|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2025/DS-PT Ngày: 10-03-2025 V/v "Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Quyến
Các Thẩm phán:
Bà Phan Thị Hồng Dung
Ông Nguyễn Văn Hải
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thảo Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ: Ông Lâm Thành Them - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Trong các ngày 07 và 10 tháng 03 năm 2025 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 614/TLDS-PT ngày 30 tháng 12 năm 2024 về việc “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề".
Do bản án dân sự sơ thẩm số 179/2024/DS-ST ngày 30/9/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 58/2025/QĐ-PT ngày 06 tháng 02 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn:
- Bà Đào Thị T, sinh năm 1965; Địa chỉ: Số G Cách mạng tháng T, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
- Bà Bùi Thị Thu B, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số A N, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện theo ủy quyền của bà T: Bà Bùi Thị Thu B, sinh năm 1975; Địa chỉ: Số A N, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ (Giấy ủy quyền ngày 21/10/2024). (có mặt)
- Bị đơn:
- Bà Nguyễn Thị P, sinh năm 1955
- Ông Phan Trí N, sinh năm 1982
Cùng địa chỉ: Số I N, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ.
Người đại diện hợp pháp của bà P, ông N: Ông Phan Văn H, sinh năm 1958; Địa chỉ: 1 H, phường T, quận N, thành phố Cần Thơ. (Giấy ủy quyền ngày 09 tháng 4 năm 2024). (có mặt)
Người đại diện hợp pháp của bà P: Ông Nguyễn Thanh H1, sinh năm 1949; Địa chỉ: Khóm T, thị trấn T, huyện B, tỉnh Vĩnh Long (Hợp đồng ủy quyền ngày 13/11/2024). (có mặt)
- Người kháng cáo: Các nguyên đơn bà Đào Thị T, bà Bùi Thị Thu B; các bị đơn bà Nguyễn Thị P, ông Phan Trí N.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, bà Bùi Thị Thu B trình bày và yêu cầu:
Vào năm 2001, cha của bà là ông Bùi Văn B1 có chuyển nhượng phần đất diện tích 689,9m² (ngang 14,8m x dài 44m) thuộc thửa đất số 279, tờ bản đồ số 07 tọa lạc tại phường A, thành phố Cần Thơ, tỉnh Cần Thơ (nay là phường A, quận B, thành phố Cần Thơ) cho bà Nguyễn Thị P. Đến ngày 15/6/2001 bà Nguyễn Thị P đăng ký và được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phần diện tích 302,1m² thuộc thửa đất số 122, tờ bản đồ số 46, tọa lạc tại đường C, phường A, quận B, thành phố Cần Thơ (cũ) và bà P để cho con trai là ông Phan Trí N đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 387,8m² thuộc thửa đất số 123.
+ Năm 2003, bà T được ông Bùi Văn B1 tặng cho phần đất liền kề với phần đất của bà Nguyễn Thị P với diện tích 249,15m², tại thửa số 164, 165, 166, tờ bản đồ số 46, được Ủy ban nhân dân thành phố C (cũ) cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào số cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất: 04851.QSDĐ/ ngày 31/12/2003. Đến năm 2019, bà T phát hiện diện tích đất của bà bị thiếu, nguyên nhân là do bà Nguyễn Thị P xây dựng công trình nhà xưởng lấn sang phần đất của bà. Do đó, bà T khởi kiện và yêu cầu buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P và ông Phan Trí N trả lại cho bà phần đất đã lấn chiếm diện tích khoảng 3m² (phần giữa khoảng 20cm, phần cuối khoảng 10cm, chiều dài 17m).
Bà Đào Thị T thống nhất với Bản trích đo địa chính số: 176/TTKTTNMT ngày 29/02/2024 của Trung tâm Kỹ thuật Tài nguyên và Môi trường thành phố C. Căn cứ vào giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bản trích đo địa chính thì phần đất tiếp giáp với thửa đất số 122 của bà Nguyễn Thị P chỉ có thửa đất số 166 của bà và bà P với ông Phan Trí N đã lấn chiếm chiều ngang 10cm và chiều dài 16m.
Do đó, bà yêu cầu bà Nguyễn Thị P và ông Phan Trí N tháo dỡ tường rào để trả lại cho bà diện tích 1,6m².
+ Năm 2003, bà B được ông Bùi Văn B1 tặng cho phần đất liền kề với phần đất của bà Nguyễn Thị P với diện tích 168,7m², được Ủy ban nhân dân thành phố C cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 04852 ngày 31/12/2003 (được cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BX543485 ngày 17/4/2015). Đến năm 2007, bà B xây nhà, có tiến hành đo đạc lại thì phát hiện đất bị thiếu diện tích. Nguyên nhân thiếu là do bà P và ông N xây dựng công trình nhà xưởng lấn sang phần đất của bà, đồng thời phần không gian trên không cũng bị lấn chiếm, cụ thể phần đầu bị lấn 10cm, giữa 15,20cm và đuôi 10cm, chiều dài 30,7m. Phần cột móc tiếp giáp giữa thửa đất số 122, 163 và 166 do phía bị đơn tự cắm trụ ranh và nguyên đơn thống nhất với trụ ranh này. Do đó, bà B khởi kiện và yêu cầu buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P và ông Phan Trí N tháo dỡ công trình trên đất và không gian trên không để trả lại cho bà phần đất đã lấn chiếm diện tích khoảng 4,5m² thuộc thửa đất số 163.
Theo bà B, Bản trích đo địa chính số: 175/TTKTTNMT ngày 29/02/2024 chưa chính xác, cụ thể: Phần đất tranh chấp giữa thửa đất số 122 với thửa đất số 163 có chiều ngang 0,10m x chiều dài 30,76m nhưng xác định diện tích tranh chấp 3m² là chưa phù hợp và phần diện tích đất thửa 122 có chiều ngang lớn hơn theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng diện tích đất bị giảm thiểu 1,6m². Vào ngày 07/8/2024, bà đã có đơn khiếu nại gửi đến Sở Tài nguyên và Môi trường thành phố C nhưng đến nay vẫn chưa nhận được kết quả cuối cùng. Do diện tích tranh chấp 3,076m² nên bà yêu cầu bà Nguyễn Thị P và ông Phan Trí N trả lại cho bà diện tích 3,076m².
- Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, ông ông Phan Văn H trình bày:
Khoảng năm 2000, bà Nguyễn Thị P và ông Phan Trí N có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của của cha mẹ bà Đào Thị T với bà Bùi Thị Thu B diện tích 689,9m², khi mua có cơ quan chức năng đo đạc và thanh toán tiền đầy đủ. Bà Nguyễn Thị P được Ủy ban nhân dân tỉnh C (cũ) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 302.1m² thuộc thửa đất số 122 và ông Phan Trí N được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 387,8m² thuộc thửa đất số 123, cùng tờ bản đồ số 46.
Sau khi nhận chuyển nhượng đã tiến hành xây dựng tường rào sử dụng ổn định nhưng cha mẹ của nguyên đơn không có ý kiến. Vào năm 2022, đã một lần đo đạc theo yêu cầu của Thanh tra Sở T, ông đã thống nhất ý kiến. Đối với Bản trích đo địa chính số 175/TTKTTNMT và Bản trích đo địa chính số 176/TTKTTNMT cùng ngày 29/02/2024 thì phần diện tích đất của ông Phan Trí N dư là do trước đây xây dựng tường rào có lấn sang hẻm công cộng chiều ngang khoảng 20cm. Do bị
đơn không có lấn chiếm đất của nguyên đơn nên không đồng ý theo yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với trình bày của nguyên đơn về việc tường rào bị nghiêng là yếu tố khách quan nên bị đơn tự nguyện sửa chữa khi vụ án được giải quyết xong.
Vụ việc được hòa giải nhưng không thành nên đưa ra xét xử. Tại bản án dân sự sơ thẩm số 179/2024/DS-ST ngày 30/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy đã quyết định:
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đào Thị T.
Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Bùi Thị Thu B.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P và ông Phan Trí N trả cho nguyên đơn bà Đào Thị T giá trị phần diện tích 1,1m² đất với số tiền 247.500 đồng (hai trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P và ông Phan Trí N trả cho nguyên đơn bà Bùi Thị Thu B giá trị phần diện tích 1,4m² đất với số tiền 7.700.000 đồng (bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).
Ngoài ra, bản án còn tuyên về chi phí đo đạc, định giá, án phí và quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm,
Ngày 10/10/2024, nguyên đơn Đào Thị T kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng buộc bà P và ông N tháo dỡ điểm B (bức tường) của M trích đo địa chính 175 để trả lại đất cho bà B.
Ngày 10/10/2024, nguyên đơn Bùi Thị Thu B nộp đơn kháng cáo bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm sửa án sơ thẩm theo hướng bà P và ông N tháo dỡ diễm C (bức tường) của M trích đo địa chính 176, để trả lại đất cho bà T.
Nguyên đơn yêu cầu xem xét không phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí đo đạc.
Ngày 14/10/2024, bị đơn bà P và ông N kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm dựa trên Bản trích đo địa chính năm 2022 để hủy án sơ thẩm và bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên Tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và đơn kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn.
- Đại diện bà P thay đổi kháng cáo, đề nghị sửa án sơ thẩm, không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Đối với phần không gian ranh đất hai bên, nếu bà P có lấn thì đồng ý tháo dỡ.
- Đại diện ông N cho rằng, ông N không liền ranh với nguyên đơn nên không lấn đất của nguyên đơn, đề nghị không chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn đối với ông N.
- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến tại phiên tòa:
Về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự; các đương sự tham gia tố tụng chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Các nguyên đơn, các bị đơn kháng cáo trong thời gian luật định nên xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
Về nội dung vụ án và kháng cáo: Theo kết quả đo đạc và Bản trích do địa chính số 175/TTKTTNMT, 176/TTKTTNMT ngày 29/02/2024 thì diện tích đất tranh chấp không nhiều và trên diện tích này đã được bà P, ông N xây dựng vách tường kiên cố nên cấp sơ thẩm buộc bà P, ông N trả giá trị quyền sử dụng đất cho bà T và bà B là phù hợp. Do yêu cầu của nguyên đơn được chấp nhận một phần, cấp sơ thẩm buộc nguyên đơn phải chịu án phí phần không được chấp nhận là có căn cứ. Đề nghị, hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các đương sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Đương sự kháng cáo trong thời hạn luật định nên được xem xét và giải quyết theo thủ tục phúc thẩm. Tòa án cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật “Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề” và giải quyết là đúng quy định tại khoản 9 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
[2] Về nội dung vụ án và kháng cáo của các nguyên đơn, các bị đơn, nhận thấy:
[2.1] Theo kết quả thẩm định tại chỗ, Bản trích đo địa chính số 175/TTKTTNMT, 176/TTKTTNMT ngày 29/02/2024, nếu không tính diện tích tranh chấp (1,8m²+3m²), các nguyên đơn, bị đơn đang sử dụng phần đất có diện tích, kích thước như sau:
- Bà Bùi Thị Thu B sử dụng thửa đất 163, diện tích 158,7m² đất, ngang trước 4,9m, ngang sau 4.9m, so với giấy chứng chứng quyền sử dụng đất thiếu
ngang trước 0,1m, ngang sau 0,1m, thiếu diện tích 1,4m² (theo giấy chứng nhận, thửa đất 163 là 160,1m², ngang trước 5m, ngang sau 5m).
- Bà Đào Thị T đang sử dụng thực tế thửa đất 164 diện tích 58,1m² (ngang trước 5,06m, ngang sau 5m), thửa 165 diện tích 109,1m² (ngang trước 5m, ngang sau 4,96m), thửa 166 diện tích 78,9m² (ngang trước 4,96m, ngang sau 4,9m); so với giấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 166 thiếu ngang trước 0,04m, ngang sau 0,1m, diện tích 1,1m² (theo giấy chứng nhận, thửa 166 diện tích 80m², ngang trước 5m, ngang sau 5m) (tổng diện tích các thửa đất 166, 165, 164 theo giấy chứng nhận là 246,45m², diện tích thực tế là 246,1m², thiếu 0,35m²).
- Bà Nguyễn Thị P đang sử dụng thửa đất 122, diện tích thực tế 300,5m², ngang trước 4,93m, ngang sau 5m, so với giấy chứng nhận quyền sử dụng đất diện tích 302,1m², diện tích thiếu 1,6m².
Thửa 122 tiếp giáp với thửa 123 của ông N, ông Phan Trí N đang sử dụng thửa đất 123 diện tích thực tế là 392,5m² (giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 123 là 387,8m²).
Tổng diện tích thửa 123 và 122 thực tế là 693m², diện tích theo giấy chứng nhận là 689,9m², dư 3,1m².
Theo Biên bản xem xét thẩm định tại chỗ, lời thừa nhận của các đương sự thì phần đất tranh chấp là bức tường của gia đình bị đơn xây dựng từ năm 2001.
[2.2] Theo lời trình bày của nguyên đơn, năm 2022 nguyên đơn có khiếu nại việc bồi thường giải phóng mặt bằng đường N tại các thửa đất 163, 164, được cơ quan có thẩm quyền đo đạc và cung cấp Mảnh trích đo địa chính số 06 ngày 01/6/2022. Theo Mảnh trích đo địa chính do bị đơn cung cấp, bị đơn thống nhất số liệu đo đạc theo Mảnh Trích đo địa chính số 06 (đo đạc hiện trạng theo sự chỉ ranh của chủ sử dụng đất) thì chiều ngang trước (giáp đường N) thửa 123, 124 và Hẻm 110 là 18,11m, so với Bản trích đo địa chính số 174, 176 là 15,13m (3,10m + 10m+ 4,93m + 0,1m), dư 0,02m (2cm); ngang sau là 5,08m, so với Bản trích đo địa chính số 175, 176 là 5,10m, dư 0,02m (2cm).
Tại phiên tòa, bị đơn cho rằng cần phải đo thêm phần đất của bà Bùi Thị Hải Y (chị em với bà B và bà T, liền ranh với bà B, đất cũng có nguồn gốc của ông Bùi Văn B1 ) thì mới có căn cứ giải quyết chính xác vụ án, nếu do đạc luôn phần đất của bà Y mà phía bà Y, bà B, bà T thiếu đất thì bị đơn đồng ý trả lại đất cho nguyên đơn. Yêu cầu của bị đơn không được bà B chấp nhận, vì cho rằng giữa bà T với bà Y đã thống nhất ranh.
Xét thấy, bị đơn thống nhất với M1 trích đo địa chính số 06 ngày 01/6/2022, Mảnh trích đo địa chính này nguyên đơn không ý kiến phản đối,
nguyên đơn không đồng ý việc đo đạc đất của bà Y nên không cần thiết phải đo đạc thêm phần đất của bà Bùi Thị Hải Y, vì số liệu thể hiện trong Mảnh Trích đo địa chính số 06 đã rõ ràng. Theo nhận định tại phần [2.2], bị đơn đang sử dụng dư 0,02m phía trước giáp đường N và phía sau 0,02m. Phần đất tranh chấp có diện tích không lớn (ngang 02cm), là một phần tường rào xây kiên cố của bà P (nay là vách tường kho xưởng) đã được bị đơn xây dựng sau khi nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho đến nay là khoảng hơn 20 năm; đến năm 2007 và năm 2019 nguyên đơn mới phát hiện diện tích đất bị thiếu và bị đơn sử dụng ổn định cho đến nay. Nếu buộc bị đơn tháo dỡ, di dời thì gây thiệt hại lớn cho bị đơn, đồng thời khó khăn trong việc thi hành án. Do đó, cần ổn định vị trí ranh hiện tại, buộc bà P (chủ sử dụng liền kề) trả lại cho nguyên đơn giá trị quyền sử dụng đất tương đương như cấp sơ thẩm là phù hợp. Các nguyên đơn, bị đơn bà P kháng cáo là không có căn cứ chấp nhận.
[2.3] Xét kháng cáo ông Phan Trí N
Ông N là chủ sử dụng thửa đất 123, chỉ tiếp giáp với thửa 122 của bà P, không tiếp giáp với các thửa đất của nguyên đơn nên cấp sơ thẩm buộc ông N cùng chịu trách nhiệm với bà P trả giá trị phần đất tiếp giáp thửa 123 của bà P là không phù hợp, bởi vì, bà P là chủ sử dụng thửa đất 122, chỉ có bà P có trách nhiệm trả giá trị cho các nguyên đơn. Ông N kháng cáo là có căn cứ chấp nhận.
[2.4] Xét kháng cáo của bà T và bà B về việc không phải chịu án phí sơ thẩm và chi phí thẩm định, định giá.
Bà B, bà T khởi kiện được chấp nhận một phần nên phải chịu án phí, chi phí xem xét thẩm định tại chỗ, định giá phần không được chấp nhận (án phí không giá ngạch) theo quy định tại khoản 4 Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, Điều 157, 165 Bộ luật tố tụng dân sự.
[3] Về án phí: Cấp sơ thẩm buộc ông N chịu án phí là không phù hợp. Bà P được miễn án phí do là người cao tuổi.
Nguyên đơn kháng cáo không được chấp nhận nên phải chịu án phí phúc thẩm. Ông N kháng cáo được chấp nhận nên không phải chịu án phí phúc thẩm.
[4] Quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cần Thơ về việc đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn, bị đơn bà P là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 166, 175, 176 Bộ luật Dân sự năm 2015;
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Không chấp nhận kháng cáo của các nguyên đơn bà Đào Thị T, bà Bùi Thị Thu B; không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị P; chấp nhận kháng cáo của ông Phan Trí N;
Sửa một phần Bản án dân sự sơ thẩm số 155/2024/DS-ST ngày 17/09/2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của các nguyên đơn.
Ổn định ranh giới giữa thửa đất 163 và thửa đất 122 tại vị trí B. Bà Nguyễn Thị P được quyền sử dụng vị trí B.
Ổn định ranh giữa thửa 122 với thửa 166, 165 tại vị trí C. Bà Nguyễn Thị P được quyền sử dụng vị trí C.
Ghi nhận sự tự nguyện của bà P về việc tự nguyện tháo dỡ, di dời tài sản trên khoảng không (nếu có) thuộc phần đất của bà Đào Thị T, bà Bùi Thị Thu B tính từ ranh giới giữa thửa đất 163 với thửa đất 122 và ranh giới giữa thửa đất 166, 165 với thửa đất 122.
Căn cứ Bản trích đo địa chính số: 175/TTKTTNMT và số: 176/TTKTTNMT cùng ngày 29/02/2024 của Trung tâm Kỹ thuật tài nguyên và Môi trường thành phố C) để xác định quyền sử dụng vị trí B, C và ranh giới giữa các thửa đất 122 với 163, 166, 165.
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P trả cho nguyên đơn bà Đào Thị T giá trị phần diện tích 1,1m² đất với số tiền 247.500 đồng (hai trăm bốn mươi bảy nghìn năm trăm đồng).
Buộc bị đơn bà Nguyễn Thị P trả cho nguyên đơn bà Bùi Thị Thu B giá trị phần diện tích 1,4m² đất với số tiền 7.700.000 đồng (bảy triệu bảy trăm nghìn đồng).
2. Về chi phí đo đạc, định giá: Bị đơn bà Nguyễn Thị P có nghĩa vụ trả lại cho nguyên đơn bà Đào Thị T số tiền 2.665.500 đồng (hai triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng) và trả cho nguyên đơn bà Bùi Thị Thu B số tiền 2.665.500 đồng (hai triệu sáu trăm sáu mươi lăm nghìn năm trăm đồng).
3. Về án phí:
- Án phí dân sự sơ thẩm:
Nguyên đơn bà Đào Thị T phải chịu 300.000 đồng án phí, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002857 ngày 29/112022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Nguyên đơn bà Bùi Thị Thu B phải chịu 300.000 đồng án phí, được khấu trừ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002856 ngày 29/112022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ.
Bị đơn bà Nguyễn Thị P được miễn nộp án phí.
- Về án phí phúc thẩm:
Bà Đào Thị T và bà Bùi Thị Thu B phải chịu 300.000 đồng, được khấu trừ vào 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thi tiền số 0001050 ngày 10/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy.
Bị đơn bà Nguyễn Thị P được miễn nộp án phí.
Ông Phan Trí N được nhận lại 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền số 0001104 ngày 14/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thủy.
Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Quyến |
Bản án số 88/2025/DS-PT ngày 10/03/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ về tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Số bản án: 88/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ranh giới giữa các bất động sản liền kề
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 10/03/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Sửa một phần bản án sơ thẩm
