|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG TỈNH BẠC LIÊU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30/5/2025 (V/v Tranh chấp ly hôn, nuôi con) |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM |
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Kim Phương
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Phước
Ông Trần Thanh Tuấn
Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diễm Hằng – Thư ký Toà án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Võ Minh Trí - Kiểm sát viên.
Trong ngày 30 tháng 5 năm 2025 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Phước Long mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án thụ lý số: 125/2025/TLST – HNGĐ, ngày 08 tháng 4 năm 2025 về việc tranh chấp ly hôn, nuôi con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 166/2025/QĐXXST – HNGĐ, ngày 25 tháng 4 năm 2025 và quyết định hoãn phiên tòa số: 110/2025/QÐST-HNGĐ ngày 13 tháng 5 năm 2025 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Cao Thị Hồng Đ, sinh ngày 01/01/1986. Nơi thường trú: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Chỗ ở hiện nay: Ấp T, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt
- Bị đơn: Anh Dương Văn T, sinh năm 1986. Địa chỉ: Ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 20/3/2025, các biên bản lấy lời khai trong quá trình tố tụng, nguyên đơn chị Cao Thị Hồng Đ trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2005, chị Đ và anh T có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng không có đăng ký kết hôn. Thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc nhưng sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng anh chị thường xuyên cự cải, hôn nhân không hạnh phúc và chị Đ, anh T đã ly thân với nhau từ khoảng tháng 3 năm 2023 cho đến nay. Nay nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Đ yêu cầu được ly hôn với anh Dương Văn T.
Về con chung: Chị Đ xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh T có 02 người con chung là cháu Dương Thị Thúy V, sinh ngày 10/10/2006 và Dương Gia H, sinh ngày 13/12/2013. Hiện nay cháu V đã trưởng thành nên chị Đ không yêu cầu Toà án giải quyết; Đối với cháu H hiện đang sống với chị Đ nên chị Đ yêu cầu được nuôi con nhưng không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ xác định giữa chị và anh T không có tài sản chung cũng như nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ngoài ra, chị Đ không yêu cầu gì khác.
Đối với bị đơn anh Dương Văn T không đến Tòa án và không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình cho Tòa án dù Tòa án đã thông báo, triệu tập hợp lệ. Do đó, Tòa án sẽ tiến hành giải quyết vắng mặt đối với anh T theo đúng trình tự quy định của pháp luật tố tụng dân sự.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về thủ tục tố tụng: Từ khi Tòa án thụ lý vụ án đến phiên tòa xét xử hôm nay Thẩm phán, Thư ký, Hội đồng xét xử, nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Riêng bị đơn chưa chấp hành đúng quy định tại điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Cao Thị Hồng Đ và anh Dương Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Dương Gia H, sinh ngày 13/12/2013 cho chị Cao Thị Hồng Đ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Dương Văn T không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đối với cháu Dương Thị Thúy V đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ không yêu cầu nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc chị Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình số tiền 300.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ pháp luật: Chị Cao Thị Hồng Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Dương Văn T và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” là đúng quy định.
[2] Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Dương Văn T có nơi đăng ký thường trú tại ấp P, xã V, huyện P, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
[3] Nguyên đơn chị Cao Thị Hồng Đ tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị Đ. Bị đơn anh Dương Văn T vắng mặt lần thứ hai tại phiên tòa mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ điểm b, khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự xét xử vắng mặt đối với anh T.
[4] Về yêu cầu ly hôn của chị Cao Thị Hồng Đ, Hội đồng xét xử thấy rằng: Chị Đ thừa nhận vào năm 2005 có tổ chức đám cưới với anh Dương Văn T trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc nhưng đến nay anh, chị chưa có đăng ký kết hôn. Trong quá trình chung sống vợ chồng chị thường xuyên cự cải, hôn nhân không hạnh phúc và chị Đ, anh T đã ly thân với nhau từ khoảng tháng 3 năm 2023 cho đến nay. Nay xét thấy tình cảm vợ chồng không còn nên chị Đ yêu cầu ly hôn với anh T. Tuy nhiên, theo Khoản 1 Điều 14 Luật hôn nhân gia đình năm 2014 quy định: “Nam, nữ có đủ điều kiện kết hôn theo quy định của Luật này mà chung sống với nhau như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn thì không làm phát sinh quyền, nghĩa vụ giữa vợ và chồng”. Do đó, Hội đồng xét xử không công nhận chị Cao Thị Hồng Đ với anh Dương Văn T là vợ chồng.
[5] Về con chung: Chị Đ xác định trong quá trình chung sống, giữa chị và anh T có 02 người con chung là cháu Dương Thị Thúy V, sinh ngày 10/10/2006 và Dương Gia H, sinh ngày 13/12/2013. Hiện nay cháu V đã trưởng thành nên chị Đ không yêu cầu Toà án giải quyết; Đối với cháu H hiện đang sống với chị Đ nên chị Đ yêu cầu được nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy, cháu H hiện đang sống cùng chị Đ và cháu đã có cuộc sống, môi trường ăn, ở ổn định. Đồng thời, cháu H có nguyện vọng theo sống cùng mẹ là chị Đ. Do đó, Hội đồng xét xử tiếp tục giao cháu Dương Gia H, sinh ngày 13/12/2013 cho chị Cao Thị Hồng Đ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Dương Văn T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đối với cháu Dương Thị Thúy V đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
[6] Về cấp dưỡng: Chị Cao Thị Hồng Đ không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[7] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Đ xác định giữa chị và anh T không có tài sản chung cũng như nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết, do đó Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét giải quyết.
[8] Về án phí: Buộc chị Cao Thị Hồng Đ phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 9, Điều 14, Điều 15, Điều 53, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Không công nhận chị Cao Thị Hồng Đ và anh Dương Văn T là vợ chồng.
- Về con chung: Tiếp tục giao cháu Dương Gia H, sinh ngày 13/12/2013 cho chị Cao Thị Hồng Đ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Đối với cháu Dương Thị Thúy V đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết.
- Về cấp dưỡng: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không đặt ra xem xét giải quyết.
- Về án phí: Buộc chị Cao Thị Hồng Đ phải nộp án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm không giá ngạch số tiền là 300.000 đồng. Chị Đ đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng tại biên lai thu số 0003312 ngày 08/4/2025 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.
Án xử sơ thẩm công khai. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
|
4
5
Bản án số 88/2025/HNGĐ-ST ngày 30/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU về tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Số bản án: 88/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/05/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƯỚC LONG, TỈNH BẠC LIÊU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, nuôi con