|
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN Bản án số: 88/2025/HS-ST Ngày 10-12-2025 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - LẠNG SƠN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Chu Thị Phương Thảo.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thúy Phương;
- Ông Ma Thanh Trọng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Phượng, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Mã Lan Hương, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 12 năm 2025 tại trường trung học phổ thông H, tỉnh Lạng Sơn, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 85/2025/TLST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2025/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2025, đối với bị cáo:
Lưu Viết B, sinh ngày 26 tháng 02 năm 1987 tại tỉnh Lạng Sơn. Số căn cước công dân: [...], cấp ngày 08/4/2021, nơi cấp: Cục Cảnh sát Quản lý hành chính về trật tự xã hội; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khối Đ, phường T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hoá: 06/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lưu Viết C (đã chết) và bà Sầm Thị T; có vợ là Hoàng Thị T1 và 02 con; tiền án: 01 tiền án tại Bản án số 129/2012/HS-ST ngày 19/9/2012 của Tòa án nhân dân thành phố Lạng Sơn, tỉnh Lạng Sơn và Bản án số 65/2012/HSPT ngày 23/11/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Lạng Sơn, bị cáo bị xử 30 tháng tù giam về tội Cố ý gây thương tích và có trách nhiệm bồi thường cho bị hại số tiền 19.041.000đồng, bị cáo chấp hành án tù xong ngày 30/11/2014 và chưa bồi thường thiệt hại. Tiền sự: Không; nhân thân: Bị cáo chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã từng bị kết án tiền án nói trên. Bị cáo bị bắt, tạm giam từ ngày 29/8/2025 cho đến nay. Có mặt.
- - Người làm chứng: Bà Hoàng Thị T1; Có mặt.
- - Người chứng kiến: Ông Phan Thành K. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lưu Viết B là người nghiện chất ma túy H, thuộc diện quản lý của Công an phường T, tỉnh Lạng Sơn. Năm 2016, Lưu Viết B đăng ký cai nghiện tự nguyện và được Trung tâm Phòng chống HIV/AIDS tỉnh L phê duyệt tham gia chương trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone theo Quyết định số 108/QĐ-TTPC HIV/AIDS ngày 14/11/2016 đợt 34. Tuy nhiên trong thời gian điều trị cai nghiện, Lưu Viết B vẫn sử dụng trái phép chất ma túy. Khi có nhu cầu sử dụng ma túy, Lưu Viết B đến khu vực sân bóng thuộc xã Đ, tỉnh Lạng Sơn để tìm mua Heroin với một người đàn ông tự giới thiệu tên C1 (không rõ tên tuổi, địa chỉ).
Khoảng 20 giờ ngày 17/7/2025, Lưu Viết B một mình điều khiển xe máy điện biển kiểm soát MĐ1-051.96 đi đến khu vực sân bóng trên tìm C1 mua 01 (một) gói ma túy Heroin với giá 200.000 đồng. Sau khi mua xong, Lưu Viết B mang ma túy về nhà và vào phòng vệ sinh sử dụng hết.
Ngày 19/7/2025, Công an phường T, tỉnh Lạng Sơn phát hiện Lưu Viết B có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy, nên đưa Lưu Viết B về trụ sở làm việc và xét nghiệm chất ma túy, kết quả dương tính với chất ma túy MOR. Công an phường T đã thu mẫu nước tiểu, mẫu máu của Lưu Viết B theo quy định.
Tại bản kết luận giám định số 617/KL-KTHS ngày 06/8/2025 của Phòng K1 Công an tỉnh L kết luận: “Mẫu nước tiểu thu của Lưu Viết B tìm thấy chất ma túy Morphine; mẫu máu thu của Lưu Viết B tìm thấy chất ma túy Morphine.”
Đối với người đàn ông tên C1 (không rõ tên tuổi, địa chỉ) là người bán ma túy Heroin cho Lưu Viết B: Lưu Viết B khai vào khoảng tháng 3/2025, khi Lưu Viết B đi tìm mua ma túy tại khu vực sân bóng thuộc xã Đ, tỉnh Lạng Sơn thì gặp C1. C1 bảo có ma túy bán, khi nào có nhu cầu mua ma túy thì cứ đến khu vực này đợi C1, thời gian vào khoảng 20 giờ đến 21 giờ hằng ngày, còn nếu không thấy C1 thì tức là không bán. Cơ quan điều tra đã rà soát và xác minh đối tượng trên tuy nhiên không phát hiện đối tượng nào như Lưu Viết B khai nhận. Ngoài lời khai của Lưu Viết B Cơ quan điều tra không còn căn cứ nào để xác minh, làm rõ đối tượng trên.
Với nội dung trên, tại Cáo trạng số 22/CT-VKS ngày 12 tháng 11 năm 2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lưu Viết B về tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên toà, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như nội dung bản Cáo trạng.
Người làm chứng bà Hoàng Thị T1 trình bày là vợ của bị cáo Lưu Viết B, khoảng 19h ngày 17/7/2025 bị cáo Lưu Viết B sử dụng chiếc xe máy điện của bà đi ra ngoài nhưng không nói đi đâu, làm gì; bà biết bị cáo hiện đang điều trị các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế từ khoảng năm 2017 cho đến nay.
Trong lời luận tội, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đề nghị Hội đồng xét xử:
- - Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Viết B phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.
- - Về hình phạt: Đề nghị áp dụng điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung 2025, xử phạt bị cáo Lưu Viết B từ 02 năm 06 tháng đến 3 năm tù. Không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung.
- - Về xử lý vật chứng: Không có.
- - Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000đồng để nộp ngân sách nhà nước.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Bị cáo xin Hội đồng xét xử cho bị cáo mức án nhẹ nhất để sớm trở về gia đình, xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa, vắng mặt người chứng kiến không rõ lý do, quá trình điều tra người chứng kiến đã có lời khai có trong hồ sơ vụ án. Xét thấy, việc vắng mặt của người chứng kiến không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng hình sự đã sửa đổi, bổ sung năm 2025 để tiếp tục xét xử.
[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa không có ai có ý kiến, khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đều hợp pháp.
[3] Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của những người tham gia tố tụng khác, phù hợp kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở để xác định:
[4] Bị cáo Lưu Viết B đang quá trình điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế tại Trung tâm kiểm soát bệnh tật tỉnh L nhưng vào khoảng 20 giờ ngày 17/7/2025 bị cáo đã mua ma túy về sử dụng, đến ngày 19/7/2025 khi đang trên đường đi tìm mua ma túy về sử dụng thì bị cáo bị đưa về trụ sở Công an phường T, tỉnh Lạng Sơn để xét nghiệm, kết quả trong mẫu máu và nước tiểu đều tìm thấy chất ma túy Morphine. Như vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn truy tố bị cáo về tội Sử dụng trái phép chất ma túy là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định tại điểm a khoản 1 Điều 256a của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.
[5] Hành vi phạm tội của bị cáo thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, hành vi đó đã xâm phạm đến chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy; xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe của bị cáo và là nguyên nhân phát sinh các tội phạm khác.
[6] Bị cáo đủ năng lực trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình thực hiện là vi phạm pháp luật, nhưng không tuân thủ chương trình điều trị nghiện vẫn cố ý tiếp tục sử dụng ma túy, vì vậy để ngăn chặn tình trạng tái nghiện, răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung, cần xử lý nghiêm minh hành vi của bị cáo đã thực hiện.
[7] Xét các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhận thấy: Bị cáo đang có 01 tiền án về tội Cố ý gây thương tích chưa được xóa án tích do chưa thi hành khoản bồi thường thiệt hại cho bị hại, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng tái phạm quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[8] Về nhân thân: Bị cáo chưa từng bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã từng bị kết án và là đối tượng nghiện ma túy, cần xác định bị cáo có nhân thân xấu.
[9] Từ những phân tích và đánh giá nêu trên, nhận thấy cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian phù hợp tương xứng với hành vi của bị cáo như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn.
[10] Về việc xử lý vật chứng: Không có.
[11] Đối với người đàn ông tên C1, không rõ tên tuổi, địa chỉ là người bán ma túy Heroin cho Lưu Viết B, Cơ quan điều tra không có căn cứ để xác minh, làm rõ đối tượng trên, do đó Hội đồng xét xử không có cơ sở xem xét, giải quyết.
[12] Về án phí: Bị cáo là người bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
[14] Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn đối với bị cáo là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 256a, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự, sửa đổi bổ sung năm 2025.
Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự sửa đổi bổ sung năm 2025; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Lưu Viết B phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lưu Viết B 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt 29/8/2025.
3. Về xử lý vật chứng: Không có.
4. Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm để nộp ngân sách Nhà nước.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận: - TAND tỉnh Lạng Sơn; - VKSND tỉnh Lạng Sơn; - Công an tỉnh Lạng Sơn; - CQCSĐT Công an tỉnh Lạng Sơn; - CQTHAHS Công an tỉnh Lạng Sơn; - Trại tạm giam CA tỉnh Lạng Sơn; - VKSND KV1 - Lạng Sơn; - Phòng THADS KV1 - Lạng Sơn; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ, HCTP. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Chu Thị Phương Thảo |
Bản án số 88/2025/HS-ST ngày 10/12/2025 của Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn về sử dụng trái phép chất ma túy
- Số bản án: 88/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Sử dụng trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/12/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân khu vực 1 - Lạng Sơn
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Lưu Viết B phạm tội Sử dụng trái phép chất ma túy
