Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HOA LƯ

TỈNH NINH BÌNH

Bản án số: 88/2025/HS-ST

Ngày: 11 - 6 - 2025

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phạm Diệu Oanh

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đức Thọ

Ông Nguyễn Văn Luận

- Thư ký phiên tòa: Bà Bùi Thị Lan Hương - Thư ký viên chính

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Quang Đạt - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hoa Lư, tỉnh Ninh Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 74/2025/TLST-HS ngày 07 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 90/2025/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 5 năm 2025 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trần S (Tên gọi khác: M), sinh năm 1986 tại tỉnh Quảng Bình. Nơi cư trú: Số nhà A, ngách B, ngõ F, đường H, phố P, phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Du L, con bà Lê Thị C, có vợ Đỗ Thị Kim D và 01 con sinh năm 2008; tiền án: Tại Bản án số 144/2022/HS-ST ngày 29/12/2022 của Tòa án nhân dân thành phố Ninh Bình, tỉnh Ninh Bình Trần Sự bị xử phạt 45.000.000 đồng và 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” (đã nộp 200.000 đồng án phí và 14.000.000 đồng tiền phạt, chưa thi hành 31.000.000 đồng tiền phạt), tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 28/8/2024 đến nay, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N “có mặt”.

- Bị hại:

  • + Ông Lê Thanh G, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số nhà A, đường N, phố V, phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình “có mặt”.
  • + Chị Nguyễn Thị Minh T, sinh năm 1980, nơi cư trú: Số nhà I, đường T, phố B, phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình “vắng mặt”.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Đỗ Thị Kim D, sinh năm 1979, nơi cư trú: Số nhà A, đường H, phố P, phường V, thành phố H, tỉnh Ninh Bình “có mặt".

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần S đang có 01 tiền án về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”, không có công việc ổn định, vay nợ nhiều nên đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của người khác để trả nợ và tiêu xài cá nhân. Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024, Trần S đã thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của ông Lê Thanh G và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Minh T, cụ thể như sau:

- Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của ông Lê Thanh G: Trần Sự có mối quan hệ quen biết với ông Lê Thanh G. Đầu tháng 12/2023, biết ông G đang có nhu cầu mua xe ô tô nên Sự đến gặp ông G và giới thiệu một số xe ô tô ngân hàng thanh lý giá rẻ. Sự đã liên lạc với một người nam giới tên Nguyễn C1 là người Sự quen biết trên các hội nhóm mua bán xe ô tô (Sự không biết rõ tên tuổi, địa chỉ của C1) để C1 gửi hình ảnh thông tin và giá xe cho S đưa cho ông G xem. Ông G đã chọn mua chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO màu trắng, Biển kiểm soát 67A-111.07 với giá 260.000.000 đồng. Ngày 05/12/2023, ông G cùng S đi đến quận H, thành phố Hà Nội để mua xe. Tại đây, C1 đã giao xe cho ông G cùng với 01 bản photo Giấy chứng nhận đăng ký xe mang tên Châu Tấn L1 (có dấu treo đỏ của ngân hàng) và 01 Giấy chứng nhận kiểm định đã hết hạn. Ông G đã đưa số tiền 260.000.000 đồng cho C1, C1 trả cho S 7.000.000 đồng tiền môi giới. Sau đó S và ông G điều khiển xe ô tô trên về nhà. Đến giữa tháng 12/2023, C1 liên lạc với S và bảo S đưa xe lại cho C1 để C1 đi thay tháo, đục lại số khung số máy của xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO màu trắng, Biển kiểm soát 67A-111.07 để làm thủ tục sang tên đổi chủ cho ông G với chi phí là 35.000.000 đồng và làm lại giấy đăng kiểm ở ngân hàng với chi phí là 4.400.000 đồng. Trần Sự liên hệ với ông G và yêu cầu ông G đưa xe và tổng số tiền 41.400.000 đồng (S lấy thêm 2.000.000 đồng) để S đi làm thủ tục sang tên và nộp thuế xe. Do tin tưởng nên ông G đã giao tiền và xe cho S, S điều khiển xe lên Hà Nội rồi giao xe cho C1 làm lại số khung số máy, do C1 chưa thực hiện được việc làm lại số khung số máy nên C1 chỉ lấy thông tin xe để làm thủ tục gỡ đăng kiểm trên hệ thống rồi trả lại xe cho S, số tiền ông G đưa để làm thủ tục sang tên thì S vẫn giữ lại chưa đưa cho C1. Sau đó S mang xe về trả lại cho ông G.

Cuối tháng 12/2023, Trần S tiếp tục đề nghị ông G giao lại xe để đưa cho C1 làm thủ tục sang tên đổi chủ, ông G đồng ý. Khi S mang xe lên gặp C1 thì C1 nói việc này mất nhiều thời gian nên C1 đã đưa lại cho S số tiền 180.000.000 đồng để làm tin. S cũng trả trước cho C1 số tiền 12.000.000 đồng chi phí sang tên và giữ lại số tiền 29.400.000 đồng (số tiền này là tiền ông G đã đưa cho S để làm thủ tục sang tên đổi chủ trước đó). Đến đầu tháng 01/2024, C1 thông báo cho S là không thể sang tên chiếc xe ô tô của ông G. Sau đó S thông báo lại cho ông G thì ông G không muốn mua xe nữa và yêu cầu S trả lại tổng số tiền 301.400.000 đồng. Do lúc này S đã tiêu xài hết số tiền 180.000.000 đồng mà C1 đưa và 29.400.000 tiền của ông G đưa vào việc trả nợ, đánh bạc và tiêu xài cá nhân nên S không còn khả năng lấy lại chiếc xe ô tô hay trả tiền cho ông G. Để trì hoãn việc trả tiền, ngày 04/01/2024, S đã gặp ông G và ký giấy mượn xe, hẹn trả vào ngày 09/01/2024. Đến hẹn, do không có khả năng lấy được xe và trả tiền lại cho ông G nên S đã lên mạng xã hội Facebook nhờ người làm giả hình ảnh chuyển khoản số tiền 300.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng TMCP N1 (V), số tài khoản 1027502733 mang tên TRAN SU đến tài khoản ngân hàng N2 (A), số tài khoản 3302205080849 của ông Lê Thanh G với nội dung “TRAN SU chuyen tien tra tien vay a giang”. Sau đó S gửi vào tin nhắn mạng xã hội Zalo cho ông G và nói với ông G nếu không làm được thủ tục sang tên thì ông G nhận lại 300.000.000 đồng, còn nếu S trả được xe thì ông G trả lại số tiền trên cho S để ông G tin tưởng. Khi ông G phát hiện không có giao dịch trên, hỏi S thì S nói dối là do lỗi ngân hàng. Để tiếp tục tạo lòng tin với ông G, Trần S đã nhờ người trên mạng xã hội Facebook làm giả hình ảnh giấy chứng minh sỹ quan số 12 181 346 cấp ngày 31/10/2018, cấp Úy, nơi công tác Tổng cục I, Bộ Q và gửi hình ảnh qua tin nhắn mạng xã hội Zalo cho ông G. Sau đó, S gửi hình ảnh 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO khác không rõ biển kiểm soát kèm theo hình ảnh bộ biển kiểm soát 35A-226.98 và ảnh giả mạo giấy đăng ký xe mang biển số này cấp cho ông G vào ngày 29/04/2021 để trì hoãn việc trả tiền. Đến tháng 02/2024, khi ông G tiếp tục đòi trả lại tiền, S đã lên hội nhóm mua bán xe trên mạng xã hội mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY màu trắng gắn Biển kiểm soát giả 51A-220.38 với giá 145.000.000 đồng từ một người ở Thanh Hóa để đưa cho ông G đi vào ngày 09/02/2024 nhưng do không có giấy tờ nào kèm theo nên ông G không đi và trả lại cho S. Sau đó, do không còn khả năng trả lại số tiền đã chiếm đoạt của ông G nên S đã xóa toàn bộ các tin nhắn, thông tin trao đổi mua bán xe rồi cắt đứt liên lạc, bỏ trốn khỏi địa phương nơi cư trú. Tổng số tiền Trần S đã chiếm đoạt của ông Lê Thanh G là 209.400.000 đồng.

- Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Minh T: Đầu tháng 01/2024, thông qua mối quan hệ bạn bè giữa chị Đỗ Thị Kim D (vợ của S) và chị T, S biết chị T có nhu cầu mua xe ô tô. Do không có tiền tiêu xài và trả nợ nên S đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của chị T. Trần S đã lên các hội nhóm mua bán xe trên mạng xã hội Facebook tìm mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY màu đen, Biển kiểm soát 30V-8903 với giá 100.000.000 đồng của 01 người không quen biết tại Hà Nội. Sau khi mua được xe, mặc dù S không có mục đích bán chiếc xe trên cho chị T nhưng S vẫn giới thiệu cho chị T. Khi chị T muốn xem xe trực tiếp, S đã mang xe đến cho chị T kiểm tra. Chị T đồng ý mua xe, cả hai thống nhất giá bán là 100.000.000 đồng. Sau đó ngày 08/01/2024 và ngày 09/01/2024, chị T đã chuyển khoản qua tài khoản ngân hàng cho S tổng số tiền 50.000.000 đồng đặt cọc để mua xe theo yêu cầu của S, S hứa với chị T sẽ mang xe đi bảo dưỡng rồi giao cho chị T và nhận số tiền 50.000.000 đồng còn lại. Tuy nhiên, khi chị T yêu cầu S đưa xe ô tô đến cho chị T để làm thủ tục mua bán thì S không giao xe cho chị T như đã hẹn. Sau khi chiếm đoạt được số tiền đặt cọc của chị T thì S đã sử dụng để tiêu xài cá nhân và đánh bạc hết.

Ngày 12/01/2024, S liên lạc cho chị T và lấy lý do chiếc xe đã bị bổ máy, bị hỏng hóc nhiều chị T không nên sử dụng và hứa hẹn sẽ đổi chiếc xe khác cho chị T. Lúc này chị T không muốn mua xe nữa và yêu cầu Trần S trả lại số tiền đã đặt cọc. Để tiếp tục lừa lấy tiền chị T và để tạo lòng tin cho chị T về việc S hoàn toàn có khả năng trả lại tiền nên S đã lên mạng xã hội Facebook nhờ người làm giả hình ảnh chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng từ tài khoản ngân hàng TMCP N1 (V), số tài khoản 1027502733 mang tên TRAN SU đến tài khoản ngân hàng TMCP Đ1 (B1), số tài khoản 48310000058902 của chị T với nội dung “TRAN SU chuyen tien tra lai tien xe cho thu”. Sau đó S gửi hình ảnh giao dịch chuyển khoản giả mạo đó cho chị T xem. Tuy nhiên, chị T phát hiện không có giao dịch chuyển tiền trong tài khoản ngân hàng của mình như S nói. Chị T yêu cầu S giải thích thì S nói dối rằng do lỗi của ngân hàng. Để tiếp tục lấy lòng tin của chị T, Trần S đã lên mạng tải hình ảnh 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI SWIFT màu trắng và gửi cho chị T, báo giá là 150.000.000 đồng. Sự đưa ra nhiều lời khuyên để chị T bỏ thêm tiền để đổi sang chiếc xe này và hứa sau khi nhận đủ tiền sẽ nhanh chóng hoàn tất thủ tục pháp lý trong vòng một tuần và bàn giao chiếc xe cho chị T. Do tin lời Sự nên chị T đồng ý, từ ngày 12/01 đến ngày 17/01/2024 chị T tiếp tục chuyển khoản cho S tổng số tiền là 108.700.000 đồng (trong đó 105.000.000 đồng là tiền mua xe và 3.700.000 đồng tiền làm thủ tục sang tên đổi chủ). Không thấy S giao xe như đã thỏa thuận nên chị T hỏi thì S lấy lý do chiếc xe SUZUKI SWIFT không làm sang tên đổi chủ được. Sự tiếp tục lên mạng xã hội tải hình ảnh 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic màu hồng, che biển kiểm soát rồi gửi cho chị T xem và hứa sẽ mua chiếc xe trên cho chị T. Đến khoảng tháng 03/2024, S đã mang chiếc xe ô tô nhãn hiệu TOYOTA CAMRY màu đen, Biển kiểm soát 30V-8903 bán cho một người nam giới ở thành phố T (Sự không biết rõ tên tuổi, địa chỉ) với giá 130.000.000 đồng mà không thông báo cho chị T biết. Chị T đã nhiều lần yêu cầu S giao xe cho chị T như đã thỏa thuận nhưng S không thực hiện. Sau đó Trần S đã bỏ trốn khỏi địa phương nơi cư trú. Tổng số tiền Trần S đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Minh T là 158.700.000 đồng.

Tại Bản cáo trạng số 77/CT-VKS-TPHL ngày 06 tháng 5 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố bị cáo Trần S về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo điểm c khoản 2 Điều 174 và điểm a khoản 3 Điều 175 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Trần S khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư đã truy tố. Quá trình điều tra, bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường cho ông G số tiền 10.000.000 đồng, chị T số tiền 30.000.000 đồng; bị cáo đồng ý với yêu cầu của bị hại về việc bồi thường số tiền đã chiếm đoạt.

Bị hại ông Lê Thanh G khai: ông G nhờ S mua giúp 01 xe ô tô nhãn hiệu Kia mầu trắng BKS 67A-111.07 đã qua sử dụng, thuộc diện thế chấp của ngân hàng với giá 260.000.000 đồng. Ngày 05/12/2023, ông G cùng S lên Hà Nội để nhận xe, khi giao xe, ông G giao số tiền 260.000.000 đồng cho người bán xe tên là C1, C1 giao cho ông G giấy đăng ký xe bản phô tô, giấy biên nhận thế chấp của ngân hàng, giấy chứng nhận đăng kiểm xe tô tô; S hứa sẽ làm thủ tục sang tên đổi chủ cho ông G. Khoảng 01 tuần sau, S gọi điện đề nghị ông G đưa thêm số tiền 35.000.000 đồng để làm thủ tục sang tên chính chủ. Khoảng 10 ngày sau, S tiếp tục đề nghị ông G đưa thêm số tiền 6.400.000 đồng để đóng thuế cho xe. Khoảng 01 tuần tiếp theo, S sang nhà ông G để lấy xe cùng giấy tờ để đi làm thủ tục sang tên, chỉ trong khoảng 1 tháng. Quá thời gian trên, S không mang xe về, ngày 04/01/2024, ông G và S thoả thuận S viết giấy mượn xe và hẹn đến ngày 09/01/2024 mang xe về trả. Đến ngày hẹn S không mang xe về và đề nghị trả cho ông G số tiền 300.000.000 đồng bằng việc chuyển khoản và gửi cho ông 0 ảnh chụp màn hình điện thoại thể hiện chuyển khoản thành công số tiền 300.000.000 đồng nhưng không có số tiền nào chuyển đến tài khoản của ông. Đến ngày 07/02/2024, S có mang đến nhà ông 01 chiếc xe Camry mầu trắng BKS 51A-220.38 và bảo ông đi tạm trong thời gian làm giấy tờ cho xe Kia. Do xe không có giấy tờ nên ông đã trả lại xe cho S. Sau đó S không trả lại xe và cắt liên lạc với ông G. Sau này gia đình S đã trả cho ông G số tiền 10.000.000 đồng. Ông G yêu cầu S phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Đỗ Thị Kim D khai: Chị D không biết việc Trần S và ông Lê Thanh G, chị Nguyễn Thị Minh Thu mua B xe ô tô cho đến khi chị T, ông G đến nhà đòi tiền Sự do việc mua bán xe không rõ nguồn gốc. Sau khi S bỏ trốn vào miền nam thì gia đình có đứng ra khắc phục hậu quả giúp S, trả cho ông G số tiền 10.000.000 đồng, trả cho chị T số tiền 30.000.000 đồng. Chị D không được hưởng lợi từ việc Trần S mua bán xe ô tô, chị thường xuyên phải chu cấp cho S do không có công ăn việc làm, nợ nần nhiều.

Tại các bản khai trong quá trình điều tra, bị hại chị Nguyễn Thị Minh T khai: Cuối năm 2023 đầu năm 2024, biết chị T có nhu cầu mua xe, Trần S chủ động liên lạc và giới thiệu cho chị Thu M1 01 xe ô tô nhãn hiệu Toyota Camry mầu đen, gắn BKS 30V-8903, với giá 100.000.000 đồng. S điều khiển xe mang đến cho chị T xem qua hình thức, nội thất xe, chị T đồng ý mua. S nói sẽ mang xe đi bảo dưỡng rồi bàn giao xe và yêu cầu chị T đặt cọc trước một nửa giá trị xe. Tin tưởng S, ngày 08/1/2024 và ngày 09/1/2024 chị T chuyển khoản cho S tổng số tiền 50.000.000 đồng. Ngày 12/01/2024, S liên lạc lại cho chị T nói chiếc xe ô tô BKS 30V-8903 bị bổ máy không nên đi, chị T không muốn lấy xe nữa và yêu cầu trả lại tiền cọc, thì S khuyên chị T lấy chiếc xe khác tốt hơn và gửi cho chị T thông tin chuyển khoản số tiền 100.000.000 đồng vào hồi 18 giờ 30 phút cùng ngày để tạo niềm tin cho chị T. Khi thấy số tài khoản không nhận được tiền, chị T liên lạc với S trả lại tiền thì S gửi cho chị T xem hình ảnh một xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI SWIFT mầu trắng và báo giá 155.000.000 đồng, S khuyên chị T nên thêm tiền để đổi sang xe SWIFT và hứa sau khi chuyển đủ tiền sẽ lấy xe, làm nhanh thủ tục pháp lý và giấy tờ cho xe mới chỉ trong vòng một tuần và bàn giao xe. Tin tưởng S, từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024, chị T tiếp tục chuyển khoản cho S số tiền 88.700.000 đồng và nhờ chị Phạm Thị S1 (bạn chị T) chuyển khoản hộ số tiền 20.000.000 đồng; tổng số tiền chị chuyển cho S là 158.700.000 đồng nhưng S vẫn không bàn giao xe như đã hứa với lý do xe không làm được thủ tục sang tên đổi chủ và chuyển tiếp cho chị T xem ảnh 01 xe ô tô nhãn hiệu Honda Civic, mầu sơn hồng, che biển kiểm soát và hứa mua cho chị T chiếc xe trên, S đưa cho chị T một bộ biển kiểm soát số 35A-226.98 để lắp vào xe Honda Civic. Sau nhiều lần thúc giục, đề nghị Sự giao xe nhưng S lấy nhiều lý do để không giao xe. Đến tháng 04/2024 S cắt liên lạc và bỏ trốn khỏi đại phương. Sau đó, chị D có đưa cho chị T 30.000.000 đồng để khắc phục hậu quả giúp S.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư thực hành quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Trần S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.

- Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 174; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần S từ 04 năm đến 04 năm 06 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 175; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Trần S từ 06 năm đến 06 năm 06 tháng tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Áp dụng Điều 55 Bộ luật Hình sự buộc bị cáo Trần S phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội từ 10 năm đến 11 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam (28/8/2024).

- Trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự, khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự buộc bị cáo Trần S phải trả cho ông Lê Thanh G số tiền 199.400.000 đồng, phải trả cho chị Nguyễn Thị Minh T số tiền 128.700.000 đồng.

Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 16.405.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo Trần S nhất trí với nội dung luận tội, không tự bào chữa, không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát.

Bị hại ông Lê Thanh G nhất trí với nội dung luận tội, đề nghị giải quyết buộc bị cáo phải bồi thường số tiền đã chiếm đoạt.

Trong lời nói sau cùng: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ hình phạt, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trần S đã khai nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng truy tố. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, biên bản tiếp nhận nguồn tin về tội phạm, sao kê chi tiết giao dịch tài khoản của bị cáo, bị hại, kết quả xác minh phương tiện giao thông cơ giới đường bộ, vật chứng đã thu giữ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án về thời gian, địa điểm, diễn biến hành vi phạm tội. Như vậy, đã có đủ căn cứ kết luận: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024, tại địa bàn thành phố N (nay là thành phố H), tỉnh Ninh Bình; Trần S đã thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của ông Lê Thanh G và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Minh T, cụ thể như sau:

Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024, S giới thiệu cho ông G mua chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO màu trắng, Biển kiểm soát 67A-111.07, nhưng không thể sang tên đổi chủ được nên ông G yêu cầu S trả lại tiền cho ông G. Lúc này S đã sử dụng toàn bộ số tiền 209.400.000 đồng đang cầm của ông G để tiêu xài và đánh bạc nên không có khả năng trả lại tiền cho ông G. Trần S đã gửi hình ảnh chuyển tiền giả, hình ảnh giấy tờ đăng ký xe, bộ biển kiểm soát giả và hình ảnh giấy chứng minh sỹ quan Tổng cục I, Bộ Q giả mang tên Trần S cho ông G để tạo sự tin tưởng. Sau đó S bỏ trốn khỏi địa phương. Tổng số tiền Trần S đã chiếm đoạt của ông Lê Thanh G là 209.400.000 đồng.

Đầu tháng 01/2024, Trần S biết chị T có nhu cầu mua xe ô tô nên đã có hành vi dùng thủ đoạn gian dối, mặc dù không có mục đích bán xe cho chị T nhưng S vẫn giới thiệu và hứa hẹn bán xe, làm cho chị T tin tưởng chuyển tiền mua xe cho S để chiếm đoạt tài sản của chị T. Trong khoảng thời gian từ ngày 08/01/2024 và 09/01/2024 chị T đã chuyển cho S tổng số tiền 50.000.000 đồng để đặt cọc mua chiếc xe ô tô TOYOTA CAMRY màu đen, Biển kiểm soát 30V-8903. Trong khoảng thời gian từ ngày 12/01/2024 đến ngày 17/01/2024 chị T đã chuyển cho S tổng số tiền là 108.700.000 đồng để mua 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu SUZUKI SWIFT. Sau khi nhận được tiền, S không giao xe cho chị T như đã hẹn mà sử dụng số tiền trên để tiêu xài và đánh bạc hết. Tổng số tiền Trần S đã chiếm đoạt của chị Nguyễn Thị Minh T là 158.700.000 đồng.

Bị cáo Trần S là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo chiếm đoạt tài sản của ông G đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng” và hành vi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của chị T đã phạm vào tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” thuộc trường hợp “Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng”. Tội phạm và hình phạt quy định tại điểm a khoản 3 Điều 175 và điểm c khoản 2 Điều 174 Bộ luật Hình sự.

Điều 174. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

  • ...
  • c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;
  • ...

“Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

...

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm

  • a. Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;
  • ...

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư truy tố bị cáo Trần S về tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật.

- Tình tiết tăng nặng: Bị cáo Trần S bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” và “Tái phạm” quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội; bị cáo đã tác động để gia đình bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả cho bị hại, có bố đẻ được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng Hạng nhất, Huân chương chiến công giải phóng Hạng Nhì và bị ảnh hưởng chất độc màu da cam di truyền từ bố. Vì vậy, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại các điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự;

[2] Xét tính chất mức độ, hậu quả hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi của bị cáo là rất nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo đang có 01 tiền án nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân, tu dưỡng, rèn luyện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, chỉ vì muốn có tiền tiêu xài nhưng không phải bỏ sức lao động bị cáo đã bất chấp nhiều lần thực hiện hành vi phạm tội, vì vậy cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc là hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo và răn đe phòng ngừa chung. Bị cáo có hai tình tiết tăng nặng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ, khi quyết định hình phạt cần cân nhắc áp dụng tình tiết giảm nhẹ để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật. Sau khi quyết định hình phạt đối với từng tội danh cần áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự tổng hợp hình phạt chung đối với bị cáo.

[3] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra Trần S và gia đình đã bồi thường cho ông G số tiền 10.000.000 đồng, bồi thường cho chị T số tiền 30.000.000 đồng. Ông G và chị T yêu cầu S phải bồi thường số tiền còn lại đã chiếm đoạt, yêu cầu của ông G, chị T là có căn cứ, phù hợp với quy định của pháp luật, tại phiên toà, bị cáo Trần S đồng ý bồi thường số tiền đã chiếm đoạt theo yêu cầu của ông G, chị T nên cần được chấp nhận. Đối trừ số tiền gia đình bị cáo S đã bồi thường, cần buộc bị cáo phải bồi thường cho ông G số tiền 199.400.000 đồng, bồi thường cho chị T số tiền 128.700.000 đồng.

[4] Những vấn đề có liên quan đến vụ án:

Đối với người nam giới tên Nguyễn C1 là người đang cầm số tiền 92.000.000 đồng của ông G và chiếc xe ô tô nhãn hiệu KIA SORENTO màu trắng, Biển kiểm soát 67A-111.07 do Trần S đưa để mang đi làm thủ tục sang tên đổi chủ, tuy nhiên S không biết rõ tên tuổi, địa chỉ của C1. Cơ quan điều tra đã tiến hành các biện pháp điều tra nhưng đến nay chưa làm việc được với C1. Vì vậy, Cơ quan điều đã ra tách phần tài liệu liên quan đến đối tượng C1 để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.

Đối với Trần S còn có hành vi đánh bạc qua mạng Internet nhưng S không nhớ thời gian, số tiền, hình thức đánh bạc cụ thể. Sự khai nhận đã chuyển tiền vào số tài khoản 56856568 tại Ngân hàng TMCP Á mang tên Phạm Đăng C2, sinh ngày 09/07/1986, số CCCD [...], nơi cư trú xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên để thực hiện việc đánh bạc. Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng không có người tên Phạm Đăng C2 trên địa bàn xã V, huyện V, tỉnh Hưng Yên, số CCCD không có trong hệ thống dữ liệu dân cư. Ngoài lời khai của Trần S không có các tài liệu nào khác nên Cơ quan điều tra không có đủ căn cứ để xử lý đối với Trần S về hành vi đánh bạc.

Ngoài ra trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã tiếp nhận đơn trình báo của anh Đỗ Văn Nguyên S2 năm 1986, trú tại thôn P, xã K, huyện Y, tỉnh Ninh Bình; anh Nguyễn Văn Đ sinh năm 1972, trú tại thôn X, xã Q, huyện N, tỉnh Ninh Bình và chị Phạm Thị S1 sinh năm 1980, trú tại số nhà D, đường C, phố P, phường N, thành phố T, tỉnh Ninh Bình tố cáo Trần S đã có hành vi chiếm đoạt tài sản thông qua việc thoả thuận mua bán các xe ngân hàng thanh lý cho anh N, anh Đ và chị S1. Tuy nhiên các vụ việc trên còn nhiều tình tiết phức tạp cần xác minh làm rõ, Trần S không thừa nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của những người trên. Vì vậy, Cơ quan điều tra đã tách phần tài liệu và vật chứng liên quan đến đơn trình báo của anh N, anh Đ và chị S1 để tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý theo quy định.

[5] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hoa Lư, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi và quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.

[6] Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Trần S phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 174, điểm a khoản 3 Điều 175, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 55, điểm đ khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; khoản 1 Điều 584, khoản 1 Điều 585, khoản 1 Điều 586, khoản 1 Điều 589 Bộ luật dân sự; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Tuyên bố: Bị cáo Trần S phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”.
  2. Xử phạt bị cáo Trần S 05 (Năm) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 05 (Năm) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc bị cáo phải chấp hành chung cho cả hai tội là 10 (M2) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù được tính kể từ ngày bắt tạm giam (28/8/2024).
  3. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần S phải bồi thường cho ông Lê Thanh G số tiền 199.400.000 (Một trăm chín mươi chín triệu, bốn trăm nghìn) đồng, bồi thường cho chị Nguyễn Thị Minh T số tiền 128.700.000 (Một trăm hai mươi tám triệu, bảy trăm nghìn) đồng.

    Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  4. Án phí: Buộc Trần S phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm và 16.405.000 (Mười sáu triệu, bốn trăm không năm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.

    Án xử sơ thẩm công khai, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND tỉnh Ninh Bình (1);
  • - VKSND TP Ninh Bình (1);
  • - Phòng hồ sơ nghiệp vụ CA tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Sở tư pháp tỉnh Ninh Bình (1);
  • - Chi cục THA dân sự TP Ninh Bình (1);
  • - Bị cáo (1);
  • - Bị hại (2);
  • - Người có QLNV liên quan (1);
  • - Lưu: Hồ sơ, VP (2).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

PHẠM DIỆU OANH

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HS-ST ngày 11/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH về hình sự sơ thẩm

  • Số bản án: 88/2025/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 11/06/2025
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HOA LƯ, TỈNH NINH BÌNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trong khoảng thời gian từ tháng 12/2023 đến tháng 01/2024, tại địa bàn thành phố Ninh Bình (nay là thành phố Hoa Lư), tỉnh Ninh Bình; Trần S đã thực hiện hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của ông Lê Thanh G số tiền 209.400.000 đồng và lừa đảo chiếm đoạt tài sản của chị Nguyễn Thị Minh T số tiền 158.700.000 đồng.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger