|
TOÀ ÁN ND HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
BẢN ÁN SỐ: 88/2024/HS-ST |
|
|
NGÀY: 18/9/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
***
- Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Trần Thị Hằng.
Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Thanh và ông Nguyễn Quang Vinh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên Tòa: Bà Nguyễn Quỳnh Anh - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 88/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 8 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 82/2024/QĐXXST-HS ngày 05 tháng 9 năm 2024 đối với bị cáo:
-
Họ và tên: Nguyễn Văn T; sinh năm 1997; Tên gọi khác: Không;
Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ văn hóa: 6/12; Nghề nghiệp: Tự do; Bố đẻ: Nguyễn Văn V, sinh năm 1967; Mẹ đẻ: Trần Thị T1, sinh năm 1964; Gia đình có 03 anh em, bản thân là thứ hai; Vợ, con; Chưa có. Nhân thân:
-
- Tại bản án số 75/HSST ngày 28/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong án phí 12/11/2014).
-
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 119/QĐ-XPHC ngày 18/7/2024, Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt số tiền 1.500.000₫ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Tiền sự: Không; Tiền án:
-
- Tại bản án số 40/HSST ngày 30/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Chấp hành xong án phí ngày 19/7/2021, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/12/2019).
-
- Tại bản án 26/HSST ngày 20/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Chấp hành xong án phí ngày 19/7/2021, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/6/2022).
-
- Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L - (Có mặt tại phiên tòa).
-
-
Họ và tên: Nguyễn Thị Hồng S; sinh năm 1983; Tên gọi khác: Không;
Nơi đăng ký HKTT: Khu A, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ;
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 08/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn T2, sinh năm 1947; Mẹ đẻ: Hoàng Thị T3, sinh năm 1949; Gia đình có 04 anh, chị, em, bản thân là thứ tư; Chồng: Cao Bộ V1, sinh năm 1984; Con 02 con sinh lớn sinh năm 2004, con nhỏ sinh năm 2007. Nhân thân, Tiền án, tiền sự: Chưa có;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L – (Có mặt tại phiên tòa).
+ Bị hại: Anh Nguyễn Duy T4, sinh năm 1990 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Anh Từ Văn H, sinh năm 1984 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: TDP N, thị trấn V, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
+ Người làm chứng:
-
Anh Trần Văn H1, sinh năm 1970 – (Vắng mặt).
-
Anh Trần Văn P sinh năm 1970 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn N, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Bà Lưu Thị H2, sinh năm 1956 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn D, xã N, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Chị Trần Thị T5, sinh năm 1990 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: TDP C, thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
-
Chị Vũ Thị S1, sinh năm 1977 – (Vắng mặt).
Địa chỉ: Thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 5/2024, Nguyễn Văn T, sinh năm 1997, trú tại thôn T, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và Nguyễn Thị Hồng S, sinh năm 1983 trú tại khu D, xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ có quan hệ tình cảm, nên cả hai thuê phòng tại nhà trọ “H" ở TDP số C, thị trấn K, huyện ở L, tỉnh Bắc Giang chung sống cùng nhau.
Khoảng 17 giờ ngày 08/6/2024, T thuê xe ôm đi từ nhà trọ về nhà ở thôn T, xã T, huyện L. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, T đi bộ sang nhà anh Dương
Văn Đ, sinh năm 1984 ở thôn N, xã T, huyện L chơi. Trên đường đi, T phát hiện thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, biển kiểm soát: 98M1-306.25 (xe của anh Nguyễn Duy T4, sinh năm 1990 ở thôn N, xã M, huyện L) dựng ở ven đường cánh đồng thôn N, xã T nên nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe này. Lúc này, T quan sát thấy chiếc xe không có người trông coi, ở dưới cánh đồng có một số người đang soi cua nên T đi đến vị trí dựng chiếc xe tiếp tục quan sát thì thấy xe không khoá cổ, khoá càng, T dắt chiếc xe ra ruộng cỏ gần bãi tha ma, cách vị trí ban đầu khoảng 400m cất giấu. Sau đó, T đi về khu vực ao cá của gia đình mình lấy 01 chiếc tuốc lơ vít, loại bốn cạnh rồi quay lại chỗ chiếc xe trộm cắp cất giấu trước đó, dùng tuốc lơ vít tháo ốp nhựa mặt nạ đầu xe rồi dùng tay dứt dây điện, đấu nối với ổ khoá điện. Sau đó, T nổ máy xe đi về nhà trọ “H” gặp S và nói cho S biết việc mình trộm cắp xe. Biết việc T trộm cắp xe mô tô, S khuyên T mang xe trả lại nhưng T nói lỡ lấy rồi để mang đi bán, S đồng ý. Đến sáng ngày 09/6/2024, T giao xe cho S đi xuống khu vực cổng chợ V2, huyện L đánh chìa khoá cho chiếc xe trộm cắp được. Sau khi S làm chìa khoá về, T mở cốp yên xe thì phát hiện thấy trong cốp có 01 ví da màu vàng, bên trong ví có căn cước công dân, đăng ký xe mô tô mang tên Nguyễn Duy T4 và một số giấy tờ cá nhân khác. Khoảng 17 giờ cùng ngày, T điều khiển chiếc xe mô tô trộm cắp được chở S đi từ thị trấn K theo đường quốc lộ 37 đến ngã tư thị trấn B, huyện L rồi rẽ phải đi về hướng xã T, L mục đích tìm nơi tiêu thụ chiếc xe này. Khi cả hai đi đến khu dân cư gần khu công nghiệp T, T dừng xe bảo S điều khiển xe đi dọc đường về hướng thị trấn V có quán mua bán xe mô tô nào thì vào bán xe, khi bán phải sử dụng tên giả nhằm tránh bị phát hiện. Sau đó, S điều khiển chiếc xe mô tô biển kiểm soát 98M1-306.25 đi đến cửa hàng mua bán xe mô tô của anh Từ Văn H, sinh năm 1984 ở thôn C, xã T, huyện L đặt vấn đề bán xe cho anh H. Anh H kiểm tra xe, giấy đăng ký xe và căn cước công dân của S nhưng thấy đăng ký xe và căn cước công dân không phải là của chủ xe, nên yêu cầu S phải có căn cước công dân của chủ xe thì mới đồng ý mua xe với giá 13.500.000 đồng. Nghe anh H nói vậy, S điều khiển xe quay lại chỗ Thực chờ, nói cho T biết giá bán xe, đồng thời bảo T đưa cho mình căn cước công dân của anh T4 rồi quay lại bán xe cho anh H với giá 13.500.000 đồng. Khi bán xe Sinh viết giấy mua bán xe với tên giả là Lê Thị L ở thôn N, xã M, huyện L. Bán được xe, S đi bộ quay về chỗ Thực chờ, đưa toàn bộ số tiền bán xe cho T, rồi cả hai đi bộ theo đường TL 295 về hướng thị trấn B, huyện L. Khi đi đến trước cửa hàng vật liệu xây dựng của chị Vũ Thị S1, sinh năm 1977 ở thôn T, xã T, huyện L thì T nhờ chị S1 gọi hộ xe taxi để đi về. Sau đó, T và S đi xe taxi của Trần Văn H1, sinh năm 1970 ở thôn Đ, xã T, huyện L đến cửa hàng mua bán xe máy của anh Trần Văn P, sinh năm 1970 ở thôn N, xã T, huyện L. Tại đây, T mua của anh P chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, biển kiểm soát 98B2- 197.01 với giá 4.000.000 đồng rồi chở S về nhà trọ “Hưng Vượng” nghỉ.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 57/KL-HĐĐGTS ngày 11/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “Giá trị 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, màu đen, số loại JA392, BKS: 98M1-306.25, đăng ký lần đầu ngày 01/02/2023, tại thời điểm ngày 08/6/2024 có giá 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng)”.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐGTS ngày 09/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện L kết luận: “Giá trị 01 ví da màu vàng, trên mặt ngoài của ví có in chữ “VERSACE”, cũ đã qua sử dụng, tại thời điểm ngày 08/6/2024 có giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng)”.
Tại bản cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 28/8/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Truy tố Nguyễn Thị Hồng S về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa các bị cáo T và S đều đã khai nhận và thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Bị cáo T xin bồi hoàn toàn bộ số tiền 4.500.000 đồng còn lại cho anh Từ Văn H.
- Bị hại, người có quyền lợi liên quan đều vắng mặt tại phiên tòa, có lời khai: Bị hại Anh Nguyễn Duy T4 đã nhận lại chiếc xe máy và toàn bộ đồ vật, tài sản của mình nên không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Từ Văn H yêu cầu T và S phải hoàn trả cho anh số tiền 13.500.000 đồng.
Phát biểu quan điểm luận tội tại phiên tòa, Kiểm sát viên sau khi phân tích, đánh giá tính chất vụ án, nhân thân cũng như mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện, những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, Đại diện VKSND Huyện Lạng Giang vẫn giữ nguyên quan điểm như bản cáo trạng đã truy tố đối với các bị cáo và đề nghị HĐXX: Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Thực T6 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù và áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 65 BLHS xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Hồng S từ 6 đến 9 tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách từ 12 đến 18 tháng; Áp dụng khoản 4 Điều 328 TTHS trả tự do cho bị cáo Nguyễn Thị Hồng S tại phiên tòa. Ngoài ra đại diện VKS còn đề nghị HĐXX xử lý về trách nhiệm dân sự, về vật chứng và án phí của vụ án.
Các bị cáo T và S đều không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát và có ý kiến đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của KSV, ý kiến của bị cáo, người bị hại trong vụ án.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện L, Điều tra viên,Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Việc đánh giá chứng cứ: Tại phiên tòa, qua xét hỏi bị cáo Nguyễn Văn T và Nguyễn Thị Hồng S khai nhận: Khoảng 19 giờ, ngày 08/6/2024, tại đường cánh đồng thôn N, xã T, huyện L, Nguyễn Văn T đã có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Duy T4, sinh năm 1990 ở thôn N, xã M, huyện L, tỉnh Bắc Giang 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave, BKS: 98M1-306.25 có giá trị là 14.000.000 đồng (Mười bốn triệu đồng) và 01 ví da màu vàng trị giá 20.000 đồng (Hai mươi nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản T trộm cắp là 14.020.000 đồng (Mười bốn triệu không trăm hai mươi nghìn đồng).
Khoảng 17 giờ, ngày 09/6/2024, Nguyễn Thị Hồng S biết rõ chiếc xe mô tô BKS: 98M1-306.25 là do Nguyễn Văn T trộm cắp mà có nhưng vẫn mang chiếc xe mô tô đi tiêu thụ tại cửa hàng mua bán, sửa chữa xe máy, xe đạp điện Quang Hinh do anh Từ Văn H làm chủ với giá 13.500.000 đồng (Mười ba triệu năm trăm nghìn đồng).
Lời khai nhận tội của các bị cáo được chứng minh bằng đơn trình báo, lời khai của người bị hại và phù hợp với thời gian địa điểm xảy ra tội phạm. Như vậy HĐXX có đủ cơ sở kết luận bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Thị Hồng S phạm tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự. Bản cáo trạng số 89/CT-VKS ngày 28/8/2024 của VKSND huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang đã truy tố đối với Nguyễn Văn T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và Nguyễn Thị Hồng S về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật Hình sự là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, thể hiện sự coi thường pháp luật, các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự phạm tội với lỗi cố ý, hành vi đó không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ mà còn gây gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương, gây bức xúc phẫn nộ và làm hoang mang tinh thần trong quần chúng nhân dân. Do đó phải xử phạt nghiêm đối với các bị cáo để giáo dục riêng, đồng thời răn đe ngăn chặn phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo HĐXX thấy:
[4.1] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.
[4.2] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn T quá trình điều tra đầu thú; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải do vậy cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; Bị cáo Nguyễn Thị Hồng S phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và đầu thú, bố đẻ là ông Nguyễn Văn T2 được Chủ tịch nước tặng huân chương kháng chiến hạng ba; gia đình bị cáo đã tự nguyện khắc phục hậu quả cho bị hại và bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên cần xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại Điểm b, i, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[4.3] Xét về nhân thân của bị cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T là người phạm tội có nhân thân:
-
- Tại bản án số 75/HSST ngày 28/4/2014, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội trộm cắp tài sản (chấp hành xong án phí 12/11/2014).
-
- Tại Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 119/QĐ-XPHC ngày 18/7/2024, Công an huyện L, tỉnh Bắc Giang xử phạt số tiền 1.500.000đ về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy
-
- Tại bản án số 40/HSST ngày 30/5/2019, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 09 tháng tù về tội công nhiên chiếm đoạt tài sản (Chấp hành xong án phí ngày 19/7/2021, chấp hành xong án phạt tù ngày 20/12/2019).
-
- Tại bản án 26/HSST ngày 20/4/2021, Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 18 tháng tù về tội tàng trữ trái phép chất ma túy (Chấp hành xong án phí ngày 19/7/2021, chấp hành xong án phạt tù ngày 28/6/2022).
[5] Về áp dụng hình phạt: Từ các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nêu trên, sau khi đánh giá nhân thân của từng bị cáo HĐXX thấy: Đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Mặc dù bản thân T đã nhiều lần bị Tòa án xử phạt về các hành vi phạm tội, nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học sửa chữa mà vẫn tiếp tục tái phạm tội, chứng tỏ bị cáo là con người khó giáo dục. Do vậy xét cần bắt bị cáo T phải cách ly khỏi xã hội một thời gian cần thiết mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo trở thành con người làm ăn lương thiện, áp dụng Điều 38 BLHS đối với T.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng S, HĐXX xét thấy: Bị cáo S có nhân thân tốt chưa có tiền án, tiền sự, bản thân bị cáo có 3 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 và 02 tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 BLHS, Căn cứ Nghị quyết số 02/2022/VBHN-TANDTC ngày 07/9/2022 của Hội đồng
Thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của BLHS, ý kiến của đại diện VKS huyện L tại phiên tòa cũng đề nghị HĐXX cho bị cáo được hưởng án treo, do vậy cần chấp nhận cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để có cơ hội sửa chữa lỗi lầm và có điều kiện chăm sóc con nhỏ cũng đủ điều kiện giáo dục bị cáo trở thành con người làm ăn lương thiện, vừa thể hiện tính nhân đạo pháp luật XHCN. Áp dụng Điều 65 BLHS.
[6] Hiện bị cáo Nguyễn Văn T đang bị tạm giam. Để đảm bảo cho việc thi hành án, HĐXX xét cần tiếp tục tạm giam bị cáo Nguyễn Văn T 45 ngày theo quy định tại Điều 329 BLTTHS.
Đối với bị cáo Nguyễn Thị Hồng S: Hiện bị cáo đang bị tạm giam nhưng được HĐXX xem xét cho bị cáo được hưởng án treo, do vậy cần trả tự do ngay cho bị cáo tại phiên tòa nếu bị cáo không bị giam giữ về tội khác theo quy định tại khoản 4 Điều 328 BLTTHS.
[7] Về hình phạt bổ sung: Ngoài hình phạt chính, lẽ ra cần áp dụng khoản 5 Điều 173 và khoản 5 Điều 323 BLHS phạt bổ sung bằng tiền đối với các bị cáo để sung công quỹ nhà nước. Tuy nhiên xét thấy điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo T khó khăn, bị cáo mắc nghiện ma túy không có công ăn việc làm ổn định, chưa có vợ con, không có tthu nhập kinh tế nên HĐXX xét miễn phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo để bị cáo yên tâm cải tạo, sớm có điều kiện trở về với gia đình.
Đối với Nguyễn Thị Hồng S, qua biên bản xác minh tình trạng kinh tế của gia đình bị cáo thể hiện bị cáo hiện bỏ nhà đi cách đây khoảng 2 năm, chồng bị cáo đang làm thủ tục ly hôn tại TAND huyện Tam Nông, điều kiện kinh tế gia đình S hiện không có tài sản gì đáng giá. Do vậy HĐXX không phạt bổ sung bằng tiền đối với S.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, Anh Nguyễn Duy T4 không yêu cầu các bị cáo phải bồi thường gì. Anh Từ Văn H yêu cầu Nguyễn Thị Hồng S và Nguyễn Văn T phải bồi thường số tiền 13.500.000 đồng. Ngày 09/9/2024 ông Nguyễn Văn T2 là bố đẻ Sinh đã tự nguyện bồi thường cho anh Từ Văn H số tiền 4.000.000 đồng (Bốn triệu đồng), anh H không yêu cầu S phải bồi thường thêm gì. Số tiền còn lại 9.500.000 đồng, (trong đó số tiền 5.000.000 đồng do T nộp đang được tạm giữ tại Kho bạc), số tiền còn lại 4.500.000 đồng tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn T tự nguyện thỏa thuận bồi thường toàn bộ số tiền còn lại này cho anh H, nên HĐXX chấp nhận yêu cầu của T, buộc T phải hoàn trả tiếp cho anh H số tiền này.
[9] Về vật chứng: Quá trình điều tra, cơ quan điều tra thu giữ: Số tiền 5.000.000 đồng là tiền Sinh và T bán xe mô tô trộm cắp được còn lại, bị cáo T đã giao nộp cho cơ quan điều tra. Đây là số tiền anh H đã trả cho bị cáo để mua chiếc xe mô tô. Do vậy cần trả lại cho anh H.
+ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Moto, màn hình bị vỡ, không có vỏ mặt
sau, bên trong lắp 02 thẻ sim của nhà mạng Viettel; 01 ví da màu đen có quai đeo và 01 ví da màu vàng là tài sản của bị cáo T. Tại phiên tòa bị cáo khai hiện chiếc điện thoại đã cũ hỏng không sử dụng được, ví da không có giá trị sử dụng, bị cáo không xin nhận lại tài sản do vậy cần tịch thu tiêu huỷ;
+ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo, mặt sau màu tím là tài sản của bị cáo S, 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Hồng S không liên quan đến hành vi phạm tội, bị cáo có nguyện vọng được xin lại nên trả lại cho các bị cáo song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
+ 01 thẻ Visa MB 184455640, 01 thẻ Visa MB số [...] là của bị cáo T, bị cáo có nguyện vọng được xin lại nên trả lại cho bị cáo.
+ 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo, số khung: DB10EY248240, số máy: 1DB1248253, biển số : 98B2-197.01, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 018327, biển số 98B2–197.01 mang tên Nguyễn Văn D là tài sản của T mua bằng số tiền do phạm tội mà có. Tại phiên tòa Nguyễn Văn T khai dùng số tiền trộm cắp được để mua xe, không yêu cầu nhận lại mà đề nghị HĐXX sung vào công quỹ Nhà nước. Do vậy cần sung vào công quỹ Nhà nước chiếc xe mô tô này.
Đối với 01 ví da màu vàng, trên mặt ngoài của ví có in chữ “VERSACE”; 01 thẻ căn cước công dân số [...]; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 000434, biển số 98M1-306.25; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 006041, biển số 98M1-233.87; 01 giấy phép lái xe hạng B2; 01 thẻ ATM ngân hàng MB, số thẻ: 4089.0410.6826.6998; 01 thẻ ATM ngân hàng A, số thẻ 9704.0530.0966.9127, đều mang tên Nguyễn Duy T4; 01 xe mô tô Honda Wave, màu đen, số khung: RLHJA3825NY744791, số máy JA39E2962483, BKS 98M1-306.25, 01 chìa khoá xe mô tô là tài sản anh T4. Ngày 10/7/2024, cơ quan điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại cho anh T4 những giấy tờ, tài sản này.
[10] Về hành vi của những người liên quan: Anh Từ Văn H không biết chiếc xe mô tô mà S mang đến bán là tài sản trộm cắp được nên cơ quan điều tra không đề cập xử lý.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn T. Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ cùng tài liệu liên quan đến Công an huyện L ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính quy định tại Khoản 1 Điều 23 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ (phạt tiền 1.500.000 đồng).
Đối tượng bán ma túy, T khai mua của một người nam giới không quen biết, không biết tên tuổi, địa chỉ ở ngã tư thị trấn K, huyện L, tỉnh Bắc Giang nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh xử lý.
Chiếc tô vít T sử dụng tháo ốp mặt nạ xe mô tô trộm cắp, T khai không rõ đặc điểm cụ thể và đã làm rơi mất, không biết rơi ở đâu nên cơ quan điều tra không có căn cứ truy tìm và không thu giữ được.
Đối với người thợ sửa khóa xe mô tô cho S tại khu vực cổng chợ vôi, S khai sửa khóa của người nam giới đi đánh khóa ngoài đường và không biết thông tin, đặc điểm người này nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm việc.
Số tiền bán xe trộm cắp được, T và S khai sử dụng mua xe mô tô, trả tiền nhà trọ, trả tiền taxi và chi tiêu cá nhân, Cơ quan điều tra đã làm việc với những người liên quan nhưng không thu giữ được số tiền này.
[11] Tại phiên tòa hôm nay bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong vụ án vắng mặt, tuy nhiên đã được Tòa án đã tiến hành tống đạt giấy báo phiên tòa đầy đủ, hợp lệ, do vậy quyền lợi đã được đảm bảo.
[12] Về án phí: Căn cứ Điều 136 BLTTHS và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm. Nguyễn Thị Hồng S phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan được quyền kháng cáo bản án theo Điều 331; Điều 333 BLTTHS.
[14] Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tại phiên tòa là phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ Điều 47; khoản 2, 3 Điều 106; Điều 331; Điều 333 và Điều 30 BLTTHS; Điều 584; Điều 585; Điều 586 và Điều 589 Bộ luật Dân sự. Điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án:
-
- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Nguyễn Văn T 02 (Hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội: “Trộm cắp tài sản”. Thời gian thụ hình tính từ ngày bắt tạm giữ, tạm giam 11/6/2024.
-
- Áp dụng khoản 1 Điều 323; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt Nguyễn Thị Hồng S 08 (tám) tháng tù về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”, cho hưởng án treo; Thời gian thử thách 01 năm 04 tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị Hồng S cho UBND xã V, huyện T, tỉnh Phú Thọ giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
-
- Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp
hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo khoản 3 Điều 92 Luật thi hành án Hình sự.
2. Về trách nhiệm dân sự: Buộc Nguyễn Văn T phải có trách nhiệm bồi hoàn cho anh Từ Văn H số tiền 4.500.000 đồng (Bốn triệu, năm trăm ngàn đồng).
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự.
3. Về vật chứng:
-
+ Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn T 01 thẻ Visa MB 184455640, 01 thẻ Visa MB số [...];
-
+ Trả lại bị cáo Nguyễn Thị H3 Sinh 01 thẻ căn cước công dân số [...] mang tên Nguyễn Thị Hồng S; 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Oppo cũ, mặt sau màu tím (không xác định được số thuê bao và imel của máy). Song tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
-
+ Tiêu huỷ 01 chiếc điện thoại nhãn hiệu Moto cũ hỏng, màn hình bị vỡ, không có vỏ mặt sau, bên trong lắp 02 thẻ sim của nhà mạng V3 (không xác định được số thuê bao và imel của máy); 01 ví da màu đen có quai đeo và 01 ví da màu vàng của T.
-
+ Tịch thu sung quỹ nhà nước 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Nouvo cũ đã qua sử dụng, số khung: DB10EY248240, số máy: 1DB1248253, biển số: 98B2-197.01, 01 giấy đăng ký xe mô tô số 018327, biển số 98B2–197.01 mang tên Nguyễn Văn D.
-
- Trả cho anh Từ Văn H số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).
(Đặc điểm của các loại vật chứng theo như biên bản giao nhận vật chứng số 99 ngày 29/8/2024 giữa Công an huyện L và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
4. Về án phí và quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn T phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Nguyễn Thị Hồng S phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.
Báo cho bị cáo có mặt biết được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo, kể từ ngày nhận tống đạt bản án vắng mặt./.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thị Hằng |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG về vụ án hình sự (trộm cắp tài sản và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Vụ án Hình sự (Trộm cắp tài sản và Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 18/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn Thực - TCTS
