|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE TỈNH BẾN TRE |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2025/DS-ST Ngày: 04-6-2025 V/v tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE – TỈNH BẾN TRE
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Hoàng Út
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Hưng
- Bà Nguyễn Thị Bé Em
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Huỳnh Sơn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Ngọc Điệp – Kiểm sát viên
Ngày 04 tháng 6 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 305/2024/TLST-DS ngày 24 tháng 10 năm 2024 về việc tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 77/2025/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 120A/2025/QĐST-DS ngày 13 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Trương Thị M, sinh năm: 1944;
- Bị đơn: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D (trước đây là Doanh nghiệp tư nhân D1);
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trương Vĩnh P, sinh năm: 1973;
Nơi cư trú: Số A, ấp A, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. (Có mặt)
Địa chỉ trụ sở: tổ A, ấp A (thửa đất số 121, tờ bản đồ số 3), xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
Người đại diện theo pháp luật đồng thời là chủ sở hữu Công ty: Ông Nguyễn Vũ T, sinh năm: 1984. (Vắng mặt)
Nơi cư trú: Số A, P, Phường F, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (Có yêu cầu xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, các văn bản, tài liệu chứng cứ cung cấp cho Tòa án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Trương Thị M trình bày:
Ngày 07/12/2015, bà Trương Thị M có ký kết hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với Doanh nghiệp tư nhân D1 (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D). Theo nội dung của hợp đồng, bà M cho Doanh nghiệp tư nhân D1 thuê một phần thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 (sau tách ra thành thửa 1190 và 1191, cùng tờ bản đồ số 3, nay là thửa 97 và 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre với diện tích khoảng 2.500 m²; Thời hạn thuê là 10 năm tính từ ngày 07/12/2015 đến ngày 07/12/2025; Mục đích thuê là để kinh doanh dịch vụ ăn uống; Giá thuê đất là 8.000.000 đồng/tháng, định kỳ 03 năm tăng giá một lần 05%/tháng; Phương thức thanh toán tiền thuê 03 tháng/lần từ ngày 01 đến ngày 05 của tháng đầu kỳ. Ngoài ra, hợp đồng trên còn nêu nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên, phương thức giải quyết tranh chấp...
Đến năm 2016, bà M và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D có thỏa thuận miệng (không lập hợp đồng), theo đó: bà M cho Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D thuê thêm một phần đất có diện tích khoảng 100 m² (ngang 5 mét, dài 20 mét) với giá 5.000.000 đồng/tháng; Thời hạn thuê là 10 năm; Phương thức thanh toán tiền thuê 03 tháng/lần từ ngày 01 đến ngày 05 của tháng đầu kỳ. Quá trình thực hiện hợp đồng, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Tuy nhiên từ năm 2020 (thời điểm này Doanh nghiệp tư nhân D1 đã chuyển thành Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D) đến nay, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán tiền, mặc dù bà M đã nhiều lần yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất thanh toán tiền thuê quyền sử dụng đất còn nợ nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D không thực hiện. Vì vậy, nay bà M khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 07/12/2015 giữa bên cho thuê bà Trương Thị M với bên thuê là Doanh nghiệp tư nhân dịch vụ ăn uống Ninh Kiều đối với thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 (sau tách ra thành thửa 1190 và 1191, cùng tờ bản đồ số 3, nay là thửa 97 và 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre. Đồng thời yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải trả số tiền nợ tiền thuê đất tính đến hết ngày 31/5/2025 là 477.000.000 đồng. Bà Trương Thị M yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải tháo dỡ, di dời tài sản đã xây dựng trên thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 (sau tách ra thành thửa 1190 và 1191, cùng tờ bản đồ số 3, nay là thửa 97 và 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M để trả lại quyền sử dụng đất cho bà M.
Theo bản tự khai và lời trình bày ý kiến tại biên bản bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trương Vĩnh P trình bày:
Ông P là chủ sử dụng đất số 1191, tờ số 3 (nay là thửa đất số 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất trên, nguồn gốc thửa đất do ông nhận chuyển nhượng của bà Trương Thị M. Khi nhận chuyển nhượng và đến thời điểm hiện nay còn tài sản của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D (trước đây là Doanh nghiệp tư nhân D1). Nay qua yêu cầu khởi kiện của bà M, ông đồng ý theo yêu cầu của bà M và không có yêu cầu gì trong vụ án này. Ông xin vắng mặt tại các lần giải quyết tiếp theo tai Tòa án các cấp.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần triệu tập hợp lệ Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D đến để tiến hành hòa giải và tham gia phiên tòa nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D vắng mặt và không có lời trình bày ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre phát ý kiến giải quyết như sau:
- Về tố tụng: Những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan tuân thủ đúng quy định của pháp luật, bị đơn không tuân thủ đúng quy định của pháp luật trong việc tham gia tố tụng.
- Về nội dung đề nghị: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M, tuyên chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ký ngày 07/12/2015 giữa bà Trương Thị M và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D (trước đây là Doanh nghiệp tư nhân D1), buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D tháo dỡ, di dời tài sản đã xây dựng trên thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 (sau tách ra thành thửa 1190 và 1191, cùng tờ bản đồ số 3, nay là thửa 97 và 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M, thành phố B và trả lại thửa đất nêu trên cho bà M, buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D thanh toán cho bà M tiền thuê quyền sử dụng đất là 477.000.000 đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào lời trình bày của nguyên đơn, căn cứ vào kết quả tranh luận, căn cứ ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết:
Bà Trương Thị M khởi kiện Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, tháo dỡ, di dời tài sản trên đất và thanh toán tiền thuê quyền sử dụng đất nên xác định quan hệ tranh chấp trong vụ án này là “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D là bị đơn có trụ sở tại thành phố B, tỉnh Bến Tre và hợp đồng thuê quyền sử dụng đất được thực hiện tại thành phố B, tỉnh Bến Tre nên vụ án này thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và điểm g khoản 1 Điều 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về thủ tục tố tụng:
[2.1] Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D là bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D theo quy định tại khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2.2] Ông Trương Vĩnh P là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu xét xử vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông P theo quy định tại Điều 227 và Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[3] Về nội dung yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M:
[3.1] Ngày 07/12/2015, bà Trương Thị M và Doanh nghiệp tư nhân D1 (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D) có ký hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, theo đó bà M cho Doanh nghiệp tư nhân D1 thuê quyền sử dụng đất là một phần thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 (sau tách ra thành thửa 1190 và 1191, cùng tờ bản đồ số 3, nay là thửa 97 và 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre; giá thuê đất là 8.000.000 đồng/tháng, định kỳ 03 năm tăng giá một lần 05%/tháng và thanh toán tiền thuê 03 tháng/lần từ ngày 01 đến ngày 05 của tháng đầu kỳ. Bà M cho rằng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền thuê quyền sử dụng đất từ tháng 10 năm 2020 cho đến nay nên yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất, yêu cầu tháo dỡ, di dời tài sản trên đất để trả lại đất và thanh toán tiền thuê đất còn nợ là 477.000.000 đồng.
Xét thấy, hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa các bên được ký kết trên cơ sở tự nguyện và được công chứng, chứng thực theo quy định của pháp luật nên có trách nhiệm ràng buộc quyền và nghĩa vụ của các bên.
[3.2] Ngoài ra, năm 2016 bà M còn thỏa thuận (không có lập thành văn bản) cho Doanh nghiệp tư nhân D1 (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D) thuê thêm phần đất có diện tích khoảng 100 m² một phần thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 (sau tách ra thành thửa 1190 và 1191, cùng tờ bản đồ số 3, nay là thửa 97 và 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre với giá thuê đất là 5.000.000 đồng/tháng; Thời hạn thuê là 10 năm; Phương thức thanh toán tiền thuê 03 tháng/lần từ ngày 01 đến ngày 05 của tháng đầu kỳ. Mặc dù giữa bà M và Doanh nghiệp tư nhân D1 (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D) không có lập thành văn bản (hợp đồng) đối với phần đất này, tuy nhiên lời trình bày này của bà M phù hợp với diện tích thực tế mà Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D đang quản lý, sử dụng và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D không có ý kiến phản đối với lời trình bày của bà M nên Hội đồng xét xử xác định giữa bà M và Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D có thỏa thuận thuê đất nhưng không có lập thành văn bản như lời trình bày của bà M.
[3.3] Bà M trình bày Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán (thanh toán không đầy đủ) tiền thuê quyền sử dụng đất cho bà M từ ngày tháng 10 năm 2020 đến nay, cụ thể như sau:
- - Năm 2020: 8.000.000 đồng/tháng x 02 tháng = 16.000.000 đồng.
- - Năm 2021:
- + Tiền thuê đất: 13.000.000 đồng/tháng x 12 tháng = 156.000.000 đồng;
- + Số tiền thanh toán: 20.000.000 đồng;
- + Số tiền còn nợ: 136.000.000 đồng.
- - Năm 2022:
- + Tiền thuê đất: 13.000.000 đồng/tháng x 12 tháng = 156.000.000 đồng;
- + Số tiền thanh toán: 130.000.000 đồng;
- + Số tiền còn nợ: 26.000.000 đồng.
- - Năm 2023:
- + Tiền thuê đất: 13.000.000 đồng/tháng x 12 tháng = 156.000.000 đồng;
- + Số tiền thanh toán: 78.000.000 đồng;
- + Số tiền còn nợ: 78.000.000 đồng.
- - Năm 2024: 13.000.000 đồng/tháng x 12 tháng = 156.000.000 đồng.
- - Năm 2025: 13.000.000 đồng/tháng x 05 tháng = 65.000.000 đồng.
- Tổng cộng: 477.000.000 đồng.
Xét thấy, Theo quy định tại Điều 6 của cả hợp đồng thuê quyền sử dụng đất thể hiện nghĩa vụ của bên B (Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D) phải trả đủ tiền thuê theo phương thức đã thỏa thuận. Tòa án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án để Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D biết yêu cầu khởi kiện của bà M và Tòa án đã nhiều lần triệu tập Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D để tham gia phiên hòa giải và phiên tòa nhưng Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D vắng mặt và không có lời trình bày ý kiến và phản đối đối với yêu cầu khởi kiện của bà M thể hiện Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D đã thừa nhận nợ tiền thuê đất và đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của bà M. Từ đó cho thấy, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D đã vi phạm nghĩa vụ trả tiền thuê quyền sử dụng đất được các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Vì vậy, bà M yêu cầu chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa các bên đã ký kết, buộc tháo dỡ, di dời tài sản trên đất, trả lại thửa đất và trả tiền thuê quyền sử dụng đất còn nợ với số tiền 477.000.000 đồng là có căn cứ và phù hợp với quy định tại Điều 422, 428, 481 và 482 Bộ luật Dân sự năm 2015 và Điều 45 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 nên được Hội đồng xét xử chấp nhận. Ghi nhận bà Trương Thị M không yêu cầu Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D trả tiền thuê quyền sử dụng đất từ ngày 01/6/2025 đến ngày xét xử sơ thẩm và không yêu cầu thanh toán với giá thuê tăng định kỳ 03 một lần 05%/tháng theo thỏa thuận.
[4] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[5] Về chi phí thu thập chứng cứ: Chi phí thu thập chứng cứ là: 14.655.000 đồng, do yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M được chấp nhận nên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải nộp toàn bộ chi phí nêu trên. Do bà M đã nộp số tiền nêu trên nên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà M.
[6] Về án phí: Do yêu cầu khởi kiện của bà Trương Thị M được chấp nhận nên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 36.000.000 đồng x 5% = 23.080.000 đồng.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm g khoản 1 Điều 40; các Điều 147, 157, 165, 227, 228, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
Áp dụng các 422, 428, 472, 481, 482, 500, 501, 502 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Áp dụng các Điều 42, 43, 44, 45 Luật kinh doanh bất động sản năm 2014;
Áp dụng Điều 26 Nghị quyết số 326/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Trương Thị M về việc tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất với bị đơn Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D, cụ thể:
- Tuyên bố chấm dứt hợp đồng thuê quyền sử dụng đất ngày 07/12/2015 giữa bên cho thuê bà Trương Thị M với bên thuê Doanh nghiệp tư nhân D1 (nay là Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D) được công chứng tại Văn phòng C, số công chứng 2783, quyển số 06/2025TP/CC-SCC/HĐGD đối với thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 (sau tách ra thành thửa 1190 và 1191, cùng tờ bản đồ số 3, nay là thửa 97 và 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải có nghĩa vụ tháo dỡ, di dời nhà tiền chế 1, nhà tiền chế 2, nhà tiền chế 3, chòi nước 1, chòi nước 2, phòng khách và quầy bán nước trên thửa đất số 119, tờ bản đồ số 3 (sau tách ra thành thửa 1190 và 1191, cùng tờ bản đồ số 3, nay là thửa 97 và 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre (Các tài sản được thể hiện theo hồ sơ đo đạc của Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai thành phố B ngày 01/4/2025 kèm theo).
- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải có nghĩa vụ giao trả lại cho bà Trương Thị M thửa đất 119, tờ bản đồ số 3 (sau tách ra thành thửa 1190 và 1191, cùng tờ bản đồ số 3, nay là thửa 97 và 122, tờ bản đồ số 57), tọa lạc tại xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre quản lý, sử dụng.
- Buộc Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải có nghĩa vụ thanh toán cho bà Trương Thị M số tiền 477.000.000 (Bốn trăm bảy mươi bảy triệu) đồng.
- Về chi phí thu thập chứng cứ: Chi phí thu thập chứng cứ là: 14.655.000 (Mười bốn triệu, sáu trăm, năm mươi lăm nghìn) đồng, Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải chịu nhưng do bà Trương Thị M đã nộp xong nên Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải có trách nhiệm trả lại cho bà Trương Thị M số tiền 14.655.000 (Mười bốn triệu, sáu trăm, năm mươi lăm nghìn) đồng.
- Về án phí: Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D phải nộp án phí dân sự sơ thẩm không có giá ngạch là 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 23.080.000 (Hai mươi ba triệu, không trăm tám mươi nghìn) đồng. Tổng cộng án phí dân sự sơ thẩm phải nộp là 13.380.000 (Hai mươi ba triệu, ba trăm tám mươi nghìn) đồng.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về quyền kháng cáo: Bà Trương Thị M được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên D và ông Trương Vĩnh P vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Hoàng Út |
Bản án số 88/2025/DS-ST ngày 04/06/2025 của Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, Tỉnh Bến Tre về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Số bản án: 88/2025/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 04/06/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Thành phố Bến Tre, Tỉnh Bến Tre
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn