Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

KHU VỰC 2 - CẦN THƠ

Bản án số: 88/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 05/12/2025

V/v tranh chấp: Ly hôn, nuôi con chung

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hài

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Huỳnh Văn Nhân
  2. Bà Trần Vĩnh Hạnh

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Ngọc Gia Hân – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 2 - Cần Thơ.

Trong ngày 05 tháng 12 năm 2025 tại trụ sở Tòa án nhân khu vực 2 - Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 228/2025/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 11 năm 2025 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 480/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 28 tháng 11 năm 2025 giữa các đương sự, giữa:

Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim H, sinh năm 1993. CCCD: [...].

Địa chỉ thường trú: Ấp V, xã V, tỉnh An Giang.

Địa chỉ liên hệ: 19K/10, khu V, phường B, thành phố Cần Thơ.

Bị đơn: Ông Lê Minh H1, sinh năm 1986. CCCD: [...].

Nơi cư trú: A, khu V, phường B, thành phố Cần Thơ.

Nguyên đơn, bị đơn đều có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện đề ngày 21/8/2025 và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Lê Thị Kim H trình bày:

Bà Kim H và ông Lê Minh H1 tự nguyện tiến đến hôn nhân và có đăng ký kết hôn tại Ủy Ban nhân dân phường B, quận B, thành phố Cần Thơ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 03/2023 ngày 17/01/2023. Thời gian đầu vợ chồng chung sống vợ chồng hạnh phúc và có một con chung là cháu Lê Minh K (nam), sinh ngày 10/4/2023. Sau đó thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H1 thường xuyên đi nhậu, bạo lực, cờ bạc và có lời lẽ xúc phạm bà Kim H, dẫn đến gia đình không hạnh phúc, thường xảy ra cải vã, cả hai cũng cố gắng hàn gắn tình cảm nhưng không thành. Nay bà Kim H nhận thấy tình cảm dành cho ông H1 không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn giữa bà Kim H và ông Lê Minh H1.

- Về con chung: Giữa bà H và ông H1 có 01 (một) người con chung cháu Lê Minh K (nam), sinh ngày 10/4/2023. Bà Kim H đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Không yêu cầu giải quyết.

* Phần trình bày của ông Lê Kim H2:

- Về quan hệ hôn nhân: Ông thống nhất với ý kiến trình bày của bà Kim H về quan hệ hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, ông bà có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Về nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn, con chung, tài sản chung, nợ chung như bà H trình bày là đúng. Tuy nhiên ông không thống nhất một phần trình bày của bà H về phần ông cờ bạc và bạo lực là không đúng. Nay ông H2 nhận thấy tình cảm của ông đối với bà Kim H không còn, tình cảm vợ chồng không thể hàn gắn nên ông thống nhất với yêu cầu ly hôn của bà Lê Thị Kim H.

- Về con chung: Giữa ông H2 và bà Kim H có 01 (một) người con chung cháu Lê Minh K, sinh ngày 10/4/2023. Sau khi ly hôn, ông không đồng ý giao con cho bà Kim H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Ông cho rằng bà H không đủ điều kiện về kinh tế, việc làm không ổn định và môi trường không an toàn cho để chăm sóc con. Do đó, ông yêu cầu giao cháu K cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và không yêu cầu bà Kim H cấp dưỡng nuôi con chung.

- Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Không yêu cầu giải quyết.

Các bên không thống nhất phương án giải quyết nên vụ án được đưa ra xét xử công khai.

Tại phiên tòa sơ thẩm, các đương sự vẫn giữ nguyên ý kiến và yêu cầu đã trình bày:

Nguyên đơn bà Lê Thị Kim H vẫn giữ nguyên yêu cầu được ly hôn với ông Lê Minh H1. Yêu cầu giao con chung là cháu Lê Minh K (nam), sinh ngày 10/4/2023 cho bà trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành, không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con chung; Tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết.

Bị đơn ông Lê Minh H1 đồng ý ly hôn với bà Lê Thị Kim H. Về con chung cháu Lê Minh K, sinh ngày 10/4/2023, yêu cầu giao cháu K cho ông trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con đến tuổi trưởng thành và ông không yêu cầu bà Kim H cấp dưỡng nuôi con chung; Về tài sản chung, nợ chung: Không có. Không yêu cầu giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]Về tố tụng: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện kết hôn và được cấp giấy chứng nhận kết hôn theo quy định nên đây là hôn nhân hợp pháp, nguyên đơn có yêu cầu xin ly hôn và giải quyết nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật tranh chấp là: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung. Bị đơn có địa chỉ thường trú tại phường B, thành phố Cần Thơ nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 2 – Cần Thơ.

[2] Về nội dung khởi kiện:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn và bị đơn tự nguyện tìm hiểu và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Thời gian đầu chung sống hạnh phúc, tuy nhiên về sau phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân theo nguyên đơn trình bày do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong cuộc sống, ông H1 thường xuyên đi nhậu, bạo lực, cờ bạc và có lời lẽ xúc phạm nguyên đơn dẫn đến vợ chồng thường xuyên cãi vả, gia đình không hạnh phúc. Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã vận động hai bên đương sự đoàn tụ, hàn gắn tình cảm vợ chồng, tuy nhiên cả hai bên đương sự không yêu cầu hòa giải đoàn tụ và bị đơn thống nhất ly hôn với nguyên đơn do đó xét thấy, giữa nguyên đơn và bị đơn không muốn duy trì cuộc sống hôn nhân này, nên Hội đồng xét xử chấp thuận công nhận sự thuận tình ly hôn giữa nguyên đơn và bị đơn là phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Quá trình hôn nhân giữa bà Kim H và ông H1 có 01 người con chung cháu Lê Minh K (nam), sinh ngày 10/4/2023. Cả ông H1 và bà Kim H đều có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cháu K đến tuổi trưởng thành và đều không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy, ông H1 và bà Kim H không thỏa thuận được về việc nuôi con chung sau khi ly hôn. Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện cả bà H và ông H1 đều là người có thu nhập ổn định, đảm bảo đủ điều kiện về kinh tế để nuôi dưỡng và chăm sóc con chung. Tuy nhiên, sau khi xem xét, đánh giá việc giao con chưa đủ 36 tháng tuổi cho cha hoặc mẹ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cần phải căn cứ vào quyền lợi đảm bảo mọi mặt của con, đặt biệt là đảm bảo cho sự phát triển về tâm sinh lý, việc học hành và các điều kiện khác cho sự phát triển toàn diện của trẻ em. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cháu Lê Minh K (nam), sinh ngày 10/4/2023 cho bà Lê Thị Kim H tiếp tục trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Về quyền yêu cầu cấp dưỡng, bà Kim H không yêu cầu ông H1 cấp dưỡng nuôi con đây là sự tự nguyện của đương sự nên chấp thuận.

Ông H1 có quyền yêu cầu Tòa án thay đổi người trực tiếp nuôi con nếu chứng minh được bà Kim H không nuôi dưỡng con chung tốt, không đảm bảo đủ các điều kiện để cháu K phát triển toàn diện.

Về tài sản chung, nợ chung: Hai bên đương sự không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không đặt ra vấn đề xem xét.

[3] Về án phí và quyền kháng cáo: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào:

  • Khoản 1 Điều 28, Điều 147, Điều 227 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.
  • Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Lê Thị Kim H và ông Lê Minh H1 thuận tình ly hôn.
  2. Về con chung: Giao con chung là Lê Minh K (nam), sinh ngày 10/4/2023 cho bà Lê Thị Kim H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, không yêu cầu ông Lê Minh H1 cấp dưỡng nuôi con.

    Dành quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung cho ông Lê Minh H1, không ai được quyền ngăn cản. Vì lợi ích của con chung theo yêu cầu của một hoặc hai bên Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.
  4. Về án phí hôn nhân: Nguyên đơn bà Lê Thị Kim H phải nộp 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được khấu trừ tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0009023 ngày 07/11/2025 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 2 – Cần Thơ. Bà H đã nộp xong.
  5. Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. Cần Thơ;
  • - VKSND khu vực 2 – Cần Thơ;
  • - Phòng THADS khu vực 2 – Cần Thơ;
  • - UBND P. Bình Thủy;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

Nguyễn Thị Hài

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2025/HNGĐ-ST ngày 05/12/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ về tranh chấp ly hôn và nuôi con chung

  • Số bản án: 88/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn và nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/12/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 2 - CẦN THƠ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyên đơn: Bà Lê Thị Kim Hai, sinh năm 1993. CCCD: 091193007005. Địa chỉ thường trú: Ấp Vĩnh Chánh, xã Vĩnh Hòa, tỉnh An Giang. Địa chỉ liên hệ: 19K/10, khu vực 4, phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ. Bị đơn: Ông Lê Minh Hùng, sinh năm 1986. CCCD: 092086000954. Nơi cư trú: 19K/10, khu vực 4, phường Bình Thủy, thành phố Cần Thơ
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger