|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 88/2025/HNGĐ-ST Ngày: 27-6-2025 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuý An.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Nguyễn Thị Cẩm.
2/ Lê Thị Ái Xuân.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Thơ – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Tú – Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 05/2025/TLST-HNGĐ ngày 06 tháng 01 năm 2025 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 71/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 23 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Chút G, sinh năm 2002. (vắng mặt)
- Bị đơn: Anh Nguyễn An K, sinh năm 1995. (vắng mặt)
Địa chỉ cư trú: ấp V, xã V1, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
Địa chỉ cư trú: ấp V, xã V1, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 30/12/2024 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Chút G trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn An K thành hôn vào năm 2012, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 30/8/2013. Thời gian chung sống được 10 năm, lúc đầu có hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi do bất đồng quan điểm sống, không hoà thuận và vợ chồng ly thân hơn 02 năm nay không hàn gắn lại được. Nay xét thấy tình cảm không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị ly hôn với anh Nguyễn An K.
- Về con chung: Có 02 con chung tên Nguyễn An K1, sinh ngày 27/01/2014 hiện đang sống với anh K; Nguyễn Khánh T, sinh ngày 28/4/2018 hiện đang sống với chị. Chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu T, để anh K nuôi cháu K1, hai bên không phải cấp dưỡng nuôi con cho nhau.
- Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.
Ý kiến của Viện kiểm sát:
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng: Về trình tự, thủ tục tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà đã tuân thủ theo đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn vắng mặt không lý do dù Toà án đã tống đạt hợp lệ giấy triệu tập, văn bản tố tụng là vi phạm quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung: Áp dụng khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; các Điều 9, 19, 51, 56, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Chút G được ly hôn với anh Nguyễn An K. Về con chung và cấp dưỡng nuôi con: Giao con chung tên Nguyễn An K1, sinh ngày 27/01/2014 cho anh Nguyễn An K trực tiếp nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Chút G không phải cấp dưỡng nuôi con; Giao con chung tên Nguyễn Khánh T, sinh ngày 28/4/2018 cho chị Nguyễn Thị Chút G trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn An K không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Chút G và anh Nguyễn An K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét giải quyết. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị G nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn, khấu trừ 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) tiền tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai thu số 0011848 ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn, chị G đã nộp đủ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền, quan hệ tranh chấp: Căn cứ đơn khởi kiện của chị Nguyễn Thị Chút G yêu cầu Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long giải quyết ly hôn, nuôi con chung với anh Nguyễn An K cư trú ấp V, xã V1, huyện T, tỉnh Vĩnh Long. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án có quan hệ tranh chấp là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.
[1.2] Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Chút G có đơn xin vắng mặt ngày 12/3/2025, bị đơn anh Nguyễn An K được triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng bị đơn vẫn vắng mặt lần thứ hai không lý do. Căn cứ vào khoản 2 Điều 227 và khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.
[2] Về nội dung:
[2.1] Về hôn nhân:
Chị Nguyễn Thị Chút G và anh Nguyễn An K thành hôn có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã Vĩnh Xuân, huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long cấp giấy chứng nhận kết hôn số 92 vào ngày 30/8/2013 nên xem quan hệ hôn nhân giữa chị G và anh K là hợp pháp.
Xét trong quá trình chung sống vợ chồng giữa chị G và anh K thời gian đầu sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi do do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng sống không có tiếng nói chung và vợ chồng ly thân hơn 02 năm nay không hàn gắn được. Sau khi Tòa án thụ lý đã ra giấy triệu tập hợp lệ để Toà án hoà giải giúp đỡ đoàn tụ nhưng anh K vắng mặt không lý do, chị G có đơn yêu cầu không tiến hành hoà giải do đã ly thân hơn 02 năm, không còn tình cảm với anh K. Như vậy cho thấy tình cảm giữa chị G và anh K không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên xét yêu cầu ly hôn của chị G là có cơ sở phù hợp Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.2] Về con chung:
Xét thấy con chung tên Nguyễn An K1, sinh ngày 27/01/2014 hiện đang sống trực tiếp với anh K. Con chung tên Nguyễn Khánh T, sinh ngày 28/4/2018 hiện đang sống trực tiếp với chị G, cuộc sống của các cháu cũng đảm bảo, cháu K1 có nguyện vọng sống chung với anh K. Chị G yêu cầu được nuôi cháu T, để anh K tiếp tục nuôi cháu K1, không ai phải cấp dưỡng nuôi con. Anh K không có ý kiến gì về việc chị G yêu cầu nuôi con và cấp dưỡng nuôi con. Nên Hội đồng xét xử xét giao con chung tên Nguyễn An K1, sinh ngày 27/01/2014 cho anh Nguyễn An K trực tiếp nuôi dưỡng, chị Nguyễn Thị Chút G không phải cấp dưỡng nuôi con; Giao con chung tên Nguyễn Khánh T, sinh ngày 28/4/2018 cho chị Nguyễn Thị Chút G trực tiếp nuôi dưỡng, anh Nguyễn An K không phải cấp dưỡng nuôi con. Chị Nguyễn Thị Chút G và anh Nguyễn An K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở là phù hợp Điều 58, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình.
[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Chút G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
[2.4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Chút G phải nộp 300.000đ án phí ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự và tại Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, phù hợp theo quy định của pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ các Điều 56, 58, 81, 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Điều 6, điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Chút G. Xử cho chị G ly hôn với anh Nguyễn An K.
- Về con chung:
Giao con chung tên Nguyễn An K1, sinh ngày 27/01/2014 cho anh Nguyễn An K trực tiếp nuôi dưỡng. Chị Nguyễn Thị Chút G không phải cấp dưỡng nuôi con.
Giao con chung tên Nguyễn Khánh T, sinh ngày 28/4/2018 cho chị Nguyễn Thị Chút G trực tiếp nuôi dưỡng. Anh Nguyễn An K không phải cấp dưỡng nuôi con.
Chị Nguyễn Thị Chút G và anh Nguyễn An K có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở.
- Về tài sản chung, nợ chung: Chị Nguyễn Thị Chút G không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Thị Chút G phải nộp 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) án phí ly hôn. Khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm ngàn đồng) chị G đã nộp theo biên lai thu số 0011848 ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Trà Ôn. Chị G đã nộp đủ tiền án phí.
- Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Thuý An |
Bản án số 88/2025/HNGĐ-ST ngày 27/06/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG về ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Số bản án: 88/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/06/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ly hôn giữa Nguyễn Thị Chút G và Nguyễn An K
