Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN THANH CHƯƠNG

TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:88/2024/HSST

Ngày: 16/12/2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN

***

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thái Trường Giang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Hoàng Thị Nga.
  2. Bà: Nguyễn Thị Phi Yến

Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Tráng là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Phú - Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 12 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An.

Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 79 /2024/HSST-ST, ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 103/2024/QĐXXST- HS ngày 02 tháng 12 năm 2024 đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Nguyễn Cao T - Tên gọi khác: Không Sinh ngày: 24/9/1996, tại huyện T, tỉnh Nghệ An

    Nơi cư trú: Thôn T, Thị trấn D (xã T cũ), huyện T - Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Cao H; Con bà: Nguyễn Thị H1; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 17/01/2017 bị Công an huyện T xử phạt hành chính về hành vi xâm hại sức khỏe của người khác.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/3/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  2. Họ và tên: Nguyễn Trọng Đ - Tên gọi khác: Không Sinh ngày: 01/6/1997, tại huyện T, tỉnh Nghệ An

    Nơi cư trú: K, Thị trấn D, huyện T - Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Trọng H2; Con bà: Trần Thị B; Vợ con chưa có; Tiền án: Không.

    Tiền sự: Ngày 04/7/2022 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An áp dụng biện pháp hành chính cai nghiện bắt buộc, chấp hành xong vào ngày 17/5/2023.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/4/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  3. Họ và tên: Nguyễn Công Đ1 - Tên gọi khác: Không Sinh ngày: 15/8/1996, tại huyện T, tỉnh Nghệ An

    Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T - Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam; Con ông: Nguyễn Công D; Con bà: Lê Thị H3; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 18/3/2015 bị Tòa án nhân dân Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 6 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 12 tháng về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Chấp hành xong ngày 18/3/2016.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/4/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  4. Họ và tên: Trịnh Văn H4 - Tên gọi khác: Không Sinh ngày: 19/5/1995, tại huyện T, tỉnh Nghệ An

    Nơi cư trú: K, Thị trấn D, huyện T - Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 12/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam; Con ông: Trịnh Văn T1; Con bà: Hồ Thị N; Vợ con chưa có; Tiền án, tiền sự: Không.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/7/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

  5. Họ và tên: Võ Bá Q - Tên gọi khác: Không Sinh ngày: 10/02/1973, tại huyện T, tỉnh Nghệ An

    Nơi cư trú: K, Thị trấn D, huyện T - Nghệ An; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam. Giới tính: Nam; Con ông: Võ Bá N1; Con bà: Nguyễn Thị T2; Có vợ là Trần Thị H5, sinh năm 1973; Con có 2 con, lớn nhất sinh năm 1994, nhỏ nhất sinh năm 1995; Tiền án, tiền sự: Không.

    Nhân thân: Ngày 27/9/2011 bị Tòa án nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An xử phạt 8 000 000 đồng về tội đánh bạc, chấp hành xong vào ngày 20/6/2012.

    Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 27/6/2024 cho đến nay. Có mặt tại phiên tòa.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Phan Huy H6, sinh năm 1997

    Nơi cư trú: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.

  2. Nguyễn Xuân T3, sinh năm 2000

    Nơi cư trú: Xóm P, Xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, Vắng mặt tại phiên toà.

  3. Nguyễn Chí H7, sinh năm 1997.

    Nơi cư trú: Thôn T, Thị trấn D, huyện T, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt tại phiên toà.

  4. Bà Trần Thị T4, sinh năm 1946.

    Địa chỉ: Thôn T, xã Đ, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt tại phiên toà.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Khoảng 13 giờ, ngày 28/3/2024, Trịnh Văn H4 nhận được cuộc gọi trên ứng dụng Messenger từ T5 (một nam thanh niên Hoàng quen khi chơi game, hiện chưa xác định được lai lịch cụ thể) nói đang có một ít ma túy dạng đá cần bán để lấy tiền trả nợ, nhờ H4 nếu có ai hỏi mua thì gọi cho T5 và H4 đồng ý.

Khoảng 17 giờ ngày 29/3/2024, Võ Bá Q sử dụng điện thoại gắn thẻ sim có số thuê bao 0972.981.117 gọi điện đến số thuê bao 0367.240.337 cho Nguyễn Công Đ1 để nhờ Đ1 mua hộ 500.000đ ma túy dạng đá để sử dụng. Nguyễn Công Đ1 đồng ý và gọi điện cho Trịnh Văn H4 qua ứng dụng M để hỏi mua 500.000₫ ma túy đá, thì H4 đồng ý và bảo Đ1 chuyển tiền vào tài khoản ví điện tử M1 cho H4 trước, rồi H4 sẽ đưa ma túy sau. Công Đức hẹn gặp Q tại khu vực bãi rác thị trấn T (thuộc khối F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An). Tại đây Đ1 nói Q chuyển tiền vào tài khoản ngân hàng cho Đ1 để đi mua ma túy, Q sử dụng điện thoại, chuyển số tiền 500.000đ từ tài khoản ngân hàng E thuộc Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ3 (B2) của Q vào số tài khoản 0367240337 thuộc Ngân hàng thương mại cổ phần H9 (MSB) của Công Đức. Khi nhận được tiền, Đ1 chuyển số tiền này vào tài khoản Momo của Đ1 tên “Phan Huy H6” (Đ1 mượn tài khoản của Phan Huy H6 để sử dụng), rồi tiếp tục chuyển đến tài khoản ví điện tử Momo của Trịnh Văn H4.

Cùng lúc này, Nguyễn Xuân T3 (sinh năm 2000, trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An) gọi điện cho Trịnh Văn H4 qua ứng dụng M để hỏi mua 500.000₫ ma túy dạng đá và H4 đồng ý. Nguyễn Xuân T3 đã chuyển 500.000đ đến tài khoản ví điện tử Momo của H4 (Tốt chuyển hai lần, lần thứ nhất chuyển 300.000đ và lần thứ hai chuyển 200.000₫).

Sau khi nhận được tiền từ Nguyễn Công Đ1 và Nguyễn Xuân T3, thì H4 rút 800.000đ và gọi điện cho nam thanh niên tên T5 qua Messenger để mua ma túy (200.000đ còn lại H4 sử dụng vào mục đích cá nhân). H4 hẹn T5 mang ma túy đến gốc cây ngô đồng gần xưởng gạch táp lô của gia đình H4 (tại khối F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An) đưa cho H4. Một lúc sau, T5 đến và gặp H4 tại gốc cây ngô đồng, tại đây H4 đưa cho T5 số tiền 800.000 đồng, còn T5 để gói ma túy bằng giấy vệ sinh màu trắng ở dưới gốc cây ngô đồng cho H4 và đi về. Sau đó, H4 cầm lấy cuộn giấy vệ sinh màu trắng lên, mở ra thì thây bên trong có 01 (một) gói ni lông màu trắng chứa chất tinh thể màu trắng là ma túy đá, H4 chia số ma túy này thành 02 (hai) gói ma túy và dùng giấy vệ sinh màu trắng cuốn lại để xuống dưới gốc cây ngô đồng (hai gói để cách nhau khoảng 02m) cho Nguyễn Công Đ1 và Nguyễn Xuân T3 đến lấy.

Khi H4 để 02 (hai) gói ma túy xuống gốc cây ngô đồng, thì Nguyễn Xuân T3 đi xe máy đến dừng cách H4 khoảng 02m, nên nhìn thấy và biết vị trí H4 để ma túy. Sau đó, H4 đi một đoạn, gọi điện chỉ vị trí cất gói ma túy cho Nguyễn Công Đ1, còn Nguyễn Xuân T3 đã thấy vị trí H4 để ma túy nên H4 không gọi. Khoảng 02 phút sau, Nguyễn Công Đ1 điều khiển xe máy đến vị trí cây ngô đồng thì thấy Nguyễn Xuân T3 đang đứng ở gần đó, Đ1 thấy dưới gốc cây ngô đồng có 02 (hai) gói cuộn bằng giấy màu trắng để ở dưới gốc cây, biết đây là hai gói ma túy nên Đ1 lấy 01 (một) gói ma túy và đi về, Nguyễn Công Đ1 vừa lấy xong, thì Nguyễn Xuân T3 cũng đến lấy 01 (một) gói còn lại và đi về, quá trình T3 đến lấy gói ma túy thì H4 và Đ1 đều nhìn thấy. Sau khi lấy được ma túy, Nguyễn Công Đ1 đi đến khu vực nhà văn hóa khối E1, thị trấn T cũ và gặp Q đang đứng chờ ở đường bê tông sát với trường mầm non, thị trấn T (Trường mầm non S1 với nhà văn hóa khối E1 cũ). Tại đây, Đ1 đưa gói ma túy cho Q, Q cầm lấy gói ma túy, tháo vứt cuộn giấy vệ sinh bên ngoài và cất gói ni lông chứa ma túy đá vào túi quần đùi màu đen, bên phải mà Q đang mặc, rồi cả hai đi về.

Khoảng 19 giờngày 29/3/2024, Nguyễn Cao T sử dụng ứng dụng messengger gọi điện đến tài khoản “Đức cù” cho Nguyễn Công Đ1 hỏi: “Có lấy được mô không, lấy được thì cầm cả bộ đồ đi luôn” (ý là hỏi Đ1 có mua được ma túy đá ở đâu không, nếu mua được thì cầm theo dụng cụ để cùng nhau sử dụng ma túy), Nguyễn Công Đ1 trả lời: “Để tau gọi coi răng đã” (ý nói để Đ1 hỏi mua ma túy có được không đã) rồi tắt máy. Do Nguyễn Công Đ1 chưa mua được ma túy, Nguyễn Cao T nhắn tin cho Nguyễn Trọng Đ hỏi có ma túy chơi không để rủ Trọng Đ cùng sử dụng. Đ nói đang có 02 (hai) viên ma túy dạng hồng phiến và hẹn T đến đón Đ để cùng nhau sử dụng ma túy. T điều khiển xe mô tô nhãn hiệu WAVE ANPHA màu cam - đen, biển kiểm soát 37E1-529.00 đi đến khu vực Nghĩa trang Liệt sỹ huyện T đón Đ rồi cùng đi đến khu vực đường đất thuộc khối B, thị trấn T (đoạn đối diện với Công an huyện T và cách đền B3 thuộc xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An khoảng 200m). Sau đó, T điều khiển xe mô tô đi mua hai chai nước lọc để chế tạo dụng cụ sử dụng ma túy, còn Đ lấy từ bao thuốc lá một tờ giấy thiếc màu trắng để sử dụng ma túy.

Sau khi quay lại, T đặt hai chai nước lọc vừa mua xuống đất, Nguyễn Trọng Đ cầm lấy và mở một nắp chai trừ lại khoảng 1/5 chai, rồi lấy một điếu thuốc đang hút châm vào thân chai tạo thành một lỗ nhỏ. T lấy một tờ tiền mệnh giá 1.000đ đưa cho Nguyễn Trọng Đ cuốn tờ tiền lại và dắt vào lỗ nhỏ trên chai nước tạo thành một bộ dụng cụ sử dụng ma túy. Nguyễn Trọng Đ lấy từ trong người ra một gói ni lông màu trắng chứa 02 viên nén màu hồng (là ma túy dạng hồng phiên, 01 viên là do Đ nhặt được trên xe khách, còn 01 viên Đ được Nguyễn Chí H7 - sinh năm 1987, trú tại thôn T, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An cho trước đó), rồi lấy ra 01 viên cho vào tờ giấy thiếc đã chuẩn bị trước đó, còn túi ni lông chứa 01 viên ma túy còn lại để xuống đất. Đ dùng hai chân kẹp chai nước, một tay cầm bật lửa, một tay cầm tờ giấy thiếc chứa viên ma túy rồi dùng bật lửa đốt tờ giấy thiếc này để ma túy bốc hơi, rồi dùng chai nước vừa chế tạo xong để dùng miệng hút ma túy qua chai nước và đưa vào cơ thể. T đã cầm lấy chai nước giúp Trọng Đ dễ dàng hút ma tuý. Đ hút xong thì đến lượt T hút, T cầm chai nước đưa lên miệng hút còn Đ một tay cầm bật lửa, một tay cầm tờ giấy thiếc chứa ma túy và đốt cho T hút.

Khi đang sử dụng ma tuý, Nguyễn Công Đ1 sử dụng ứng dụng messenger gọi điện đến tài khoản “Hoàng Tuân” hỏi T đang ở đâu để Đ1 đến lấy tiền đi mua ma túy. T nói Nguyễn Công Đ1 đến bến cát trước cổng Công an huyện T thì gọi cho T. Nguyễn Công Đ1 nghe vậy liền lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá (gồm một nắp chai nhựa màu xanh bên trên có đục hai lỗ nhỏ hình tròn kèm theo một ống thủy tinh, một ống hút bằng nhựa màu trắng và một ống hút bằng nhựa màu tím – trắng) mang theo nhằm mục đích để sử dụng ma túy đá. Sau đó, Nguyễn Công Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SUPER CUP, màu xanh - trắng, mang BKS 37EA-009.43 đi đến cây xăng gần Công an huyện T và gọi điện thoại hỏi T đang ở đâu, thì T chỉ cho Nguyễn Công Đ1 đến vị trí sử dụng ma tuý. Nguyễn Cao T đi bộ ra đưa cho Nguyễn Công Đ1 500.000đ để đi mua ma túy đá, còn Nguyễn Công Đ1 đưa cho T dụng cụ sử dụng ma túy. Nguyễn Công Đ1 cầm lấy 500.000₫ mà T đưa rồi đi đến khu vực B thị trấn T gọi điện cho Trịnh Văn H4 bằng ứng dụng M để hỏi mua ma túy, nhưng H4 nói không còn ma túy. Nguyễn Công Đ1 gọi cho Võ Bá Q hỏi: “Cấy khi chiều lấy anh đã sử dụng chưa” (ý hỏi gói ma túy lúc chiều Đ1 mua hộ cho Q thì Q đã dùng chưa), Q trả lời: “Chưa”, thì Đ1 nói: “Thôi anh để em cho em để em dùng” (ý nói Q bán lại gọi ma túy này cho Đ1 để sử dụng), Q đồng ý và hẹn Đ1 đến khu vực gốc cây ngô đồng gần xưởng gạch táp lô của gia đình H4 tại khối F, thị trấn T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Nguyễn Công Đ1 đến điểm hẹn gặp Q mua 500.000đ ma tuý, Q đưa cho Đ1 01 gói ni lông màu trắng bên trong chứa ma túy đá. Sau khi mua được ma tuý, Công Đ1 quay lại khu vực đường đất thuộc khối B, thị trấn T (đoạn đối diện với Công an huyện T và cách đền B3 thuộc xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An khoảng 200m).

Khi đến nơi, Nguyễn Công Đ1 gặp và đưa cho Nguyễn Cao T, Nguyễn Trọng Đ 01 (một) gói ma túy đá, còn Nguyễn Trọng Đ cầm chai nước có gắn tờ tiền 1.000₫ cuốn tròn cho Nguyễn Công Đ1 cầm và dùng bật lửa đốt giấy thiếc chứa ma túy hồng phiến cho Nguyễn Công Đ1 sử dụng. Sử dụng xong, thì Nguyễn Trọng Đ để chai nước gắn tờ tiền 1.000đ, giấy thiếc và bật lửa xuống đất, rồi T đưa gói ma túy đá mà Nguyễn Công Đ1 vừa mua cho Nguyễn Trọng Đ. Lúc này, Nguyễn Trọng Đcầm lấy một chai nước khác, mở nắp chai và đổ nước ra, chỉ trừ lại khoảng ¼ nước trong chai, rồi lấy bộ dụng cụ gồm một chai nhựa nắp màu xanh bên trên có đục hai lỗ nhỏ hình tròn kèm theo một ống thủy tinh, một ống hút bằng nhựa màu trắng và một ống hút bằng nhựa màu tím - trắng mà Nguyễn Công Đ1 đưa cho T trước đó để tạo thành bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gọi là “cóng”.

Sau đó, Nguyễn Trọng Đ cho tất cả ma túy đá vào ống thủy tinh, dùng bật lửa đốt vào ống thủy tinh cho ma túy bốc hơi rồi dùng miệng hút ma túy qua ống nhựa màu trắng. Nguyễn Trọng Đ hút xong, thì tiếp tục cầm chai và đốt ma túy lần lượt cho Nguyễn Cao T và Nguyễn Công Đ1 hút. Cả ba hút được mỗi người khoảng 03 (ba) hơi thì không hút nữa, nên Nguyễn Trọng Đ để “cóng” xuống đất. Đến khoảng 20 giờ 15 phút cùng ngày, thì Tổ công tác 373 Công an huyện T đi tuần tra đến khu vực này. Khi thấy lực lượng Công an, T đã cầm bộ “cóng” vứt xuống bãi đất bên cạnh, còn Nguyễn Công Đ1 và Nguyễn Trọng Đ đứng dậy bỏ chạy, T không kịp bỏ chạy bị tổ công tác giữ lại để kiểm tra. Tổ công tác đã tạm giữ tang vật, phương tiện liên quan và mời Nguyễn Cao T về trụ sở Công an huyện T để lập biên bản và làm rõ vụ việc. Sau đó, Tổ Công tác đã bàn giao hồ sơ, tang vật liên quan và đối tượng Nguyễn Cao T cho Cơ quan CSĐT Công an huyện T để xác minh, xử lý theo quy định. Quá trình làm việc sau đó, Nguyễn Cao T đã tự nguyện xin đầu thú. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể Nguyễn Cao T, kết quả: Nguyễn Cao T dương tính với chất ma tuý trong cơ thể (MET, MDMA).

Đến ngày 01/4/2024, Nguyễn Công Đ1 đã đến Công an huyện T để làm việc. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể Nguyễn Công Đ1, kết quả: Nguyễn Công Đ1 dương tính với chất ma tuý trong cơ thể (MET). Tuy nhiên, tại thời điểm này, Nguyễn Công Đ1 và Nguyễn Cao T chỉ khai nhận hành vi sử dụng ma tuý do Nguyễn Trọng Đ cung cấp (không khai nhận việc T đưa tiền cho Công Đ1 đi mua ma tuý đá và Nguyễn Công Đ1 cùng tổ chức sử dụng ma tuý đá). Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an huyện T chưa có căn cứ xử lý đối với Nguyễn Công Đ1. Đến ngày 02/4/2024, Nguyễn Trọng Đ đã đến Công an huyện T, tỉnh Nghệ An để đầu thú. Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã tiến hành xét nghiệm chất ma tuý trong cơ thể Nguyễn Trọng Đ, kết quả: Nguyễn Trọng Đ dương tính với chất ma tuý trong cơ thể (MET). Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Trọng Đ đã khai nhận toàn bộ nội dung sự việc. Sau khi có căn cứ, Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ra Lệnh giữ người trong THKC đối với Nguyễn Công Đ1.

Đến ngày 27/6/2024, Trịnh Văn H4 ra đầu thú; ngày 02/7/2024, Võ Bá Q ra đầu thú.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ban hành QĐ trưng cầu giám định số 395/QĐ-ĐCSHS-KT-MT ngày 01/4/2024, giám định 01 viên nén màu hồng có phải chất ma tuý không; tờ giấy thiếc có bám dính chất màu đen có phải ma tuý không. Kết luận số 382/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 06/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:

  • “- Mẫu vật (ký hiệu M1) gửi đến giám định là ma túy; loại Methamphetamine.
  • Viên nén màu hồng thu giữ tại vị trí Nguyễn Cao T đang ngồi có khối lượng 0,095g (không phẩy không trăm chín mươi lăm gam)
  • Mẫu vật (ký hiệu M2) gửi đến giám định có bám dính chất ma túy; loại Methamphetamine”.

Cơ quan CSĐT Công an huyện T đã ban hành QĐ trưng cầu giám định số 402/QĐ-ĐCSHS-KT-MT ngày 04/4/2024, giám định các đồ vật 01 (một) chai nhựa màu trắng, nắp chai nhựa màu xanh có đục 2 lỗ tròn, một lỗ gắn 01 (một) ống thuỷ tinh, bên trong chứa ¼ chất lỏng trong suốt có bám dính chất ma tuý hay không. Kết luận số 392/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 08/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận: “Trong ống thuỷ tinh của mẫu vật gửi đến giám định có bám dính chất ma tuý; loại Methamphetamine”.

Tại bản cáo trạng số 74/CT-VKS-TC ngày 28 tháng 10 năm 2024 đã truy tố các bị cáo: Nguyễn Cao T, Nguyễn Công Đ1 và Nguyễn Trọng Đ về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Trịnh Văn H4 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Truy tố bị cáo Võ Bá Q về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao T, Nguyễn Công Đ1 và Nguyễn Trọng Đ phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Tuyên bố bị cáo Trịnh Văn H4 và Võ Bá Q phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Cao T mức án từ 07 năm 03 tháng tù đến 7 năm 6 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Công Đ1 mức án từ 07 năm 03 tháng tù đến 7 năm 6 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Nguyễn Trọng Đ mức án từ 07 năm 03 tháng tù đến 7 năm 6 tháng tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm c khoản 2 Điều 251, điểm s, r khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt Trịnh Văn H4 mức án từ 03 năm 06 tháng tù đến 4 năm tù.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt Võ Bá Q mức án từ 24 tháng tù đến 27 tháng tù.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Về vật chứng:

Tuyên bố tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) chai nhựa màu trắng, bên trong chứa khoảng 1/5 chất lỏng trong suốt, trên thân chai có một lỗ nhỏ gắn một tờ tiền cuộc tròn mệnh giá 1000đ; 01 (một) bật lửa nhiều màu sắc; 01 (một) tờ giấy thiếc bám dính chất rắn màu đen; 01 (một) gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa 01 (một) viên nén màu hồng; 01 (Một) chai nhựa màu trắng, nắp chai nhựa màu xanh có đục 2 lỗ tròn, một lỗ gắn 01 (một) ống thuỷ tinh, bển trong chứa ¼ chất lỏng trong suốt; 01 (một) hút nhựa màu trắng tím. Đây là những vật chứng thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.

Tuyên bố tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77s, màu đen, thu giữ của Nguyễn Cao T; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS, màu hồng thu giữ của Nguyễn Công Đ1; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh thu giữ của Nguyễn Trọng Đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy 7, màu vàng, thu giữ của Võ Bá Q; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu xanh; thu giữ của Trịnh Văn H4.

Trả lại 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE ANPHA màu cam - đen, biển kiểm soát: 37E1-529.00; Đây là những vật chứng thu giữ được khi lập biên bản làm việc với Nguyễn Cao T.

Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về tố tụng: Trong quá trình điều tra truy tố, các biện pháp và quyết định của điều tra viên và kiểm sát viên đều tuân thủ quy định của pháp luật

[2]Về nội dung vụ án: Tại phiên tòa hôm nay các bị cáo hoàn toàn thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương đã truy tố.

Như vậy có đủ cơ sở để kết luận:

Đối với hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý;

Vào khoảng 19 giờ ngày 29 tháng 3 năm 2024 tại khu vực đường đất thuộc khối B, thị trấn T (đoạn đối diện với Công an huyện T và cách đền B3 thuộc xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An khoảng 200m), Nguyễn Cao T, Nguyễn Trọng Đ có hành vi cùng tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (loại Methamphetamine, do Nguyễn Trọng Đ cung cấp). Về nguồn gôc số ma tuý là do sau khi mua được ma tuý, Nguyễn Công Đ1 đi đến đường đất thuộc khối B, thị trấn T (đoạn đối diện với Công an huyện T và cách đền B3 thuộc xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An khoảng 200m) cùng Nguyễn Cao T, Nguyễn Trọng Đ tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý (Methamphetamine).

Hành vi của các bị cáo Nguyễn Cao T, Nguyễn Trọng Đ và Nguyễn Công Đ1 đã phạm vào tội “ Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Cho nên cáo trạng truy tố các bị cáo theo quy định tại điểm c, khoản 2 Diều 255 Bộ luật hình sự là có cơ sở đúng quy định của pháp luật.

Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý của nhà nước về các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Làm ảnh hưởng đến sức khỏe của người khác. Cho nên cần xét xử nghiêm mới có tác dục giáo dục riêng và phòng ngừa chung

Về vai trò của các bị cáo là khác nhau:

Đối với Nguyễn Cao T là người khởi xướng và cũng là người cung cấp tiền để Nguyễn Công Đ1 đi mua ma tuý về sử dụng. Bị cáo Nguyễn Trọng Đ là người cung cấp ma tuý cho Nguyễn Cao T5 và Nguyễn Trong Đ2 sử dụng. Bị cáo Nguyễn Công Đ1 là người đi mua ma tuý và chuẩn bị dụng cụ để cùng với Nguyễn Cao T và Nguyễn Trọng Đ sử dụng. Ngoài ra Nguyễn Công Đ1 còn có hành vi mua giúp ma tuý cho Võ Bá Q mặc dù hành vi này quá trình điều tra không thu giữ được vật chứng vụ án, bị cáo không được hưởng lợi gì nhưng trong quá trình lên mức án cũng cần xem xét. Các bị cáo có nhân thân xấu. Cho nên cần phải lên cho các bị cáo mức án đủ nghiêm mới có đủ điều kiện cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ sau: Trong quá trình điều tra và tại phiên toà hôm nay các bị cáo thật thà khai bảo, tỏ răn ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình. Sau khi phạm tội nhận thức được hành vi của mình nên Nguyễn Trọng Đ đã đến đầu thú có ông bà nội là người cố công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến. Bị cáo Nguyễn Cao T có ông, bà nội, ngoại là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương kháng chiến. Bị cáo Nguyễn Công Đ1 có có ông nội là người có công với nước được tặng thưởng Huy chương kháng chiến cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đối với hành vi “ Mua bán trái phép chất ma tuý” của bị cáo Võ Bá Q. Tại phiên toà hôm nay bị cáo thừa nhận vào ngày 29 tháng 2 năm 2024 bản thân do nghiện ma tuý cho nên đã nhờ Nguyễn Công Đ1 mua hộ cho mình một số ma tuý với mục đích sử dụng. Sau khi Nguyễn Công Đ1 mua được ma tuý cho bị cáo với số tiền là 500.000 đồng thì bị cáo chưa sử dụng. Sau đó đến khoảng 19 giờ cùng ngày sau khi Nguyễn Công Đ1 gọi điện hỏi về việc mua lại số ma tuý trên. Do là chỗ quen biết cho nên Võ Bá Q đã bán lại số ma tuý trên cho Đ1 mà không thu lợi bất cứ gì. Hành vi trên của Võ Bá Q đã phạm vào tội Mua bán trái phép chất ma tuý. Cho nên cáo trạng truy tố bị cáo về tội Mua bán trái phép chất ma tuý theo quy định tại khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự là đúng quy định của pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ quản lý của nhà nước về chất ma tuý cho nên cần xét xử nghiêm mới các tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Bị cáo có nhân nhân xấu cho nên cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên toà hôm nay bị cáo thật thà khai bảo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên đã đầu thú. Bị cáo có bố, mẹ là người có công với nước được tặng thưởng Huân chương cho nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt để thể hiện tính khoan hồng của pháp luật.

Đối với hành vi Mua bán trái phép chất ma tuý của Trịnh Văn H4. Mặc dù trong quá trình điều tra bị cáo cho rằng vào ngày 29/2/2024 bị cáo đã bán cho Nguyễn Công Đ1 một số ma tuý với giá 500.000 đồng. Lời khai này của bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo Nguyễn Công Đ1 tại phiên toà hôm nay cũng như lời khai trong quá trình điều tra. Ngoài ra bị cáo còn khai rằng vào thời điểm trên còn bán cho Nguyễn Xuân T3, trú tại xóm P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An một số ma tuý với giá 500.000 đồng. Trong quá trình thanh toán số tiền này thì Nguyễn Xuân T3 đã chuyển cho bị cáo số tiền này thàng 2 lần một lần 300.000 đồng và một lần 200.000 đồng cho nên Cáo trạng đã truy tố bị cáo về tội “ Mua bán trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c, khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên trong hồ sơ vụ án chỉ thể hiện lời nhận tội của bị cáo cũng như lịch sử chuyển tiền từ Nguyễn Xuân T3 chứ không có tài liệu nào để chứng mình việc Trịnh Văn H4 đã bán ma tuý cho Nguyễn Xuân T3. Trong quá trình điều tra cơ quan điều tra cũng đã xác minh làm rõ nhưng hiện nay Nguyễn Xuân T3 đi đâu làm gì cũng không rõ.

Hơn nữa trong quá trình xét xử Toà án đã tống đạt các văn bản tố tụng cho Nguyễn Xuân T3. Nhưng bà Trần Thị T6 là mẹ của Nguyễn Xuân T3 đã cho rằng hiện nay con trai của bà đang đi làm ăn xa không liên lạc được từ lâu và cũng từ đầu năm 2024 đến nay không trở về địa phương.

Cho nên không thể chỉ căn cứ vào lời khai của bị cáo để khẳng định được việc bị cáo H4 đã bán ma tuý cho Nguyễn Xuân T3 cho nên về hành vi này khi nào làm rõ rẽ xử lý bằng vụ án khác. Cho nên chỉ có đủ căn cứ để khẳng định vào ngày 29/2/2024 Trịnh Văn H4 có hành vi bán ma tuý cho Nguyễn Công Đ1 mà thôi. Cho nên cần áp dụng khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự để xét xử đối với Trịnh Văn H4 chứ không thể áp dụng điểm c, khoản 2 Điều 251 như cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An đã truy tố.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý của nhà nước về ma túy. Cho nên cần phải xét xử nghiêm, cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có đủ điều kiện để cải tạo và giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Tuy nhiên khi quyết định hình phạt Hội đồng xét xử có xem xét đến cá tình tiết giảm nhẹ sau: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay Bị cáo thật thà khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải với hành vi phạm tội của mình nên đã đầu thú cho nên cũng cầ xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Bị cáo có hòa canh khó khăn nên cần miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

[3] Trong vụ án này, theo lời khai của bị cáo Trịnh Văn H4 thì có người đàn ông tên T5 đã bán ma túy cho bị cáo H4 nhưng bị cáo không rõ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể nên cơ quan điều tra không có căn cứ để điều tra làm rõ.

Đối với hành vi của Nguyễn Chí H7: đã có hành vi cho Nguyễn Trọng Đức V ma tuý tổng hợp, không biết việc Nguyễn Trọng Đ sử dụng viên ma tuý đó để tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý, vì vậy không có căn cứ để xử lý về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Nguyễn Chí H7 hiện không có tiền án, tiền sự về các tội quy định tại các điều 248, 250, 251 và 252 của Bộ luật hình sự, lượng ma tuý mà H7 cho Đ đã không còn nên không xác định được khối lượng. Chính vì vậy không đủ căn cứ để xử lý về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

Đối với Phan Huy H6: H6 cho Công Đ1 mượn và sử dụng tài khoản ngân hàng, tuy nhiên H6 không biết Đ1 dùng vào việc trao đổi mua ma tuý, vì vậy không có căn cứ để xử lý.

Đối với bà Trần Thị T4: bà T4 có hành vi cho Nguyễn Công Đ1 mượn và sử dụng chiếc xe mô tô nhãn hiệu Supper CUB, mang BKS 37EA-009.43, tuy nhiên bà T4 không biết Nguyễn Công Đ1 dùng chiếc xe mô tô nói trên để đi mua ma tuý, tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý nên không có căn cứ để xử lý.

[5] Về vật chứng vụ án: Trong quá trình điều tra có thu giữ số ma túy và dụng cụ sử dụng ma tuý là vật chứng của vụ án, hiện không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. Đôi với 05 chiếc điện thoại là các bị cáo sử dụng để liên lạc với nhau trong quá trình mua bán và sử dụng trái phép chất ma tuý nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.Trả lại cho bà Trần Thị T4 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Supper CUB, mang BKS 37EA-009.43

[6] Về án phí: Các Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng Điểm b khoản 2 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Đối với Nguyễn Cao T, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Trọng

Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số 326/QH14 ngày 30 tháng 6 năm 2021 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. đối với Trịnh Văn H4 và Võ Bá Q.

Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Cao T, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Trọng phạm Tội Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý.

Tuyên bố các bị cáo Trịnh Văn H4 và Võ Bá Q phạm tội Mua bán trái phép chất ma tuý.

Xử phạt Nguyễn Cao T, 7 (Bảy) năm 2 (Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/3/2024.

Xử phạt Nguyễn Trọng Đ; 7 ( Bảy) năm 2 ( Hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/4/2024

Xử phạt Nguyễn Công Đ1; 7 (Bảy) năm 6 (Sáu) tháng tù, Thời hạn tù tính từ ngày 04/4/2024.

Xử phạt Trịnh Văn H4; 27 ( hai Mươi Bảy) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 02/7/2024..

Xử phạt Võ Bá Q; 24 ( hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 27/6/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.

Tuyên bố tịch thu, tiêu hủy: 01 (Một) phong bì thư bên trong chứa chai nhựa màu trắng, bên trong chứa khoảng 1/5 chất lỏng trong suốt, trên thân chai có một lỗ nhỏ gắn một tờ tiền cuộc tròn mệnh giá 1000đ; 01 (một) phong bì thư ben trong chứa bật lửa nhiều màu sắc; 01 (một) phong bì thư bên trong chứa tờ giấy thiếc bám dính chất rắn màu đen; 01 (một) phong bì thư bên trong chứa gói ni lông màu trắng, bên trong có chứa 02 (hai) vó phong bì ; 01 (Một) phong bì thư bên trong chứa chai nhựa màu trắng, nắp chai nhựa màu xanh có đục 2 lỗ tròn, một lỗ gắn 01 (một) ống thuỷ tinh, bển trong chứa ¼ chất lỏng trong suốt; 01 (một) hút nhựa màu trắng tím. Đây là những vật chứng thu giữ khi khám nghiệm hiện trường.

Tuyên bố tịch thu sung quỹ nhà nước: 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A77s, màu đen, thu giữ của Nguyễn Cao T; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 8 PLUS, màu hồng thu giữ của Nguyễn Công Đ1; 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh thu giữ của Nguyễn Trọng Đ; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy 7, màu vàng, thu giữ của Võ Bá Q; 01 (Một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI, màu xanh; thu giữ của Trịnh Văn H4.

Trả lại cho bà Trần Thị T4 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu WAVE ANPHA màu cam - đen, biển kiểm soát: 37E1-529.00;

Đặc điểm chi tiết các vật chứng thể hiện tại biên bản giao nhận vật chứng ngày 11 tháng 11 năm 2024 giữa Công an huyện T và chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Chương.

Truy thu sung quỹ nhà nước số tiền thu lợi bất chính từ Trịnh Văn H4 số tiền 200.000 đồng từ việc mua bán trái phép chất ma tuý.

Về án phí: Buộc các bị cáo Nguyễn Trọng Đ, Nguyễn Công Đ1, Nguyễn Cao T, Trịnh Văn H4 và Võ Bá Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Tuyên bố bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Sở tư pháp, TAND tỉnh Nghệ An
  • - CA, VKS huyện Thanh Chương
  • - THA hình sự
  • - Chi cục THA dân sự
  • - Bị cáo,
  • - Người liên quan.
  • - Lưu VP

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thái Trường Giang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HSST ngày 16/12/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN về tội phạm về ma túy (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và mua bán trái phép chất ma tuý)

  • Số bản án: 88/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Tội phạm về ma túy (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý và Mua bán trái phép chất ma tuý)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 16/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH CHƯƠNG, TỈNH NGHỆ AN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Hoàng
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger