|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2025/DS-PT Ngày: 27 – 02 - 2025 V/v Tranh chấp hợp đồng vay tài sản |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Cao Khánh.
Các Thẩm phán: Ông Dương Hùng Quang;
Ông Nguyễn Trọng Quế.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Chọn - Là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Điện - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 02 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Cà Mau xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 526/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 11 năm 2024 về việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 385/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 396/2024/QĐ-PT ngày 20 tháng 12 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng N1.
Địa chỉ: số B đường L, phường T, quận B, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Tiết Văn T- chức vụ: Tổng giám đốc.
Người đại diện hợp pháp: Bà Nguyễn Ngọc N - Cán bộ pháp chế của A1 chi nhánh C1 (theo văn bản ủy quyền 2886/QĐ-NHNo.CM-PC ngày 17/9/2024).
Bị đơn:
- Ông Trần Đăng K, sinh năm: 1991;
- Bà Hàn Ái L, sinh năm: 1991.
Cùng cư trú tại: số B, đường L, khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ủy ban nhân dân thành phố C.
Địa chỉ: Số G, đường N, khóm A, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Võ Diễm P, sinh năm: 1972; cư trú tại: Ấp F, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm: 1967; cư trú tại: Ấp F, xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Ông Huỳnh Quang M, sinh năm: 2004; cư trú tại: Số F, đường G, khóm H, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Huỳnh Linh C, sinh năm: 2006; cư trú tại: Số F, đường G, khóm H, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Bà Văn Thị Hải L1, sinh năm: 1979; cư trú tại: Số F, đường G, khóm H, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Ông Huỳnh Quang S, sinh năm: 1974; cư trú tại: Số F, đường G, khóm H, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Người đại diện hợp pháp: Ông Đặng Minh H1, sinh năm: 1980; cư trú tại: Số B, đường C, khóm E, phường E, thành phố C, tỉnh Cà Mau (theo văn bản ủy quyền số 006286 ngày 13/11/2022).
Do có kháng cáo của:
Ngân hàng N1 - Nguyên đơn
Ông Nguyễn Văn H – Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
Bà Nguyễn Ngọc N, ông Đặng Minh H1, ông Nguyễn Văn H, ông Trần Đăng K, bà Hàn Ái L có mặt tại phiên tòa. Các đương sự khác vắng.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, bà Nguyễn Ngọc N là người đại diện của Ngân hàng N1 (viết tắt là A1) trình bày: A1 chi nhánh C1 có ký kết với ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L, 06 hợp đồng tín dụng để cho ông K, bà L vay vốn. Tính đến ngày 27/9/2024 ông K và bà L2 còn nợ tổng số tiền 25.588.135.231đ trong đó vốn 17.980.000.000đ, lãi 7.608.135.231đ (trong hạn 4.179.834.717đ, quá hạn 3.428.300.514đ). Cụ thể như sau:
- Hợp đồng số 01-2017/HĐTD-TĐK ngày 07/4/2017, A1 ký với ông Trần Đăng K, vốn 05 tỷ đồng đồng thời hạn 10 năm. Mục đích nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất (QSDĐ), lãi cố định 10,5%/năm, lãi điều chỉnh 06 tháng/01 lần, đã giải ngân ngày 07/4/2017 số vốn 05 tỷ đồng. Khoản vay đã trả 02 tỷ đồng nợ vốn, trả lãi đến ngày 11/4/2021 bằng 1.811.182.800đ. Khoản vay còn nợ 03 tỷ vốn và lãi trong hạn từ ngày 12/4/2021 đến 27/9/2024 số tiền 1.162.849.315đ, lãi quá hạn từ ngày 04/4/2022 đến 27/9/2024, số tiền 131.630.137đ.
- Hợp đồng số 7500-LAV-201901167 ngày 31/10/2019, A1 ký với ông Trần Đăng K, vốn 02 tỷ đồng thời hạn 05 năm. Mục đích bù đắp tài chính trả tiền chuyển nhượng QSDĐ, lãi cố định 10,5%/năm, lãi điều chỉnh 03 tháng/01 lần đã giải ngân ngày 31/10/2019. Khoản vay đã trả vốn 400 triệu đồng, lãi trả 210.920.549đ. Còn nợ vốn 1.600.000.000đ, lãi 877.005.206đ trong đó lãi trong hạn từ 01/11/2020 đến 27/9/2024 là 694.750.686đ, lãi quá hạn từ 01/11/2021 đến 27/9/2024 là 182.254.520đ.
- Hợp đồng số 7500-LAV-202001057 ngày 30/10/2020, A1 ký với ông Trần Đăng K, vốn vay 400 triệu đồng, thời hạn 04 năm. Mục đích bù đắp tài chính trả tiền sửa chữa nhà ở, lãi cố định 11,5%/năm, lãi điều chỉnh 03 tháng/01, lần đã giải ngân ngày 30/10/2020. Quá trình vay chưa thanh toán. Còn nợ vốn 400.000.000đ, lãi 207.492.329đ (trong hạn từ ngày 30/10/2020 đến 27/9/2024 173.917.808đ, quá hạn 31/10/2021 đến 27/9/2024 là 33.574.521đ)
- Hợp đồng số 7500-LAV-202001248 ngày 07/12/2020, A1 ký với ông Trần Đăng K, vốn vay 05 tỷ đồng, thời hạn 12 tháng. Mục đích bù đắp tài chính bổ sung vốn lưu động kinh doanh dịch vụ cầm đồ, lãi cố định 10,5%/năm, lãi điều chỉnh 03 tháng/01 lần đã giải ngân ngày 07/12/2020 số tiền 05 tỷ đồng. Phụ lục 7500-LAV-202001248.4 ngày 16/6/2021 hạn mức 8.250.000.000đ, ngày 16/6/2021 giải ngân 3.250.000.000đ. Chưa trả vốn. Còn nợ lãi: 3.389.249.477đ, (lãi trong hạn 2.359.375.683đ, quá hạn 1.029.873.794đ).
- Hợp đồng số 7500-LAV-202100599 ngày 10/6/2021, A1 ký với ông Trần Đăng K, qua 06 lần nhận nợ tổng số vốn vay 2.730.000.000đ, thời hạn 01 năm. Mục đích bổ sung vốn lưu động mua bán tôm nguyên liệu, lãi cố định 10,0%/năm, lãi điều chỉnh 03 tháng/01 lần đã giải ngân ngày 10/6/2021. Quá trình vay chưa trả vốn, đã trả lãi được 74.484.385đ. Còn nợ vốn 2.730.000.000đ, nợ lãi 1.133.327.945đ.
- Hợp đồng số 7500-LAV-202100743 ngày 21/7/2021, A1 ký với bà Hàn Ái L, vốn vay 02 tỷ đồng, thời hạn 05 năm. Mục đích bù đắp tài chính trả tiền chuyển nhượng QSD đất và chi phí san lắp mặt bằng, lãi cố định 10,2%/năm, lãi điều chỉnh 03 tháng/01 lần đã giải ngân ngày 21/7/2021. Chưa trả vốn. Còn nợ vốn 02 tỷ, nợ lãi 706.580.822đ (trong hạn từ 21/7/2021 đến 27/9/2024 là 694.843.836đ, lãi quá hạn từ 22/7/2024 đến 27/9/2024 là 11.736.986đ)
Tổng số tiền vốn vay ông K đứng vay còn nợ là 17.980.000.000đ đã trả 2.000.000.000đ, còn nợ 15.980.000.000đ, khoản nợ vốn bà L đứng vay 2.000.000.000đ.
Để đảm bảo khoản nợ, ông K và bà L đã ký với A1 05 hợp đồng thế chấp để thế chấp các tài sản là QSDĐ và tài sản gắn liền với đất, tương đương với giá trị A1 và khách hàng thẩm định với tổng giá trị 25.656.940.000đ, gồm:
- Hợp đồng thế chấp 01-2017/HĐTC-TDK ngày 04/4/2017 và các hợp đồng sửa đổi bổ sung để thế chấp 02 thửa đất: Thửa số 78, tờ bản đồ số 29, đường L, khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau, đất ở: 104,2m² (ngang 4,6m² dài 22,65m²), nhà cấp 4 diện tích xây dựng 104,2m²; Phần đất thửa số 21, tờ bản đồ số 51, đường T, phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau, đất ở: 127,68m² (ngang 6,6m² dài 24m², hậu ngang 4,41m²) Nguồn gốc: ông K và bà L nhận chuyển nhượng của ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P.
- Hợp đồng thế chấp 01-2019/HĐTC-TDK ngày 22/01/2019, và các hợp đồng sửa đổi bổ sung để thế chấp phần đất: Thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, đất ở: 510m² trong đó: đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 410m² (ngang 10m² dài 51m²). Nguồn gốc: ông K và bà L nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Quang S ngày 25/10/2018.
- Hợp đồng thế chấp 7500-LCL/202000900 ngày 07/12/2020 để thế chấp các phần đất thửa số: 727, 728, 729, 760, 761 tờ bản đồ số 28, đường số A, khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Hợp đồng thế chấp 7500-LCL/202100501 ngày 16/7/2021, để thế chấp các phần đất thửa số 30, tờ bản đồ số 32, khóm I, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 91,3m².
- Hợp đồng thế chấp 7500-LCL/202100502 ngày 16/7/2021, để thế chấp các phần đất thửa số 61, tờ bản đồ số 29, khóm I, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 113.0m².
A1 yêu cầu ông K và bà L cùng có trách nhiệm trả nợ tính đến ngày 27/9/2024 tổng số tiền vốn 25.588.135.231đ, trong đó vốn 17.980.000.000đ, lãi 7.608.135.231đ (trong hạn 4.179.834.717đ, quá hạn 3.428.300.514đ).
Trường hợp không thanh toán số tiền nợ, A1 yêu cầu phát mãi các tài sản thế chấp để thu hồi nợ cho A1.
Đối với thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, đất ở: 510m² trong đó: đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 410m² (ngang 10m² dài 51m²). Nguồn gốc: ông K và bà L nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Quang S ngày 25/10/2018, đang có ông Huỳnh Quang S, bà Văn Thị Hải L1 và anh Huỳnh Quang M chị Huỳnh Linh C, đang ở nên yêu cầu ông Huỳnh Quang S, bà Văn Thị Hải L1 và anh Huỳnh Quang M, chị Huỳnh Linh C di dời giao đất để phát mãi thu hồi nợ cho A1. Không thống nhất yêu cầu của ông S về việc hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ, giữa ông K bà L và ông S và Hủy hợp đồng thế chấp QSDĐ giữa ông K bà L với A1 đối với thửa đất này. Khi nhận thế chấp, A1 cử cán bộ đến thẩm định tài sản thì không phát hiện bên thứ ba ở trên đất.
Đối với yêu cầu khởi kiện của ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P về việc hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 30/5/2016 giữa ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L với ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P, yêu cầu khởi kiện bổ sung của ông H và bà P về việc tuyên bố vô hiệu một phần Hợp đồng thế chấp đối với thửa đất 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau, A1 không đồng ý. Yêu cầu buộc giao tài sản thế chấp là QSDĐ thửa đất 21 tờ bản đồ số 51 để phát mãi thu hồi nợ trong trường hợp ông K và bà L không trả nợ.
Tại Đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản hòa giải và tại phiên tòa, ông Đặng Minh H1 đại diện cho ông Huỳnh Quang S trình bày: Ngày 25/10/2018 ông Huỳnh Quang S và vợ là bà Văn Thị Hải L1 có vay của ông K và bà L 100.000.000đ, không thỏa thuận thời hạn trả nợ, lãi suất 2%/tháng. Ông K yêu cầu phải ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ đất nên ngày 25/10/2018 các bên đã ký kết hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Sau khi ký hợp đồng chuyển nhượng cho đến nay ông S vẫn không giao đất cho ông K. Không có sự thỏa thuận nếu không trả đúng thời hạn thì QSDĐ thuộc về ông K như ông K đã trình bày. Ông sở và bà L1 thống nhất tổng số vốn vay 250.000.000đ vay nhiều lần, lãi thỏa thuận 2%/tháng, tổng tiền lãi
đã đóng 113.800.000đ, cụ thể: Ngày 25/10/2018 vay 100.000.000₫ đóng lãi đến 25/12/2018 tiền lãi 4.000.000đ; Ngày 25/12/2018, vay thêm 20.000.000đ, tăng vốn vay thành 120.000.000đ, đóng lãi đến ngày 25/12/2019: 28.800.000đ; Ngày 25/12/2019 vay thêm 80.000.000đ, tăng vốn vay thành 200.000.000đ, đóng lãi đến ngày 25/4/2020: 16.000.000đ; Ngày 25/4/2020 vay thêm 50.000.000đ, tăng vốn vay thành 250.000.000đ, đóng lãi đến ngày 25/5/2021: 65.000.000đ
Việc vay tiền, ông S và bà L1 chỉ ghi và ký tên vào sổ theo dõi của ông K giữ, các bên không làm hợp đồng vay nào khác. Khi trả lãi thì trả bằng tiền mặt, không có biên nhận. Ông S không có chứng cứ thể hiện việc vay và trả lãi.
Sau khi liên hệ với ông K và bà L không được thì phát hiện K và L đã thế chấp A1.
Việc ông K và bà L thế chấp đất cho A1 ông S hoàn toàn không biết, A1 không đến phấn đất để thẩm định thửa đất của ông S. Từ khi ký chuyển quyền sử dụng đến nay ông S và gia đình ông S đều ở trên đất, không bỏ trống cũng không cho ai khác sử dụng. Ông S yêu cầu:
- Hủy Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 25/10/2018 giữa ông S với ông K và bà L đối với thửa thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Hủy Hợp đồng thế chấp 01-2019/HĐTC-TDK ngày 22/01/2019 giữa A1 Nông nghiệp và phát triển nông thôn với ông K và bà L đối với thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Hủy thông tin điều chỉnh chủ sử dụng đất của chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thành phố C điều chỉnh trang 4 của Giấy chứng nhận QSDĐ.
- Buộc ông K và bà L cùng A1 trả lại bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ. Ông S chỉ đồng ý tính lãi đến ngày 25/5/2021 theo lãi 20%/năm, đối trừ số tiền lãi ông S đã đóng cho ông K và bà L, 113.800.000đ. Ông S có nghĩa vụ trả cho ông K vốn 250.000.000đ, lãi điều chỉnh 20%/năm, đóng đến ngày 25/5/2021, ông S bà L1 trả cho ông K bà L tổng số tiền 230.645.000đ, vì ông S đã đóng lãi vượt 19.346.000đ đối trừ vào tiền vốn.
Tại biên bản hòa giải, bản tự khai và tại phiên tòa sơ thẩm, bà Văn Thị Hải L1 trình bày: QSDĐ thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C là tài sản riêng của chồng bà là ông Huỳnh Quang S, bà đang ở trên đất cùng ông S và hai người con. Bà làm việc một buổi/ngày và chồng bà là lao động tự do, luôn có người ở nhà nhưng hoàn toàn không biết việc A1 đến thẩm định đất. A1 yêu cầu bà và gia đình bà giao tài sản thế chấp tại khóm H, phường G thành phố C để phát mãi thu hồi nợ cho A1, bà không đồng ý.
Tại văn bản đề ngày 16/9/2024, chị Huỳnh Linh C và anh Huỳnh Quang M trình bày: Đối với tranh chấp có liên quan đến QSDĐ thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C các anh chị còn nhỏ nên không hiểu và không có ý kiến. Yêu cầu được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án.
Tại đơn khởi kiện đề ngày 11/9/2024, ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P thống nhất trình bày: Đối với thửa đất 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau là tài sản của ông bà. Do ông bà có nợ xấu nên không
vay A1 được vì vậy có vay tiền của ông K và bà L nhưng phải ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ để đảm bảo khoản vay. Năm 2016 ông bà có ký hợp đồng chuyển nhượng cho ông K và bà L 03 thửa đất trong đó có thửa đất 51 tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Sau đó, không nhớ thời gian ông và ông K đã thỏa thuận chuyển nhượng hai thửa đất số 311 tờ bản đồ 01 và thửa 583 tờ bản đồ số 02 cùng tọa lạc xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau cho ông K và bà L để trừ nợ vay; Ông K và bà L phải trả lại ông 400.000.000đ giá trị tài sản trên đất này; Ông K bà L phải chuyển nhượng để trả lại đất thửa đất 51 tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau cho ông bà. Từ năm 2021 đến nay nhiều lần gặp để yêu cầu ông K bà L chuyển nhượng lại cho ông bà thửa đất 51 tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau nhưng ông K và bà L không thực hiện, sau đó ông K và bà L bị khởi tố đến nay chưa thực hiện được. Nay ông bà khởi kiện yêu cầu hủy một phần hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 30/5/2016 giữa ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L với ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P, đối với thửa đất 51 tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau. Tại phiên tòa, ông H yêu cầu khởi kiện bổ sung về việc hủy một phần Hợp đồng thế chấp 01-2017/HĐTC-TDK ngày 04/4/2017 giữa ông K bà L với A1 đối với thửa đất 51 tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 385/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã quyết định (tóm tắt):
- Chấp nhận yêu cầu của A1: Buộc ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L phải trả cho A1 tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 27/9/2024 là 25.588.135.231đ, trong đó vốn 17.980.000.000đ, lãi 7.608.135.231đ (trong hạn 4.179.834.717đ, quá hạn 3.428.300.514đ).
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc phát mãi tài sản:
- Trường hợp ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L không thanh toán hoặc không thanh toán đúng khoản nợ:
- Buộc ông Trần Đăng K, bà Hàn Ái L, ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P phải giao tài sản thế chấp là chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Buộc ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L phải giao tài sản thế chấp là chấp QSDĐ tại:
- Thửa số 78, tờ bản đồ số 29, đường L, khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau, đất ở: 104,2m² (ngang 4,6m² dài 22,65m²), nhà cấp 4 diện tích xây dựng 104,2m²;
- Thửa số: 727, 728, 729, 760, 761 tờ bản đồ số 28, đường số A, khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Thửa số 30, tờ bản đồ số 32, khóm I, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 91,3m²;
- Thửa số 61, tờ bản đồ số 29, khóm I, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 113.0m²
Để phát mãi thu hồi nợ cho A1.
- Trường hợp ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L không thanh toán hoặc không thanh toán đúng khoản nợ:
- Trường hợp ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L thanh toán dứt khoản nợ nêu trên cho A1: Buộc A1 trả lại cho ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L bản chính các Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:
- Số BY 639099, thửa số 78, tờ bản đồ số 29, đường L, khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Số CD 978049, thửa 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Số CM 378234; CM 378233; CM 378237; CM 378236; CM 378253, tương ứng các thửa số: 727, 728, 729, 760, 761 tờ bản đồ số 28, đường số A, khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Số BB 432366, thửa số 30, tờ bản đồ số 32, khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 91,3m²;
- Số CC 584967, thửa số 61, tờ bản đồ số 29, khóm I, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 113.0m².
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của A1 về việc yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, đất ở: 510m² trong đó: đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 410m² (ngang 10m² dài 51m²) để thu hồi nợ.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Quang S:
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Huỳnh Quang S với ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L ngày 25/10/2018, vô hiệu.
- Tuyên bố Hợp đồng thế chấp 01-2019/HĐTC-TDK ngày 22/01/2019, giữa A1 với ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L về việc thế chấp phần đất: Thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, đất ở: 510m² trong đó: đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 410m² (ngang 10m² dài 51m²), vô hiệu.
- Buộc A1 trả lại cho ông Huỳnh Q Sở bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ số BK 285361, số vào sổ CH000124 Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 27/7/2012 đối với phần đất thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, đất ở: 510m² trong đó: đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 410m².
- Buộc ông Huỳnh Quang S và bà Văn Thị Hải L1 đồng thời phải trả cho ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là 401.728.000đ, trong đó vốn 250.000.000đ, lãi 151.728.000đ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P:
- Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 30/5/2016 giữa ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L với ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P, đối với thửa đất 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Buộc ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L trả lại cho ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P số tiền 1.608.768.000đ.
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P về việc: Hủy một phần hợp đồng thế chấp tài sản là QSDĐ số 01-2017/HĐTC-TDK
ngày 04/4/2017 giữa A1 với ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L, đối với thửa đất 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, lãi suất chậm trả, nghĩa vụ Thi hành án, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 17/10/2024 A1 kháng cáo kháng cáo yêu cầu sửa bản bản án sơ thẩm 385/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau theo hướng công nhận hợp đồng thế chấp số 01-2019/HĐTC-TDK ngày 22/01/2019 đã được ký kết giữa ông Trần Đăng K và A1 chi nhánh tỉnh C1.
Ngày 16/10/2024 Ông Nguyễn Văn H kháng cáo yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 30/5/2026 giữa ông, bà Võ Diễm P với ông Trần Đăng K, Hàn Ái L; hủy hợp đồng thế chấp giữa ông Trần Đăng K, bà Hàn Ái L với A1 đối với giấy chứng nhận quyền QSDĐ số CD 978049, thửa 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau để trả lại giấy chứng nhận quyền QSDĐ cho ông H.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Đại diện A1 giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và xác định tuy cán bộ thẩm định có sơ suất trong việc thẩm định phần đất thửa 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau nhưng A1 vẫn làm thủ tục thế chấp đúng quy định pháp luật.
Ông Nguyễn Văn H giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và xác định ông không biết việc ông K thế chấp phần đất thửa 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
Ông Đặng Minh H1 xác định A1 không thẩm định dẫn đến không phát hiện có căn nhà của ông Huỳnh Quang S trên phần đất và không biết gia đình ông S vẫn sinh sống trên phần đất. Tại phiên tòa, đại diện A1 cũng thừa nhận có sơ suất trong việc thẩm định nên đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Ông Trần Đăng K xác định ông Nguyễn Văn H có biết và đồng ý để ông thế chấp phần đất thửa 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau cho A1 để vay tiền.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tiến hành đúng quy định pháp luật tố tụng dân sự; Các đương sự chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ theo pháp luật quy định.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự: không chấp nhận kháng cáo của A1 và ông Nguyễn Văn H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 385/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Xét đơn kháng cáo của A1 và ông Nguyễn Văn H nộp trong thời hạn quy định của pháp luật. Về tố tụng, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện và thẩm quyền giải quyết đã được cấp sơ thẩm xác định và thực hiện đúng theo qui định pháp luật.
[2] Xét kháng cáo của A1, yêu cầu công nhận hợp đồng thế chấp số 01-2019/HĐTC-TDK ngày 22/01/2019 đã được ký kết giữa ông Trần Đăng K và A1 chi nhánh tỉnh C1, Hội đồng xét xử xét thấy:
Hợp đồng thế chấp 01-2019/HĐTC-TDK ngày 22/01/2019 giữa A1 với ông K và bà L, phần đất thuộc Thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, đất ở: 510m², được đăng ký thế chấp ngày 25/01/2019.
Mặc dù khi thế chấp QSDĐ, ông K đã có giấy chứng nhận QSDĐ và hợp đồng thế chấp đã được đăng ký. Tuy nhiên, quá trình lập hồ sơ tín dụng thì A1 chưa làm đầy đủ các bước thẩm định tài sản thế chấp, như đến nơi tài sản hiện hữu để khảo sát thực tế hiện trạng đất, xác định người trực tiếp sử dụng đất, các tài sản trên đất là của ai... do đó A1 không phát hiện nhà và các tài sản khác của ông S và bà L1 trên đất và không biết việc ông S và bà L1 cùng các người con vẫn còn đang sinh sống trên đất.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện A1 cũng thừa nhận cán bộ thẩm định có sơ suất trong việc thẩm định phần đất thuộc Thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C.
Do A1 có thiếu sót trong việc thẩm định kiểm tra tài sản, nên cấp sơ thẩm xác định A không phải là người thứ ba ngay tình, nên không được chấp nhận yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp đối với phần đất thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, tỉnh Cà Mau, là có căn cứ.
[3] Xét kháng cáo của ông Nguyễn Văn H về việc yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 30/5/2026 giữa ông, bà Võ Diễm P với ông Trần Đăng K, Hàn Ái L; hủy hợp đồng thế chấp giữa ông Trần Đăng K, bà Hàn Ái L với A1 đối với giấy chứng nhận quyền QSDĐ số CD 978049, thửa 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau, Hội đồng xét xử xét thấy:
- Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 30/5/2026 giữa ông, bà Võ Diễm P với ông Trần Đăng K, H, Bản án dân sự sơ thẩm số 385/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau đã tuyên vô hiệu.
- Hợp đồng thế chấp giữa ông Trần Đăng K, bà Hàn Ái L với A1 đối với giấy chứng nhận quyền QSDĐ số CD 978049, thửa 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau, nhận thấy:
Tại Bản Cáo trạng số 43/CT-VKS-P1 ngày 13/6/2023 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau, Bản án số 08/2024/HS-ST ngày 01/02/2024 đã xác định: Năm 2016 ông H thế chấp 03 giấy chứng nhận QSDĐ cho K để vay 1.200.000.000 đ với hình thức ký hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ. Đến năm 2018 ông H và ông K đã thỏa thuận chuyển nhượng hai thửa đất số 311 tờ bản đồ 01 và thửa 583 tờ bản đồ
số 02 cùng tọa lạc xã T, thành phố C, tỉnh Cà Mau cho ông K và bà L giá 3.100.000.000đ, đồng thời ông H đồng ý cho ông K mượn giấy chứng nhận QSDĐ số CD 978049 để thế chấp vay A1 khi nào ông H có nhu cầu sử dụng sẽ yêu cầu ông K trả lại (ông H không khiếu nại hay có ý kiến gì về Bản Cáo trạng này). Kết quả điều tra và nội dung bản Cáo trạng nêu trên phù hợp với lời trình bày của ông H tại phiên tòa sơ thẩm (bút lục 585).
Tại phiên tòa phúc thẩm, ông Trần Đăng K xác định ông H có biết và đồng ý cho ông thế chấp phần đất thửa 21, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau cho A1 để vay tiền, khi nào ông có nhu cầu xây nhà thì ông sẽ yêu cầu ông K trả nợ A1 để nhận lại Quyền sử dụng đất, trả lại cho ông H.
Do đó, cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P về việc: Hủy một phần hợp đồng thế chấp tài sản là QSDĐ số 01-2017/HĐTC-TDK ngày 04/4/2017 giữa A1 với ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L, đối với thửa đất 21, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau, là có căn cứ.
[4] Tại cấp phúc thẩm, đại diện A1 và ông Nguyễn Văn H không cung cấp chứng cứ gì mới.
[5] Từ những tình tiết, căn cứ và phân tích tại các mục [2], [3] và [4], Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của A1 và ông Nguyễn Văn H, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 385/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Cà Mau.
[6] Về chi phí tố tụng: A1 phải chịu toàn bộ chi phí (đã nộp xong).
[7] Về án phí
Án phí dân sự sơ thẩm:
Ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L phải chịu gồm: Án phí có giá ngạch đối với nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng A2; Án phí có giá ngạch đối với nghĩa vụ trả tiền cho ông H bà P số tiền: 60.263.000đ; Án phí không giá ngạch đối với vô hiệu hợp đồng với ông H và bà P: 300.000đ, đối với vô hiệu hợp đồng với ông S: 300.000đ. Tổng số tiền án phí ông K bà L phải nộp: 194.451.000đ.
A1 phải chịu án phí không có giá ngạch 300.000đ do yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng thế chấp không được chấp nhận.
Ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P phải chịu án phí 300.000đ do yêu cầu tuyên bố hợp đồng thế chấp vô hiệu không được chấp nhận.
Ông Huỳnh Quang S và bà Văn Thị Hải L1 phải chịu án phí đối với nghĩa vụ trả nợ cho ông K và bà L2, số tiền phải nộp là 20.069.000đ.
- Án phí dân sự phúc thẩm:
A1 phải phải chịu 300.000đ.
Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ.
[8] Các quyết định khác của án sơ thẩm không kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ Luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Không Chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng N1 và kháng cáo ông Nguyễn Văn H, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 385/2024/DS-ST ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng N1: Buộc ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L phải trả cho Ngân hàng N1 tổng số tiền vốn và lãi tính đến ngày 27 tháng 9 năm 2024 là 25.588.135.231đ (Hai mươi lăm tỷ năm trăm tám mươi tám triệu một trăm ba mươi lăm ngàn hai trăm ba mươi mốt đồng), trong đó vốn 17.980.000.000đ, lãi 7.608.135.231đ (lãi trong hạn 4.179.834.717đ, lãi quá hạn 3.428.300.514đ).
- Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn về việc phát mãi tài sản:
- Trường hợp ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L không thanh toán hoặc không thanh toán đúng khoản nợ:
- Buộc ông Trần Đăng K, bà Hàn Ái L, ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P phải giao tài sản thế chấp là chấp QSDĐ và tài sản gắn liền với đất tại thửa 21, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Buộc ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L phải giao tài sản thế chấp là chấp QSDĐ tại:
- Thửa số 78, tờ bản đồ số 29, đường L, khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau, đất ở: 104,2m² (ngang 4,6m² dài 22,65m²), nhà cấp 4 diện tích xây dựng 104,2m²;
- Thửa số: 727, 728, 729, 760, 761 tờ bản đồ số 28, đường số A, khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Thửa số 30, tờ bản đồ số 32, khóm I, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 91,3m²;
- Thửa số 61, tờ bản đồ số 29, khóm I, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 113.0m²
- Trường hợp ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L không thanh toán hoặc không thanh toán đúng khoản nợ:
- Trường hợp ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L thanh toán dứt khoản nợ nêu trên cho Ngân hàng N1: Buộc Ngân hàng N1 trả lại cho ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L bản chính các Giấy chứng nhận QSDĐ quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất:
- Số BY 639099, thửa số 78, tờ bản đồ số 29, đường L, khóm A, phường F, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Số CD 978049, thửa 21 tờ bản đồ số 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau
- Số CM 378234; CM 378233; CM 378237; CM 378236; CM 378253, tương ứng các thửa số: 727, 728, 729, 760, 761 tờ bản đồ số 28, đường số A, khóm D, phường T, thành phố C, tỉnh Cà Mau;
- Số BB 432366, thửa số 30, tờ bản đồ số 32, khóm I, thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 91,3m²;
- Số CC 584967, thửa số 61, tờ bản đồ số 29, khóm I, Thị trấn T, huyện T, tỉnh Cà Mau, đất ở: 113.0m².
- Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng N1 về việc yêu cầu phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụn đất thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, đất ở: 510m² trong đó: đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 410m² (ngang 10m² dài 51m²) để thu hồi nợ.
- Chấp nhận yêu cầu của ông Huỳnh Quang S:
- Tuyên bố Hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa ông Huỳnh Quang S với ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L ngày 25/10/2018, vô hiệu.
- Tuyên bố Hợp đồng thế chấp 01-2019/HĐTC-TDK ngày 22/01/2019, giữa Ngân hàng N1 với ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L về việc thế chấp phần đất: Thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, đất ở: 510m² trong đó: đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 410m² (ngang 10m² dài 51m²), vô hiệu.
- Buộc Ngân hàng N1 trả lại cho ông Huỳnh Q Sở bản chính Giấy chứng nhận QSDĐ số BK 285361, số vào sổ CH000124 Ủy ban nhân dân thành phố C, tỉnh Cà Mau cấp ngày 27/7/2012 đối với phần đất thửa số 58, tờ bản đồ số 05, đường H, khóm H, phường G, thành phố C, đất ở: 510m² trong đó: đất ở 100m², đất trồng cây lâu năm 410m².
- Buộc ông Huỳnh Quang S và bà Văn Thị Hải L1 đồng thời phải trả cho ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L tổng số tiền tính đến ngày 30/9/2024 là 401.728.000đ (bốn trăm lẻ một triệu bảy trăm hai mươi tám ngàn đồng) trong đó vốn 250.000.000đ lãi 151.728.000đ.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P:
- Tuyên bố vô hiệu một phần hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ ngày 30/5/2016 giữa ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L với ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P, đối với thửa đất 21, tờ bản đồ số 51, tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Buộc ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L trả lại cho ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P số tiền 1.608.768.000đ (Một tỷ sáu trăm lẻ tám triệu bảy trăm sáu mươi tám ngàn đồng).
- Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P về việc: Hủy một phần hợp đồng thế chấp tài sản là QSDĐ số 01-2017/HĐTC-TDK ngày 04/4/2017 giữa Ngân hàng N1 với ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L, đối với thửa đất 21, tờ bản đồ số, 51 tọa lạc tại phường I, thành phố C, tỉnh Cà Mau.
- Án phí
- - Án phí dân sự sơ thẩm:
- - Án phí dân sự phúc thẩm:
Ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L phải nộp tổng số tiền án phí 194.451.000đ (Một trăm chín mươi bốn triệu bốn trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Ngân hàng N1 phải nộp án phí không có giá ngạch 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Ngày 21/4/2022 A1 đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 63.551.000đ (Sáu mươi ba triệu năm trăm năm mươi mốt nghìn đồng), theo biên lai số 0000624, tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cà Mau được đối trừ chuyển thu. A1 được nhận lại 63.251.000đ (Sáu mươi ba triệu hai trăm năm mươi mốt nghìn đồng).
Ông Huỳnh Quang S và bà Văn Thị Hải L1 phải nộp án phí số tiền 20.069.000đ (hai mươi triệu không trăm sáu mươi chín nghìn đồng). Ngày 04/7/2022 ông Huỳnh Quang S đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo lai thu số 0001699 và ngày 09/9/2022 ông Huỳnh Quang S đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo lai thu số 0001954 được đối trừ chuyển thu. Ông Huỳnh Quang S và bà Văn Thị Hải L1 phải tiếp tục nộp số tiền 19.469.000đ (mười chín triệu bốn trăm sáu mươi chín nghìn đồng).
Ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P phải nộp án phí không có giá ngạch 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Ngày 11/9/2024, ông Nguyễn Văn H và bà Võ Diễm P đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000đ (ba trăm ngàn đồng) theo lai thu số 0009269 được chuyển thu.
Ngân hàng N1 phải phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Ngày 22/10/2024 A1 đã dự nộp 300.000 đồng, theo biên lai số 0009530, tại Chi cục Thi hành án Dân sự thành phố Cà Mau, được chuyển thu.
Kể từ ngày tiếp theo của ngày 27 tháng 9 năm 2024 ông Trần Đăng K và bà Hàn Ái L phải tiếp tục trả khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng, cho đến khi thanh toán xong khoản nợ. Trường hợp, hợp đồng các bên thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất theo từng thời kỳ của A1 cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho A1 cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của A1 cho vay.
Để phát mãi thu hồi nợ cho Ngân hàng N1.
Kể từ ngày ông K, bà L có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông Sở bà L1 không tự nguyện thi hành xong khoản tiền này thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Kể từ ngày ông H, bà P có đơn yêu cầu thi hành án nếu ông K, bà L không tự nguyện thi hành xong khoản tiền này thì hàng tháng phải chịu thêm khoản lãi phát sinh theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Ông Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng). Ngày 25/10/2024, ông Nguyễn Văn H đã nộp tiền tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng, theo lai thu số 0009546, tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Cà Mau được chuyển thu.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
- Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Cao Khánh |
|
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
Dương Hùng Quang - Nguyễn Trọng Quế |
Đỗ Cao Khánh |
Bản án số 88/2025/DS-PT ngày 27/02/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 88/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 27/02/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH CÀ MAU
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa ngân hàng với ông K, L
