Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2025/HNGĐ – ST

Ngày: 26 – 5 – 2025

V/v “Tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Phạm Xuân Khanh

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Trần Hùng Bích

2. Bà Huỳnh Thị Thúy Hoa.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Thảo – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên.

Ngày 26 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên, tỉnh An Giang tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 231/2025/TLST–HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2025 về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 224/2025/QĐXXST – HNGĐ ngày 15/4/2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 244/2025/QÐST – HNGĐ ngày 12/5/2025, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Nguyễn Phước L, sinh năm 1989

Địa chỉ: Số E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

- Bị đơn: Bà Lê Thị Uyên U, sinh năm 1990

Địa chỉ: Số E, khóm B, phường B, thành phố L, tỉnh An Giang.

Tại phiên tòa, có mặt ông Nguyễn Phước L; bà Lê Thị Uyên U vắng mặt, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 13/12/2024, các biên bản làm việc trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn là ông Nguyễn Phước L trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Ông và bà Lê Thị Uyên U tự nguyện quen biết nhau và tiến đến hôn nhân, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường B, thành phố L theo Giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 03/6/2011. Hôn nhân lần thứ nhất của vợ chồng. Sau khi kết hôn, ông và bà U chung sống tại nhà số E, khóm B, phường B. Cuộc sống vợ chồng hạnh phúc được hơn 10 năm thì phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, quan điểm nuôi dạy con; hai bên không có sự bàn bạc, chia sẻ những vấn đề liên quan đến cuộc sống chung như về kinh tế gia đình, về xây dựng cho tương lai. Thời gian qua, ông nhiều lần tìm cách trao đổi với bà U để vợ chồng có thể hòa hợp nhưng không nhận được sự phản hồi tích cực. Sau đó, bà U tự ý bỏ nhà đi hơn 06 tháng qua, không gọi điện thoại về thăm con, ông nhiều lần liên lạc nhưng không thành. Từ khi bà U bỏ đi cho tới nay, có rất nhiều người gọi điện thoại cho ông để đòi nợ nhưng bản thân ông không biết họ là ai, bà U cũng hoàn toàn không trao đổi với ông về việc vay tiền hay tham gia chơi hụi. Nhận thấy, hôn nhân của vợ chồng không có tiếng nói chung, mâu thuẫn trở nên trầm trọng, không còn hạnh phúc nên ông yêu cầu được ly hôn.

Về con chung: Ông và bà U có 01 (một) con chung tên Nguyễn Lê Quỳnh A, sinh ngày 21/10/2011 và sống với ông từ khi bà U bỏ đi cho tới nay. Ông yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con và không yêu cầu bà U cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Ông L không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và nghe ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

[1] Tranh chấp giữa ông Lợi, bà Uyên là tranh chấp về hôn nhân và gia đình theo quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có nơi cư trú hợp pháp tại phường B, thành phố L. Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của BLTTDS, Tòa án nhân dân thành phố Long Xuyên thụ lý giải quyết.

[2] Xét thấy, căn cứ vào Phiếu xác minh tình trạng cư trú ngày 26/3/2025 (có đối chiếu bản chính) thể hiện bà U có đăng ký hộ khẩu thường trú tại địa chỉ số E, khóm B, phường B và bà U không còn sinh sống tại địa phương. Như vậy, đã đủ cơ sở để xác định bà U có nơi cư trú hợp pháp là địa chỉ trên. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt, niêm yết công khai các văn bản tố tụng theo quy định tại Điều 177 và 179 của BLTTDS. Đồng thời, Tòa án cũng tiến hành thông báo cho bà U biết về việc ông L yêu cầu ly hôn, yêu cầu nuôi con trên phương tiện thông tin đại chúng. Cụ thể, đăng trên Cổng thông tin điện tử của Tòa án, trên các báo hàng ngày của trung ương trong ba số liên tiếp và phát sóng trên Đài truyền hình của trung ương ba lần trong 03 ngày liên tiếp. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay, bà U tiếp tục vắng mặt lần thứ hai, không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 227, Điều 228 của BLTTDS quyết định tiến hành xét xử vắng mặt bà U.

Về nội dung:

[3] Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Phước L và bà Nguyễn Thị Uyên U1 tự nguyện tiến đến hôn nhân và được Ủy ban nhân dân phường B cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 98 ngày 03/06/2011 nên được pháp luật công nhận là vợ chồng.

[4] Ông L cho rằng, quá trình chung sống giữa ông và bà U1 phát sinh nhiều mâu thuẫn và ngày càng trầm trọng. Nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, không thể hòa hợp. Phía bà U1 được Tòa án nhiều lần tống đạt, niêm yết công khai và thông báo các văn bản tố tụng trên phương tiện thông tin đại chúng. Tuy nhiên, bà U1 vẫn không gửi văn bản trình bày ý kiến của mình qua yêu cầu ly hôn của ông L, không đến tham gia hòa giải, không tham gia phiên tòa.

[5] Xét thấy, qua lời trình bày của ông L cho thấy quá trình chung sống, giữa ông L và bà U1 không có sự quan tâm, chăm sóc, không cùng nhau chia sẻ thực hiện các công việc gia đình. Đồng thời, bà U1 tự ý bỏ đi, không tiếp tục chung sống là vi phạm nghĩa vụ được quy định tại khoản 2 Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình. Từ đó, đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định, mục đích hôn nhân của ông L, bà U1 không đạt được, các bên không có biện pháp hàn gắn, nếu tiếp tục duy trì mối quan hệ này cũng không mang lại hạnh phúc cho cả hai. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của ông L được ly hôn bà U1.

[6] Về con chung: Căn cứ bản sao Giấy khai sinh số 589/2012 ngày 19/11/2012 do Ủy ban nhân dân phường B cấp, là đủ cơ sở để Hội đồng xét xử xác định ông L, bà U1 có 01 (một) con chung chưa thành niên tên Nguyễn Lê Quỳnh A sinh ngày 21/10/2011. Xét thấy, cháu Quỳnh A đang được ông L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Đồng thời, cháu Quỳnh A cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với cha. Do đó, căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu được nuôi con của ông L,

[7] Về cấp dưỡng nuôi con: Do ông L không yêu cầu nên bà U1 không phải cấp dưỡng nuôi con.

[8] Về tài sản chung và nợ chung: Do không có ý kiến của bà U1 về tài sản chung và nợ chung nên Hội đồng xét xử không xem xét đến. Sau này, các bên phát sinh tranh chấp sẽ được giải quyết bằng vụ án khác.

[9] Về án phí: Ông L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do ông L đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002475 ngày 17/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, ông L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào:

  • - Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 177, Điều 179, Điều 180, Điều 227, Điều 228, Điều 273 và khoản 1 Điều 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
  • - Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
  • - Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Phước L được ly hôn bà Lê Thị Uyên U.

[2] Về con chung: Ông, bà có 01 (một) con chung tên Nguyễn Lê Quỳnh A, sinh ngày 21/10/2011.

Giao cháu Nguyễn Lê Quỳnh A cho ông L được quyền trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng.

[3] Về cấp dưỡng nuôi con: Bà U không phải cấp dưỡng nuôi con do ông L không yêu cầu.

(Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó. Người không trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình phải tôn trọng quyền được nuôi con của người trực tiếp nuôi con. Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định pháp luật. Các đương sự có quyền thỏa thuận về việc thay đổi người trực tiếp nuôi con phù hợp với lợi ích của con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; có quyền thoả thuận cấp dưỡng, trường hợp không thỏa thuận được thì yêu cầu Tòa án giải quyết.)

[4] Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét.

[5] Về án phí: Ông L phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án hôn nhân và gia đình. Do ông L đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002475 ngày 17/03/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Long Xuyên, ông L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

[6] Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án; các đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh AG;
  • - VKSND TPLX;
  • - Chi cục THADS TPLX;
  • - Các đương sự;
  • - UBND phường Bình Khánh
  • (GCNKH số 98 ngày 03/06/2011);
  • - Lưu VT và hồ sơ vụ án./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Phạm Xuân Khanh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HNGĐ – ST ngày 26/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN về tranh chấp ly hôn, nuôi con

  • Số bản án: 88/2025/HNGĐ – ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 26/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG XUYÊN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger