|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN THÀNH PHỐ CẦN THƠ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/HSST Ngày: 13-11-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN Ô MÔN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Trần Thị Hồng Yến
2/ Ông Ngô Minh Thi
- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Ngọc Anh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc Bảo Trân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 13 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 93/2024/TLST-HS ngày 29 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 105/2024/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Thanh H, sinh ngày 15 tháng 4 năm 2002 tại Cần Thơ.
Nơi đăng ký thường trú: Khu vực T, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; Nơi ở hiện tại: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa (học vấn): không biết chữ; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Văn P (chết) và bà Nguyễn Thị Bích H1, sinh năm 1975 (sống); anh chị ruột: có 02 người, lớn sinh năm 1997, nhỏ sinh năm 2000; tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
- Ông Chương Văn T, sinh năm 1938. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)
- Ông Cao Phước L, sinh năm 1981. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Trần Thị Diễm C, sinh năm 1979. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)
- Bà Trần Thúy H2, sinh năm 1969. Địa chỉ: Khu V L, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Vắng mặt)
- Bà Bùi Thị Như Ý, sinh năm 1988. Địa chỉ: Khu V, phường T, quận T, thành phố Cần Thơ. (Có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 06/7/2024, Nguyễn Thanh H đi đám giỗ tại khu vực B, phường T, quận Ô, thành phố Cần Thơ. Đến khoảng 13 giờ cùng ngày, H đi bộ về ngang nhà ông Chương Văn T, thuộc khu vực T, phường T, phát hiện 01 (một) xe máy biển số 65FD-1435, màu vàng cam, loại xe 50, nhãn hiệu CITYJAPAMDL đậu ngoài lộ, trên xe có gắn chìa khóa nên H nảy sinh ý định lấy trộm xe để bán lấy tiền tiêu xài, H lấy xe máy của ông T chạy về nhà trọ H3 thuộc khu vực T, phường T nơi H thuê cất giấu, đến chiều cùng ngày Công an phường T phát hiện và thu giữ vật chứng.
Ngoài ra, H còn khai nhận vào khoảng 07 giờ ngày 17/6/2024 H đi bộ ngang chợ T1 thuộc khu vực T, phường T, phát hiện 01 (một) xe đạp điện của ông Cao Phước L đậu bên trong chợ, không người trông coi nên H nảy sinh ý định lấy trộm xe đạp điện bán lấy tiền tiêu xài, H lấy xe đạp đem về nhà trọ H3 – nơi H thuê ở, cất trong phòng trọ.
Tại Kết luận định giá tài sản số 88/KL-HĐĐGTS ngày 25/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân quận Ô kết luận: 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu CITYJAPAMDL, loại dung tích 50, màu vàng cam, biển số 65FD-1435, số máy FMB380020809, số khung B1N88B020809, đã qua sử dụng, giá trị của tài sản: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); 01 (một) xe đạp điện, nhãn hiệu ASAMA, số loại EBK, màu đỏ đen, đã qua sử dụng, giá trị của tài sản 1.667.000 đồng (Một triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản vào ngày 06/7/2024 và ngày 17/6/2024 là 4.667.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
Đối với Trần Thị Diễm C không biết H lấy trộm tài sản nên không đủ cơ sở xử lý.
Vật chứng thu giữ: Cơ quan điều tra đã trả 01 (một) xe gắn máy biển số 65FD-1435, màu vàng cam, số máy FMB380020809, số khung B1N88B020809, đã qua sử dụng cho ông Chương Văn T; 01 (một) xe đạp điện, nhãn hiệu ASAMA, số loại EBK, màu đỏ đen, đã qua sử dụng cho ông Cao Phước L là chủ sở hữu.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Chương Văn T và ông Cao Phước L đã nhận lại tài sản bị mất trộm nên không yêu cầu gì thêm.
Tại Cáo trạng số 100/CT-VKSOM ngày 28/10/2024 Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân quận Ô Môn để xét xử Nguyễn Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
- Kiểm sát viên thực hành quyền công tố, kiểm sát xét xử sơ thẩm trình bày lời luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo theo tội danh và điều luật đã nêu trong cáo trạng. Qua đó, có phân tích về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo mức án từ 06 (sáu) tháng đến 09 (chín) tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét giải quyết.
- Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an quận Ô1, điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; của Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn, Kiểm sát viên trong giai đoạn điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không có người nào khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.
[2] Về căn cứ kết tội: Lời khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo tại phiên tòa; lời khai của bị cáo thể hiện tại các biên bản ghi lời khai, biên bản hỏi cung bị can; Biên bản ghi lời khai của người bị hại, người liên quan, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập trong hồ sơ vụ án. Đủ cơ sở kết luận: Vào khoảng 13 giờ ngày 06/7/2024, bị cáo đi đám giỗ về ngang nhà ông Chương Văn T, phát hiện 01 (một) xe máy biển số 65FD-1435, màu vàng cam, loại xe 50, nhãn hiệu CITYJAPAMDL đậu ngoài lộ, trên xe có gắn chìa khóa nên nảy sinh ý định lấy trộm xe để bán lấy tiền tiêu xài, bị cáo lấy xe máy của ông T chạy về nhà trọ H3 thuộc khu vực T, phường T nơi bị cáo thuê cất giấu, đến chiều cùng ngày Công an phường T phát hiện và thu giữ vật chứng. Trước đó, khoảng 07 giờ ngày 17/6/2024 bị cáo đi bộ ngang chợ T1, phát hiện 01 (một) xe đạp điện nhãn hiệu ASAMA của ông Cao Phước L đậu bên trong chợ, không người trông coi nên nảy sinh ý định lấy trộm xe bán lấy tiền tiêu xài, bị cáo lấy xe đem về nhà trọ H3 – nơi bị cáo thuê ở, cất trong phòng trọ.
Hành vi bị cáo lấy trộm 01 (một) xe gắn máy nhãn hiệu CITYJAPAMDL, loại dung tích 50, màu vàng cam, biển số 65FD-1435, số máy FMB380020809, số khung B1N88B020809, đã qua sử dụng, giá trị của tài sản: 3.000.000 đồng (Ba triệu đồng); 01 (một) xe đạp điện, nhãn hiệu ASAMA, số loại EBK, màu đỏ đen, đã qua sử dụng, giá trị của tài sản 1.667.000 đồng (Một triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng). Tổng giá trị tài sản vào ngày 06/7/2024 và ngày 17/6/2024 là 4.667.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm sáu mươi bảy nghìn đồng).
Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Ô Môn truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.
[3] Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ, tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành, có đủ khả năng nhận thức hành vi, bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo chỉ vì tham lam, muốn có tài sản nhanh chóng mà không cần phải bỏ công sức lao động để phục vụ nhu cầu cá nhân nên bị cáo đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản.
Do đó, để có tác dụng giáo dục răn đe bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình và xã hội, giúp đỡ bị cáo sửa chữa hành vi sai trái của mình, sống đặt mình trong khuôn khổ pháp luật.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với người đủ 70 tuổi trở lên được quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa thể hiện bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn, đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét để cân nhắc hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[5] Về trách nhiệm dân sự: Bị hại không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.
[6] Về hình phạt bổ sung: Để tạo điều kiện thuận lợi cho bị cáo khi chấp hành án nên không phạt bổ sung đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp.
[7] Về án phí sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố: Nguyễn Thanh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 173; Điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điểm i khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Thanh H 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án phạt tù.
Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu lưu hồ sơ 01 (một) đĩa DVD lưu trữ video trích xuất từ camera tại nhà ông Chương Văn T và 01 (một) đĩa DVD lưu trữ video hỏi cung bị cáo (chuyển cùng hồ sơ vụ án).
Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 của Ủy ban thường vụ Q ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:
Bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ.
Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt được quyền kháng cáo bản án. Đối với bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai, để xin Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử lại vụ án theo thủ tục phúc thẩm.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Lê Thị Thúy Hằng |
Bản án số 88/2024/HSST ngày 13/11/2024 của Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 88/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp tài sản
