TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG Bản án số: 88 /2025/HS-ST Ngày 17-12-2025 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Liên
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Minh
Bà Bùi Thị Hà
- Thư ký phiên toà: Bà Lưu Hoàng Ngọc Khanh – Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Trần Công Tài - Kiểm sát viên.
Thư ký ở điểm cầu thành phần: Ông Phạm Đức M - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng.
Ngày 17 tháng 12 năm 2025, tại trụ sở Toà án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến (Điểm cầu trung tâm: Tòa án nhân dân khu vực 2 - Hải Phòng; điểm cầu thành phần: Trại Tạm giam Số 1 - Công an thành phố H) vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 87/2025/TLST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 94/2025/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 12 năm 2025 đối với bị cáo:
Phạm Văn T, sinh ngày 19 tháng 3 năm 1988 tại Hải Phòng; Nơi cư trú: Thôn Đ, xã A, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn P và bà Lê Thị N; có vợ là Nguyễn Thị T1, có 03 con; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: có 02 tiền án đã được xóa án tích tại Bản án số 05/2013/HSST ngày 01/3/2013 Tòa án nhân dân huyện An Lão, thành phố Hải Phòng xử phạt 18 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản” và tại Bản án số 33/2014/HSST ngày 23/10/2014 Tòa án nhân dân huyện Tiên Lãng, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; tổng hợp với 18 tháng tù tại Bản án số 05/2013/HSST ngày 01/3/2013, chấp hành hình phạt chung là 30 tháng tù; bị tạm giữ từ ngày 03/7/2025, tạm giam từ ngày 09/7/2025; có mặt.
- Bị hại: Chị Hờ Thị S, sinh ngày 08/4/2008; nơi cư trú: Thôn V, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp hợp pháp của bị hại: Anh Hờ Mị D, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn V, xã A, thành phố Hải Phòng (anh họ của chị Hờ Thị S); vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Đỗ Văn S1, sinh năm 1988; nơi cư trú: Thôn H, xã A, thành phố Hải Phòng; vắng mặt (có đơn đề nghị xét xử vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 01/7/2025, Phạm Văn T điều khiển xe môtô Yamaha Jupiter biển kiểm soát 16K1-9712 đi từ nhà ở xã A đến xã A, thành phố Hải Phòng mục đích để cướp giật tài sản lấy tiền trả nợ. T đi vào ngõ A đường H thuộc thôn V, xã A, thành phố Hải Phòng thấy gần cổng Công ty K có chị Hờ Thị S đang đi bộ ở lề đường bên phải, tay phải Say cầm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Poco C65. Thuyền đi qua Say khoảng 20m thì điều khiển xe quay lại áp sát, dùng tay trái giật chiếc điện thoại của S rồi tăng tốc chạy ra đường H về thôn H, xã A, thành phố Hải Phòng. Trên đường đi Thuyền dừng lại kiểm tra thấy mặt trong ốp lưng gắn vào điện thoại có 700.000 đồng đã lấy số tiền này cho vào túi quần. Sau đó T đi đến cửa hàng điện thoại của anh Đỗ Văn S1 là người quen ở thôn H, T nói điện thoại do mình nhặt được để bán cho S1 với giá 1.500.000 đồng.
Ngay sau khi bị giật điện thoại, Hờ Thị S đến Công an xã A trình báo, Công an xã thông báo tìm người làm chứng thì anh Đỗ Văn S1 đã đến giao nộp chiếc điện thoại mua của T. Cơ quan điều tra triệu tập, T đã khai nhận nội dung vụ việc và giao nộp xe môtô 16K1-9712.
Kết luận định giá tài sản số 84/KL-HĐĐGTS ngày 22/8/2025 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Hải Phòng, kết luận: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Poco C65 màu xanh đã qua sử dụng, ốp điện thoại silicon màu hồng, tại thời điểm ngày 01/7/2025 có giá trị 1.566.667 đồng.
Quá trình điều tra, Phạm Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên.
Vật chứng: Cơ quan điều tra đã trả lại cho Hờ Thị S chiếc điện thoại di động. Xe môtô 16K1-9712 của chị Nguyễn Thị T1 (vợ T), đã trả lại cho chị T1.
Trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường cho chị Hờ Thị S số tiền 3.000.000 đồng. Anh Đỗ Văn S1 không yêu cầu T phải trả lại số tiền 1.500.000 đồng đã mua điện thoại.
Cáo trạng số 34/CT-VKSKV2 ngày 26 tháng 11 năm 2025 của Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng truy tố bị cáo Phạm Văn T về tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên toà, bị cáo Phạm Văn T khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung nêu trên. Bị cáo nhận thức hành vi của mình là trái pháp luật nên bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được về với gia đình và xã hội.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 2 – Hải Phòng vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”. Về hình phạt: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Phạm Văn T từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
[2] Về chứng cứ xác định bị cáo có tội và tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án, phù hợp với vật chứng thu giữ, phù hợp với Kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 84/KL-HĐĐG ngày 22/8/2025 và với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án nên đủ cơ sở kết luận: Khoảng 13 giờ ngày 01/7/2025, tại ngõ A đường H thuộc thôn V, xã A, thành phố Hải Phòng, Phạm Văn T điều khiển xe mô tô áp sát giật điện thoại di động Xiaomi trị giá 1.566.667 đồng, bên trong có 700.000 đồng của chị Hờ Thị S khi chị S đang đi bộ trên đường và bị cáo điều khiển xe nhanh chóng tẩu thoát. Hành vi của bị cáo Phạm Văn T đã phạm tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Điều 171 Bộ luật Hình sự. Do bị cáo sử dụng xe mô tô công khai chiếm đoạt tài sản rồi nhanh chóng tẩu thoát là thuộc trường hợp dùng thủ đoạn nguy hiểm nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 của Bộ luật Hình sự.
[3] Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, hình phạt: Bị cáo đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho bị hại; tại giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Nhân thân bị cáo có hai tiền án tuy đã được xóa án tích nhưng điều đó chứng tỏ bị cáo là người có nhân thân xấu, ý thức chấp hành pháp luật kém nên cần áp dụng mức hình phạt tù nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm nói chung. Theo quy định tại khoản 5 Điều 171 của Bộ luật Hình sự, bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền, xét tính chất hành vi phạm tội của bị cáo nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[4] Về trách nhiệm dân sự: Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Poco C65 của chị Hờ Thị S, bị cáo bán cho anh Đỗ Văn S1 được 1.500.000đồng, bị cáo đã tiêu hết số tiền này. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại điện thoại Xiaomi Poco C65 cho chị S và chị S không yêu cầu bị cáo bồi thường gì khác; số tiền 1.500.000đồng bị cáo bán điện thoại cho anh S1, anh S1 không yêu cầu bị cáo hoàn trả nên không xem xét giải quyết.
[5] Về vật chứng: Điện thoại X C65 Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại; xe mô tô biển kiểm soát 16K1-9712 của chị Nguyễn Thị T1 (Vợ bị cáo), do chị T1 không biết bị cáo sử dụng xe để phạm tội nên việc Cơ quan điều tra đã trả lại cho chị T1 là có căn cứ.
[6] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[7] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn luật định.
[8] Đối với anh Đỗ Văn S1 là người mua điện thoại Xiaomi Poco C65 từ bị cáo T nhưng anh S1 không biết điện thoại này là do T phạm tội mà có nên Cơ quan công an không xem xét xử lý là có căn cứ.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm d khoản 2 Điều 171; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Phạm Văn T.
Tuyên bố bị cáo Phạm Văn T phạm tội “Cướp giật tài sản”.
Xử phạt bị cáo Phạm Văn T 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 03 tháng 7 năm 2025
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 6 và Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Phạm Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.
Về quyền yêu cầu thi hành án: Trong trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Thị Liên |
Bản án số 88/2025/HS-ST ngày 17/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG về cướp giật tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 88/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cướp giật tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 17/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phạm Văn Thuyên
