, ngày 11/10/2023 T đã chấp hành xong.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2024 đến nay, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt.

  3. Vũ Văn H, sinh ngày 17/01/2005; HKTT: Thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Thiên chúa giáo; Con ông: Vũ Văn M, sinh năm 1974 và bà: Trịnh Thị N, sinh năm 1982; Gia đình có 02 chị em, bị cáo là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/9/2024 đến nay, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt.
  4. Vi Khánh T1, sinh ngày 11/8/2007; HKTT: Thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Nùng; Tôn giáo: Không; Con ông: Vi Văn P, sinh năm 1984 và bà: Mạc Thị T2, sinh năm 1986; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam: Từ ngày 22/9/2024 đến nay, hiện tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B. Có mặt.

*Người đại diện hợp pháp của bị cáo Trần Đức Q: Ông Trần Lê Q1, sinh năm 1983 (vắng mặt) và bà Dương Thị X, sinh năm 1987 (là bố mẹ đẻ của bị cáo Q) (Có mặt); Trú tại: Khu K, phường K, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

*Người đại diện hợp pháp của bị cáo Lê Duy T: Ông Lê Hồng Q2, sinh năm 1982 (vắng mặt) và bà Nguyễn Thị Q3, sinh năm 1979 (là bố mẹ đẻ của bị cáo T) (có mặt); Trú tại: Khu Y, phường T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh.

*Người đại diện hợp pháp của bị cáo Vi Khánh T1: Ông Vi Văn P, sinh năm 1984 (vắng mặt) và bà Mạc Thị T2, sinh năm 1986 (là bố mẹ đẻ của bị cáo T1) (có mặt); Trú tại T, V, H, Lạng Sơn.

*Người bào chữa cho bị cáo Q và bị cáo T: Bà Nguyễn Thị H1, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL tỉnh B. Có mặt.

*Người bào chữa cho bị cáo T1: Bà Nguyễn Thị C, Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm TGPL tỉnh B. Có mặt.

*Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

  1. Anh Trần Trọng H2, sinh ngày 09/11/2009, HKTT: Khu phố Ô, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  2. Anh Nguyễn Hữu P1, sinh ngày 30/10/2009, HKTT: Khu P, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  3. Trần Văn T3, sinh ngày 16/10/2009, HKTT: Khu P, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  4. Bà Ngô Thị T4, sinh năm 1991, HKTT: Khu P, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  5. Bà Phạm Thị L, sinh năm 1973, HKTT: Khu K, phường H, TP T, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.
  6. Anh Nguyễn Hữu T5, sinh ngày 06/5/2009, HKTT: Khu P, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh. Có mặt.
  7. Anh Bùi Anh Đ, sinh ngày 24/9/2008, HKTT: Khu V, phường V, TP B, tỉnh Bắc Ninh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/9/2024, nhóm thanh niên (gọi tắt là nhóm TP B) gồm có Trần Đức Q, sinh ngày 09/11/2007, HKTT: khu K, phường K, TP B, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô Honda Wave, màu đen, không gắn biển kiểm soát, chở Bùi Anh Đ, sinh ngày 24/9/2008, HKTT: khu V, phường V, TP B, tỉnh Bắc Ninh (chiếc xe do Đức mượn của người bạn gái là Nguyễn Thị Ngọc T6, sinh năm 2008 ở chung cư C, phường V, TP B); Lê Duy T, sinh ngày 02/10/2006, HKTT: khu Y, phường T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xám, không gắn biển kiểm soát (là xe mô tô do T mượn của người bạn tên là H3, không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể ở đâu) chở theo Vi Khánh T1, sinh ngày 11/8/2007, HKTT: thôn T, xã V, huyện H, tỉnh Lạng Sơn; Vũ Văn H, sinh ngày 17/01/2005, HKTT: thôn C, xã T, huyện T, tỉnh Thanh Hóa một mình điều khiển xe mô tô Honda Winer màu xám đen, không gắn biển kiểm soát (là xe Hoàng mượn của người bạn tên là D, không nhớ rõ tên tuổi địa chỉ ở đâu) cùng nhau đi lượn vòng quanh khu vực đường L, thành phố B. Khi cả nhóm đi đến khu vực ngã sáu trước cửa trung tâm thương mại V thuộc phường S, thành phố B thì gặp một nhóm thanh niên (gọi tắt là nhóm TP T) gồm: Trần Trọng H2, sinh ngày 09/11/2009, HKTT: khu phố Ô, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe Honda Wave màu tím than, BKS: 99AB-038.78 (là xe do Phạm Kiều M1, sinh ngày 28/02/2009, đưa cho H2 đi, đăng ký xe mang tên bà Phạm Thị L, sinh năm 1973, cùng trú tại khu K, phường H, TP T, tỉnh Bắc Ninh) chở theo Nguyễn Hữu P1, sinh ngày 30/10/2009, HKTT: khu P, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh; Nguyễn Văn T7, sinh ngày 25/01/2008, HKTT: khu X, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô Honda Wave màu tím than, không gắn biển kiểm soát chở theo Nguyễn Hữu T5, sinh ngày 06/5/2009, HKTT: khu P, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh (xe đăng ký mẹ đẻ của Thế là bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1985, HKTT: khu X, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh; Trần Văn T3, sinh ngày 16/10/2009, HKTT: khu P, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh điều khiển xe mô tô Honda Wave màu tím than, không gắn biển kiểm soát (xe đăng ký tên mẹ T3 là bà Ngô Thị T4, sinh năm 1991, HKTT: khu P, phường T, TP T, tỉnh Bắc Ninh) chở theo Vương Thị Hồng N2, sinh ngày 06/3/2009, HKTT: khu V, phường H, TP T, tỉnh Bắc Ninh; còn Phạm Kiều M1 một mình điều khiển xe mô tô Honda Vision màu xám, BKS: 99AB-054.02 (là xe do N2 đưa cho M1, đăng ký mang tên bố đẻ N2 là ông Vương Minh T8, sinh năm 1953, HKTT: khu V, phường H, TP T, tỉnh Bắc Ninh).

Khi hai nhóm đi gần nhau, do T7 điều khiển xe bấm còi to nên T5 ngồi sau chửi T7, nhưng lúc này Trần Đức Q nghĩ rằng nhóm TP T chửi nhóm của mình, nên cùng cả nhóm quay đầu xe đuổi theo nhóm TP T vào đường N đi về hướng chợ C, thuộc khu A, phường Đ, TP B; Phát hiện thấy nhóm TP B đuổi theo nhóm TP T đến gần quán N3 thì lúc này P1 cầm 01 bình xịt hơi cay (là của T3 mua trên mạng từ trước đó đưa cho Phong cầm) ngồi sau xe mô tô của H2, T5 ngồi sau xe mô tô của T7 cầm bình xịt hơi cay (là của T7 nhặt được ở đường trước đó cầm đi đưa cho T5) xịt về hướng nhóm TP B đuổi theo. Bị hơi cay làm cay mắt nên nhóm TP B dừng lại và rủ nhau đi về lấy hung khí, Quyền điều khiển xe chở Đức đi về quán I ở khu Y, phường K, TP B, Đ đi đến gốc cây ở bên cạnh quán lấy 01 thanh kiếm có chuôi nhựa dài 30cm, lưỡi kim loại dài 60cm (là thanh kiếm của Đ, trước đó 01 đến 2 tuần Đ nhặt được ở ngoài đường và cất dấu tại đây), Quyền mở cốp xe mô tô lấy 01 bình xịt hơi cay (là bình xịt hơi cay của Đ mua trên mạng trước đó khoảng 3 ngày và cất vào trong cốp xe) cầm ở tay, rồi tiếp tục điều khiển xe chở Đ ngồi sau cầm thanh kiếm kẹp vào hông xe bên phải. T điều khiển xe mô tô chở T1 và cùng H đi về quán K ở khu Y, phường K, TP B, tỉnh Bắc Ninh thấy có két vỏ chai bia để bên ngoài cửa quán nên T1 đã lấy 03 chai bia thủy tinh, H về phòng trọ gần đấy lấy 01 gậy bóng chày bằng kim loại màu đen dài 60cm (trước đó H mua trên mạng cất ở phòng trọ), sau đó cả nhóm tiếp tục đi ra khu vực ngã sáu và đi lòng vòng đường L để tìm nhóm TP T để đánh.

Sau khi xịt hơi cay nhóm TP B, nhóm TP T chạy thẳng rẽ vào công viên Nguyễn Văn C1 rồi đi lòng vòng ra đường L (riêng T3 điều khiển xe mô tô chở N2 tách nhóm đi về vòng xuyến Cát T9, rồi tiếp tục đi tìm nhóm TP T). Khi nhóm TP B đi trên đường L hướng về ngã sáu, đi đến gần tượng đài tưởng niệm các anh hùng liệt sỹ (tượng đài hoa sen) thì phát hiện nhóm TP T đi ngược lại hướng về cột đồng hồ nên nhóm TP B quay xe lại đuổi theo nhóm TP T, khi đuổi gần đến cột đồng hồ trước cửa ngân hàng S1 thì Q chở Đ vượt gần lên xe H2 đang chở P1, lúc này P1 đang cầm bình xịt hơi cay xịt vào nhóm của Q và dơ chiếc ô lên định vụt nhưng Q lạng xe tránh được và ép đầu xe H2, P1 dừng lại. Do sợ hãi, nên H2 và P1 bỏ xe lại chạy về hai hướng, P1 chạy trên đường N về hướng khu chợ Đ1 thì bị Quyền một mình điều khiển xe mô tô cầm theo bình xịt hơi cay đuổi kịp P1, lúc này P1 cũng xịt hơi cay về phía Q, Q liền vượt xe lên giữ được P1 và thu bình xịt hơi cay của P1 rồi chở P1 về cột đồng hồ để nói chuyện; còn H2 chạy về hướng Bệnh viện H5 thì bị Đ cầm kiếm chạy bộ đuổi theo một đoạn thì chặn được H2 rồi đưa H2 về cột đồng hồ chỗ P1 và H2 để lại xe mô tô. Lúc này, T, T1, H sau khi đuổi theo những người còn lại trong nhóm TP T không được nên quay lại khu vực cột đồng thì gặp Q chở P1 đến, T xuống xe dùng chân tay không đánh H2, Đ để kiếm vào hông xe của Q và dắt xe của H2, rồi Q chở H2, H chở P1 đi vào ngõ cạnh cửa hàng H6. Tại đây, P1 và H2 bị Q, Đ, T1, T, H dùng chân tay không đấm đá, sau đó T đi ra xe của Q lấy thanh kiếm gài ở hông xe Quyền đi đến chặt đứt phần chắn bùn nhựa gắn BKS: 99AB-038.78 xe mô tô của H2, rồi đưa cho H cầm, rồi để ở giá để hàng của xe H và tiếp tục chở H2, quá trình đi trên đường, H không để ý nên đã rơi mất phần chắn bùn gắn biển kiểm soát này ở dọc đường nhưng không rõ ở vị trị nào. Quyền điều khiển xe mô tô của Đ chở P1, T điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xám chở Đ gài kiếm ở hông xe, T1 một mình điều khiển xe của H2 và cùng nhau đi về khu vực cầu C để H2 và P1 gọi những người đi cùng nhóm Từ S đến nói chuyện.

Trên đường đi, đến khu vực ngã sáu thì cả nhóm gặp T3 điều khiển xe mô tô chở N2, lúc này Trọng dơ ngón tay thách thức nhóm TP B, nên Q đang chở P1, T chở Đ điều khiển xe đuổi theo xe của T3, còn H chở H2, T1 đi về khu vực cầu C. Khi Q, T, Đ, P1 đuổi T3 và N2 đến cây xăng A, thuộc phường V, TP B thì chặn được xe của T3. T xuống xe cầm kiếm dơ lên định chém T3 nhưng Q ra can ngăn, T không chém nữa mà dùng kiếm chặt rời phần chắn bùn nhựu đuôi xe không gắn biển kiểm soát xe của T3 rơi xuống đất nhưng không ai nhặt. Sau đó, Q bảo T, Đ đưa T3 và N2 cùng nhóm của mình quay về khu vực cầu cạn Yna để nói chuyện, khi về đến nơi thì gặp T1, H và H2 đang đứng đợi. Tại đây, T và T1 dùng chân tay không đấm đá T3. Một lát sau, nhóm TP B đưa P1, H2, T3, N2 đến chung cư H để tìm những người còn lại trong nhóm TP T. Khi đến chung cư H thì không tìm thấy ai, Q cầm dùi cui điện (là chiếc dùi cui điện trước đó Q nhặt ở khu vực khu công nghiệp Q mang theo) bấm “tạch, tạch” định dí vào người H2 nên H2, P1, T3 bỏ chạy, nhóm TP B đuổi theo quát thì H2 dừng lại, còn T3 và P1 chạy đi xa nên nhóm TP B không đuổi được. Lúc này, nhóm TP B đưa H2 và N2 về nhà nghỉ N4 ở khu Y, phường K, TP B, tại đây N2 nhờ Q và Đ đưa về nhà ở TP T thì Q đồng ý, Đ điều khiển xe mô tô chở N2, còn Q điều khiển xe mô tô một mình cùng đi về TP T để đưa N2 về, còn T, H, T1 đưa H2 ra cầu cạn Y ngồi đợi nhóm của Q.

Khi Q, Đ đưa N2 đi đến ngã tư rẽ vào chợ T11, thuộc phường T, TP T thì gặp T5, T7, M1 và Q2 (là bạn của T7 nhưng không rõ cụ thể, tên, tuổi địa chỉ) đang đứng ở vỉa hè bên cạnh xe mô tô Honda Wave của T5 và xe mô tô Honda Vision do M1 đi về, thì Q xuống xe cầm dùi cui điện dí vào người Thế thì T5, T7, M1 và Q2 bỏ chạy. Quá trình chạy T5 vứt bình xịt hơi cay ra đường, Q nhìn thấy nhặt lấy bình hơi cay cầm theo, sau đó Q và Đ đuổi được giữ được T5 và M1, lúc này M1 nhận ra xe mô tô Honda Wave mà Q điều khiển là xe của M1, nên M1 đòi xe và hỏi biển kiểm soát của xe ở đâu thì Q nói chiếc biển kiểm soát đang để ở TP B nên M1 đòi đi cùng để lấy chiếc biển kiểm soát của xe. Sau đó, Quyền một mình điều khiển xe mô tô Honda Wave của T5, Đ điều khiển xe mô tô Honda Wave của Đ chở N2, M1 điều khiển xe mô tô Honda Wave của M1 (đã bị chặt BKS), T5 một mình điều khiển xe mô tô Honda Vision màu xám đi về TP B. Khi đi đến ngã tư thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh thì T5 phóng xe bỏ đi, nhóm của Q tiếp tục đi về khu vực cầu C thì gặp H2 một mình vẫn đang ở đó, còn T1, H, T do không thấy Q và Đ nên bỏ đi về nhà. Do trời mưa, Q và Đ đưa H2, N2, M1 về nhà nghỉ N4 để nghỉ ngơi thì tất cả mọi người đồng ý, lúc này M1 đòi biển kiểm soát xe của M1 thì Q nói Hoàng cầm để mai Q lấy rồi sẽ liên lạc trả lại cho M1, M1 đồng ý sau đó cùng N2 đi xe Honda Wave của M1 về TP T. Q bảo H2 trời mưa nên ở lại nhà nghỉ ngủ sáng mai Quyền đưa H2 về thì H4 đồng ý, rồi Q, Đ, H2 lên phòng 303 nhà nghỉ N4 ngủ.

Hành vi của nhóm TP B gồm Trần Đức Q, Lê Duy T, Vi Khánh T1, Vũ Văn H và Bùi Anh Đ sử dụng xe mô tô, cầm hung khí, đi lòng vòng các tuyến đường từ ngã 6 thành phố B đến cột đồng hồ phường V, rồi quay lại nhiều lần đến khu vực cầu C, phường K, khu chung cư phường H, thành phố B để đánh nhóm TP T đã gây mất trật tự trị an địa phương, gây bức xúc trong quần chúng nhân dân. Nhóm TP T gồm T3, P1, H2 bị nhóm TP B dùng chân tay không đánh thì T3, P1 không bị thương tích gì, riêng H2 bị bầm tím ở tai bên trái, xước da bầm tím ở hai đầu gối, nhưng do thương tích nhẹ nên H2 không đi khám chữa điều trị tại đâu.

Đến hồi 14 giờ 30 phút ngày 22/9/2024, Bùi Anh Đ đến Cơ quan CSĐT Công an thành phố B khai báo nội dung vụ việc. Cùng ngày, Cơ quan điều tra đã tiến hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với Trần Đức Q, Vi Khánh T1, Vũ Văn H, Lê Duy T.

*Về vật chứng:

Quyền tự nguyện giao nộp: 04 bình xịt hơi cay nhãn hiệu NATO màu xanh lục bình hình trụ tròn, nắp màu đen; 01 chiếc dùi cui điện màu đen kích thước (10x01x02)cm, khi bấm phát ra tia điện. H tự nguyện giao nộp 01 thanh kiếm có chuôi gỗ dài 30cm, lưỡi kim loại dài 60cm, 1 lưỡi sắc; 01 gậy bóng chày kim loại màu sơn đen dài 60cm.

Trần Văn T3 tự nguyện giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda wave, mầu xanh bạc, không biển kiểm soát, số máy JA39E3019016, số khung: RLHJA3921PY409188, xe đã qua sử dụng. Nguyễn Hữu T5 giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, mầu xanh, không biển kiểm soát, số máy JA70E-0388162, số khung: RLHJA3938RY087211, xe đã qua sử dụng. Phạm Kiều M1 giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, mầu xanh, không biển kiểm soát, số máy JA70E-0478013, số khung: RLHJA3937RY149570, xe đã qua sử dụng. Vương Thị Hồng N2 giao nộp: 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, mầu xám, BKS: 99AB-054.02, xe đã qua sử dụng.

* Kết quả định giá tài sản:

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng số 304/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản TP B, tỉnh Bắc Ninh kết luận: 01 dè chắn bùn sau của xe mô tô nhãn hiệu Honda wave mầu xanh và 01 biển kiểm soát 99AB – 038.78 (là xe mô tô của Phạm Kiều M1), có giá là 290.000 đồng.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng số 306/KL-HĐĐGTS ngày 31/10/2024 của Hội đồng định giá tài sản TP B, tỉnh Bắc Ninh kết luận: 01 dè chắn bùn sau của xe mô tô nhãn hiệu Honda wave mầu xanh bạc (là xe mô tô của Trần Văn T3), có giá là 240.000 đồng.

* Kết quả trưng cầu giám định:

Cơ quan CSĐT Công an T đã ra Quyết định trưng cầu Trung tâm giám định pháp y – Sở Y tế tỉnh B giám định tỉ lệ phần trăm thương tích của Trần Trọng H2 nhưng H2 có đơn xin từ chối giám định thương tích của bản thân. Đã ra quyết định áp giải nhưng H2 cương quyết từ chối, nên không có cơ sở giám định.

Tại bản kết luận giám định số 2642; 2643, 2644, 2645/KL-KTHS ngày 13/11/2024 của phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: số máy, số khung đóng thực tế trên xe mô tô Honda wave, xe Honda Vision (là xe mô tô do Phạm Kiều M1, Trần Văn T3, Nguyễn Hữu T5, Vương Thị Hồng N2 đi) không bị tẩy xoá, không bị đóng đục lại, số máy, số khung trên xe là nguyên thuỷ.

Với nội dung trên, Cáo trạng số: 17/CT-VKSTPBN ngày 10 tháng 01 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh truy tố các bị cáo Trần Đức Q, Lê Duy T, Vũ Văn H và Vi Khánh T1 về tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà hôm nay các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và đều thừa nhận nội dung bản cáo trạng truy tố là đúng.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, tính chất của vụ án, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố các bị cáo Trần Đức Q, Lê Duy T, Vũ Văn H và Vi Khánh T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.

Về hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 91, 101, 56 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Đức Q từ 28 đến 32 tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 281/2024/HSST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 8 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo Q phải chấp hành cả hai bản án từ 36 đến 40 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/9/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Duy T từ 26 đến 30 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/9/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Vũ Văn H từ 30 đến 36 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/9/2024.

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt: Vi Khánh T1 từ 24 đến 26 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/9/2024.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS, Điều 106 BLTTHS:

Tịch thu tiêu huỷ: 04 bình xịt hơi cay nhãn hiệu NATO màu xanh lục bình hình trụ tròn, nắp màu đen; 01 chiếc dùi cui điện màu đen kích thước (10x01x02)cm, khi bấm phát ra tia điện; 01 thanh kiếm có chuôi gỗ dài 30cm, lưỡi kim loại dài 60cm, 1 lưỡi sắc; 01 gậy bóng chày kim loại màu sơn đen dài 60cm.

Về án phí:

Miễn án phí hinh sự sơ thẩm cho bị cáo H, các bị cáo Q, T và T1 phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

Các bị cáo đều nhận tội, không tham gia tranh luận với đại diện Viện kiểm sát mà chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Người bào chữa cho các bị cáo Q, T và T1 đều nhất trí với tội danh và hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát, các bị cáo là người dưới 18 tuổi, đều là người có hiểu biết pháp luật chưa đầy đủ vì vậy đề nghị HĐXX cho các bị cáo được hưởng mức án nhẹ nhất để các bị cáo có cơ hội được cải tạo trở thành người có ích cho xã hội.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà; Trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của các bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của người liên quan, của người làm chứng, với vật chứng thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 21/9/2024, tại khu vực ngã sáu, trước cửa trung tâm thương mại V, đường L, phường S, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh, nhóm TP B gồm Trần Đức Q điều khiển xe mô tô Honda Wave màu đen không gắn biển kiểm soát chở theo Bùi Anh Đ; Lê Duy T điều khiển xe mô tô Honda Wave màu xám, không gắn biển kiểm soát chở theo Vi Khánh T1; Vũ Văn H điều khiển xe mô tô Honda Winer màu xám, không gắn biển kiểm soát, thì gặp nhóm TP T gồm Trần Trọng H2 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu tím than, BKS: 99AB-038.78 chở Nguyễn Hữu P1; Nguyễn Văn T7 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu tím than, không gắn biển kiểm soát chở Nguyễn Hữu T5; Trần Văn T3 điều khiển xe mô tô Honda Wave màu tím than, không gắn biển kiểm soát chở Vương Thị N2; Phạm Kiều M1 điều khiển xe mô tô Honda Vision màu xám, BKS: 99AB-054.02. Tại đây, Trần Đức Q và nhóm TP B nghĩ nhóm TP T chửi mình nên đã về lấy kiếm, bình xịt hơi cay, vỏ chai bia, gậy bóng chày. Sau đó rồi sử dụng xe mô tô phóng nhanh trên nhiều tuyến phố từ ngã sáu phường S đường L đến khu vực cột đồng hồ phường V, cầu C phường K và khu C, thành phố B. Tại khu vực cột đồng hồ nhóm TP B sử dụng xe mô tô ép xe của nhóm TP T dừng lại, P1 và H2 bị nhóm TP B dùng chân tay không đấm đá vào người, T dùng thanh kiếm chặt đứt phần chắn bùn nhựa gắn BKS 99AB-038.78 xe của H2. Đến khu vực cầu C sử dụng thanh kiếm chặt rời phần chắn bùn nhựa đuôi xe không gắn biển kiểm soát xe của T3 và T, T1 dùng tay chân không đấm đá T3. Hành vi của nhóm TP B do Trần Đức Q đứng đầu sử dụng hung khí và xe mô tô tìm đuổi nhóm TP T để đánh nhau đã làm hỗn loạn nhiều khu phố, làm ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội tại địa bàn thành phố B, gây nguy hiểm cho người tham gia giao thông đường bộ.

Như vậy, hành vi của Trần Đức Q, Lê Duy T, Vũ Văn H và Vi Khánh T1 phạm vào tội “Gây rối trật tự công cộng” theo điểm b khoản 2 Điều 318 Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Ninh đã truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự an toàn công cộng, gây mất trật tự trị an trên địa bàn thành phố, ảnh hưởng đến tình hình an ninh chính trị tại địa phương, gây hoang mang lo sợ trong quần chúng nhân dân, các bị cáo không có nơi cư trú ổn định rõ ràng, nên cần phải có hình phạt nghiêm khắc các ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo giáo dục các bị cáo và phòng ngừa chung.

[3] Về vai trò của các bị cáo: Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, các bị cáo không có sự bàn bạc từ trước. Trong vụ án này, do bị cáo Trần Đức Q nghe không rõ tưởng nhóm TP T chửi nhóm TP B nên Q đã cầm đầu nhóm TP B đã quay đầu xe đuổi nhóm TP T và nhóm TP T thấy bị đuổi nên đã dùng bình xịt hơi cay xịt vào nhóm TP B. Nhóm TP B bị xịt hơi cay nên dừng lại và cùng rủ nhau đi về lấy hung khí để tìm nhóm TP T để trả thù. Do vậy, Quyền tham gia tích cực nên giữ vai trò chính. Các bị cáo Lê Duy T, Vũ Văn H và Vi Khánh T1 giữ vai trò giúp sức ngang nhau.

[4] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ của các bị cáo:

Các bị cáo Trần Đức Q, Vũ Văn H và Vi Khánh T1 đều không có tiền án, tiền sự; không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Trần Đức Q có nhân thân xấu, bị cáo bị Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 8 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo bản án số 281/2024/HSST ngày 20/9/2024, trong thời gian chờ bản án có hiệu lực pháp luật, bị cáo không lấy đó làm bài học mà bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội thể hiện sự coi thường pháp luật. Do vậy lần phạm tội lần này cần phải có mức hình phạt nghiêm khắc xử phạt bị cáo Q hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung đồng thời sẽ phải tổng hợp hình phạt của bản án số 281/2024/HSST ngày 20/9/2024 của Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh.

Bị cáo Lê Duy T có 02 tiền sự, cụ thể là: Ngày 13/3/2023 Lê Duy T bị Công an thị xã Đ xử phạt vi phạm hành chính, phạt tiền 2.000.000đ, ngày 13/3/2023 T đã chấp hành xong. Ngày 10/4/2023, Lê Duy T bị Chủ tịch UBND phường T, thị xã Đ, tỉnh Quảng Ninh ra Quyết định áp dụng biện pháp hành chính giáo dục tại xã, phường thị trấn 6 tháng, ngày 11/10/2023 T đã chấp hành xong. Bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm khắc xử phạt bị cáo T mức hình phạt tù sau bị cáo Q mới đủ tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Gia đình bị cáo H là gia đình có công với cách mạng, vì vậy H được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS.

Bị cáo T1 là người dân tộc thiểu số, sinh sống ở vùng kinh thế đặc biệt khó khăn, bị cáo được miễn án phí và được trợ giúp pháp lý, tuy nhiên không phải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, vì vậy không chấp nhận áp dụng khoản 2 Điều 51 BLHS đối với T1 theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.

Do đó, khi lượng hình cần xem xét tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo nhằm thực hiện chính sách khoan hồng của pháp luật.

Đối với bị cáo Trần Đức Q, Lê Duy T, Vi Khánh T1, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên cần áp dụng các quy định đối với người chưa thành niên phạm tội cho bị cáo.

[5] Về trách nhiệm dân sự:

Bà Ngô Thị T4 và bà Phạm Thị L là chủ sở hữu hợp pháp của 02 chiếc xe mô tô mà Lê Duy T dùng kiếm chặt rời phần chắn bùn của xe mô tô, do giá trị nhỏ, nên bà T4, bà L không yêu cầu T phải bồi thường gì.

Trọng, P1, H2 bị nhóm TP B dùng chây tay không đánh nhưng H2 chỉ bị thương nhẹ, H2 không đi đâu điều trị mà tự khỏi, còn T3, P1 không thương tích gì, nên T3, P1, H2 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì.

[6] Về xử lý vật chứng:

Đối với 04 bình xịt hơi cay nhãn hiệu NATO màu xanh lục bình hình trụ tròn, nắp màu đen; 01 chiếc dùi cui điện màu đen kích thước (10x01x02)cm, khi bấm phát ra tia điện; 01 thanh kiếm có chuôi gỗ dài 30cm, lưỡi kim loại dài 60cm, 1 lưỡi sắc; 01 gậy bóng chày kim loại màu sơn đen dài 60cm là vật sử dụng vào việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu huỷ.

Ngày 07/11/2024, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B đã trả lại 04 chiếc xe mô tô cho các chủ sở hữu hợp pháp gồm: Trả cho bà Nguyễn Thị N1 (mẹ đẻ Nguyễn Hữu T5): 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, mầu xanh, không gắn biển kiểm soát, số máy JA70E-0388162, số khung: RLHJA3938RY087211 xe đã qua sử dung. Bà Ngô Thị T4 (mẹ đẻ Trần Văn T3): 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh bạc, không gắn biển kiểm soát, số máy JA39E3019016, số khung: RLHJA3921PY409188, xe đã qua sử dụng. Bà Phạm Thị L (mẹ đẻ của Phạm Kiều M1): 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu xanh, không gắn biển kiểm soát, số máy JA70E-0478013, số khungL RLHJA3937RY14957 xe đã qua sử dụng. Ông Vương Minh T8 (bố đẻ của Vương Thị Hồng N2): 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda Vision, màu xám, BKS: 99AB-054.02, số máy JK03E-3469215, số khung: RLHJK353RY147563 xe đã qua sử dụng là phù hợp.

Đối với 03 chai bia thủy tinh, quá trình đi tìm nhóm TP T thì T1 đã ném ở ven đường, nhưng T1 không nhớ ở vị trí tuyến đường nào nên Cơ quan điều tra chưa thu hồi được.

Đối với 03 chiếc xe mô tô Đức mượn của T6, T mượn của H3, Hoàng mượn của D để đi gây rối trật tự công cộng vào tối ngày 21/9/2024. Sau khi về nhà thì trả luôn cho T6, H3, D. Đ, T, H không nhỡ rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể của H3, D, hiện đi đâu làm gì cũng không rõ. Cơ quan điều tra chưa làm việc được, nên chưa tạm giữ được 03 chiếc xe mô tô trên, khi nào xác minh được làm rõ sẽ xử lý sau là phù hợp.

[7] Các tình tiết khác trong vụ án:

Đối với Bùi Anh Đ, sinh ngày 24/9/2008, cùng tham gia nhóm TP B gây rối trật tự công cộng. Nguyễn Hữu P1 và Nguyễn Hữu T5 trong nhóm TP T có hành vi sử dụng bình xịt hơi cay mang theo xịt về hướng nhóm TP B nhưng mục đích để bỏ chạy. Tuy nhiên, tại thời điểm vi phạm Đức, P1, T5 chưa đủ 16 tuổi, căn cứ Điều 12 BLHS chưa phải chịu trách nhiệm hình sự, Cơ quan CSĐT Công an T đã chuyển hồ sơ và có văn bản đề nghị UBND phường V, TP B; UBND phường T, TP T áp dụng biện pháp “Giáo dục tại phường” đối với Đ, P1, Thế là phù hợp theo quy định của pháp luật.

Đối với hành vi các bị can Q, T, T1, H và đối tượng Bùi Anh Đ dùng chân tay không đánh T3, P1, H2 làm cho H2 bị thương nhẹ, còn T3, P1 không bị thương tích gì, tuy H2 có đơn từ chối giám định thương tích, không đề nghị truy cứu trách nhiệm hình sự; nhưng để đảm bảo sự răn đe và phòng ngừa chung, cần xử phạt vi phạm hành chính đối với Q, T, T1 và H là phù hợp.

Đối với T có hành vi sử dụng kiếm chặt đứt phần đuôi chắn bùn của 02 xe mô tô, với tổng trị giá tài sản bị thiệt hại là 530.000 đồng, không đủ yếu tố cấu thành tội “Hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản”. Cần xử phạt vi phạm hành chính đối với T về hành vi này là phù hợp.

Đối với Bùi Anh Đ có hành vi tàng trữ kiếm đưa cho Lê Duy T sử dụng; Trần Đức Q sử dụng bình xịt hơi cay và dùi cui điện; Nguyễn Văn T7, Trần Văn T3 tàng trữ bình xịt hơi cay rồi đưa cho Nguyễn Hữu P1, Nguyễn Hữu T5 sử dụng. Công an T đề nghị UBND thành phố B xử phạt hành chính về hành vi “Tàng trữ, cất giấu vũ khí thô sơ nhằm mục đích gây rối công cộng, cố ý gây thương tích cho người khác” và “tàng trữ, sử dụng trái phép công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép” là phù hợp.

Đối với Trần Đức Q, Lê Duy T, Vi Khánh T1, Nguyễn Văn T10, Trần Trọng H2, Trần Văn T3, Vương Thị Hồng N2, Phạm Kiều M1 có hành vi điều khiển xe mô tô tham gia giao thông khi chưa đủ tuổi, không có giấy phép lái xe. Đồng thời, Quyền, T, T5, T7, T3 và Bùi Anh Đ còn sử dụng xe mô tô không gắn biển kiểm soát. Cơ quan điều tra đề nghị Công an thành phố B ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với các hành vi nêu trên là phù hợp.

Đối với bà Ngô Thị T4 (mẹ đẻ của Trần Văn T3), Nguyễn Thị N1 (mẹ đẻ của Nguyễn Hữu T5), Phạm Thị L (mẹ đẻ của Phạm Kiều M1), Vương Minh T8 (bố đẻ của Vương Thị Hồng N2) là chủ sở hữu của các xe mô tô, nhưng không biết T3, T5, M1, N2 lấy xe đi chơi. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xem xét xử lý mà chỉ nhắc nhở là phù hợp.

Đối với T6 cho Đ mượn xe nhưng không biết Đ sử dụng vào việc gây rối trật tự công cộng, nên Cơ quan CSĐT Công an thành phố B không xem xét xử lý mà chỉ nhắc nhở T6 là phù hợp.

Đối với hành vi của nhóm TP B đưa H2, P1, T3 ra khu vực cầu C nhưng mục đích để nói chuyện, bản thân H2, P1, T3 cũng đồng ý đi theo để nói chuyện giải hòa. Đồng thời khi trời đã khuya, lại mưa nên nhóm TP B bảo H2, N2, M1 về nhà nghỉ N4 để ngủ, sáng mai về thì H2, N2, M1 đồng ý, vì thế các bị can trong nhóm TP B không có hành vi giữ người trái pháp luật.

[8] Về án phí: Các bị cáo Trần Đức Q và Vũ Văn H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Lê Duy T thuộc hộ cận nghèo, bị cáo Vi Khánh T1 là người dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng kinh tế đặc biệt khó khăn, vì vậy miễn án phí đối với các bị cáo Lê Duy T và Vi Khánh T1.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

  1. Tuyên bố các bị cáo Trần Đức Q, Lê Duy T, Vũ Văn H và Vi Khánh T1 phạm tội “Gây rối trật tự công cộng”.
  2. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 56, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt: Trần Đức Q 28 (hai mươi tám) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với bản án số 281/2024/HSST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bắc Ninh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt 8 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Buộc bị cáo Q phải chấp hành cả hai bản án là 36 (ba mươi sau) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/9/2024.
  3. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Duy T 26 (hai mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/9/2024.
  4. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58 Bộ luật hình sự, xử phạt: Vũ Văn H 30 (ba mươi) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/9/2024.
  5. Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 318, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, 38, 58, 91, 101 Bộ luật hình sự, xử phạt: V (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 22/9/2024.
  6. Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam các bị cáo Trần Đức Q, Lê Duy T, Vũ Văn H và Vi Khánh T1 mỗi bị cáo 45 (Bốn mươi lăm) ngày kể từ ngày xét xử sơ thẩm (26/02/2025) để đảm bảo thi hành án.
  7. Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

    Tịch thu tiêu huỷ: 04 bình xịt hơi cay nhãn hiệu NATO màu xanh lục bình hình trụ tròn, nắp màu đen; 01 dùi cui điện màu đen kích thước (10x01x02)cm, đã qua sử dụng; 01 thanh kiếm có chuôi gỗ dài 30cm, lưỡi kim loại dài 60cm, 1 lưỡi sắc, đã cũ; 01 gậy bóng chày kim loại màu sơn đen dài 60cm, đã qua sử dụng.

    (Vật chứng theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/01/2025 giữa Cơ quan CSĐT Công an thành phố B và Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bắc Ninh)

  8. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH về án phí, lệ phí Tòa án;

    Các bị cáo Trần Đức Q và Vũ Văn H, mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

    Miễn án phí hình sự sơ thẩm đối với các bị cáo Lê Duy T và Vi Khánh T1.

  9. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự

    Các bị cáo, người đại diện hợp pháp của các bị cáo có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm;

    Người đại diện hợp pháp của các bị cáo, những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bắc Ninh;
  • - VKSND TP Bắc Ninh;
  • - Thi hành án dân sự TP Bắc Ninh;
  • - Công an tỉnh Bắc Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ, văn phòng.

T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Đã ký

Vũ Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HS-ST ngày 26/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH về gây rối trật tự công cộng

  • Số bản án: 88/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Gây rối trật tự công cộng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/02/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC NINH, TỈNH BẮC NINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Gây rối trật tự công cộng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger