|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày: 05/8/2024. |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hữu Hòa.
Thẩm phán: Bà Nguyễn Thị Minh Thu.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Diêm Trọng Khoa.
Ông Trương Ngọc Cường.
Bà Nguyễn Thị Xuyến.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Anh – Thư ký TAND tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên tòa:
Bà Ngô Thị Hảo - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 8 năm 2024, tại điểm cầu trung tâm trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh và điểm cầu thành phần Trại tạm giam Công an tỉnh B, Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh, xét xử sơ thẩm công khai trực tuyến vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2024/TLST-HS ngày 26 tháng 4 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:
Dương Đình N, sinh năm 1997 tại tỉnh Bắc Ninh; nơi thường trú: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Đình M, sinh năm 1968 và Nghiêm Thị Đ, sinh năm 1972; gia đình có 04 anh em, bị cáo là con thứ ba; vợ là Ngô Thị Hải Y, sinh năm 1999 và có 02 con, con lớn sinh năm 2019, con nhỏ sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 12/01/2024, Nam bị Cơ quan CSĐT Công an huyện K, tỉnh Gia Lai khởi tố về tội: "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản" theo khoản 3 Điều 174 Bộ luật hình sự
Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/10/2023 đến nay; hiện tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh B; có mặt tại điểm cầu thành phần trại tạm giam Công an tỉnh B.
* Người bào chữa cho bị cáo N (do Tòa án chỉ định): Bà Nguyễn Thị Thu T, luật sư thuộc Công ty L - Đoàn luật sư tỉnh B; có mặt tại điểm cầu trung tâm Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
* Bị hại: Anh Nguyễn Tá T1, sinh năm 1984; trú tại: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chị Ngô Thị Hải Y, sinh năm 1999; trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Chị Dương Thị P, sinh năm 1988; trú tại: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh; có mặt.
- Ngân hàng Thương mại cổ phần T2 (T3); địa chỉ tại: tòa nhà T, số E, phố L, phường T, quận H, thành phố Hà Nội; người đại diện theo pháp luật: ông Đỗ Minh P1-chức vụ: Chủ tịch hội đồng quản trị. Xin xét xử vắng mặt.
* Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Nguyễn Hữu B – Cán bộ Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh.
- Cán bộ Trại tạm giam – Công an tỉnh B.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung được tóm tắt như sau:
Tháng 11/2020, Dương Đình N, sinh năm 1997, HKTT: thôn T, xã T, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh mua và đứng tên đăng ký đối với chiếc xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe màu trắng mang BKS 99A-408.35. Ngày 16/11/2020, N cùng vợ là chị Ngô Thị Hải Y, sinh năm 1999, ký hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô với Ngân hàng T3, chi nhánh T4 vay số tiền 560.000.000đ, thế chấp chiếc xe ô tô BKS 99A-408.35, thời hạn 72 tháng, kể từ ngày 18/11/2020 đến ngày 17/11/2026. Theo đó, Ngân hàng T3 giữ lại bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe, còn giao lại cho N 01 bản photo giấy này có dấu xác nhận thế chấp Ngân hàng để sử dụng đi lại.
Ngày 10/11/2022, do cần tiền chi tiêu cá nhân, N điều khiển xe ô tô BKS 99A-408.35 đến nhà anh Nguyễn Tá T1, sinh năm 1984, HKTT: thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh thế chấp xe ô tô trên cho anh T1 để vay 300.000.000đ.
Khi thế chấp xe, N không nói cho anh T1 biết là xe đang thế chấp ngân hàng. Anh T1 yêu cầu N đưa bản gốc Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô này thì N nói dối anh Thế là Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô Nam để ở nhà. Tin tưởng N, anh T1 đồng ý và yêu cầu N viết Giấy bán, cho, tặng xe (gọi tắt là giấy bán xe) đề ngày 10/11/2022, trong đó không ghi giá bán xe, mục đích để khi nào N trả tiền, anh T1 sẽ trả lại xe ô tô cho N, N ký bên bán, còn anh T1 ký bên mua. Anh T1 chuyển khoản 300.000.000đ vào tài khoản Ngân hàng V số [...] của N. Sau đó, N nhờ một thanh niên N chỉ biết tên là C quê ở Thanh Hoá (N không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của C và quen biết C do trước đó có thời gian C làm công nhân cho gia đình N) làm giúp 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả BKS 99A-408.35. Khi nhờ, N cung cấp cho C thông tin cá nhân của N và thông tin của xe ô tô BKS 99A-408.35. Vài ngày sau, C giao trực tiếp cho N 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả mang BKS 99A-408.35 mang tên Dương Đình N tại cổng khu công nghiệp Y. Sau đó, N đưa cho anh T1 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả này. Khoảng 02 tháng sau, anh T1 đưa xe ô tô BKS 99A-408.35 đến Trung tâm Đ1 ở thành phố T, tỉnh Bắc Ninh đăng kiểm xe thì được cán bộ Trung tâm đăng kiểm thông báo giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô này là giả và không đăng kiểm được xe. Anh T1 thông báo lại cho N và yêu cầu N đưa giấy chứng nhận đăng ký xe thật. N đồng ý và tiếp tục nhờ C làm giả 01 giấy chứng nhận đăng ký xe khác của xe ô tô BKS 99A-408.35. Sau khi được C giao cho giấy chứng nhận đăng ký xe giả này, N đưa lại cho anh T1. Anh T1 tiếp tục đưa xe ô tô đi đăng kiểm và lại nhận được thông báo của cán bộ Trung tâm đăng kiểm về việc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô này là giả. Trong thời gian N thế chấp xe cho anh T1 để vay tiền, do không có tiền trả nên thỉnh thoảng N lại bảo anh T1 chuyển thêm tiền coi như N bán xe cho anh T1 và được anh T1 đồng ý. Từ ngày 10/11/2023 đến ngày 10/02/2023, anh T1 đã 14 lần chuyển khoản vào tài khoản Ngân hàng V số [...] của N1 với tổng số tiền là 668.500.000đ, trong đó có 623.500.000đ là tiền mua xe ô tô BKS 99A-408.35, còn 45.000.000₫ là tiền Nam thế chấp xe mô tô cho anh T1. Đến nay, N đã thanh toán trả cho anh T1 45.000.000đ tiền thế chấp xe mô tô, còn số tiền 623.500.000₫ Nam chiếm đoạt không trả cho anh T1.
Ngày 08/9/2023, anh T1 để xe ô tô BKS 99A-408.35 ở trước cửa nhà gần UBND xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh thì bị cán bộ Ngân hàng T3 thu giữ xe. Sau đó, anh T1 nhiều lần liên lạc yêu cầu N trả lại số tiền 623.500.000đ đã nhận nhưng N khất lần và sau đó tắt máy không liên lạc với anh T1 nữa. Ngày 22/10/2023 anh T1 làm đơn trình báo Cơ quan điều tra. Ngày 23/10/2023, N đến Cơ quan điều tra đầu thú.
* Việc thu giữ tài liệu, vật chứng:
- Ngày 22/10/2023 và ngày 06/4/2024, anh T1 giao nộp 01 bản photo cùng 01 bản gốc giấy bán, cho, tặng xe đề ngày 10/11/2022 có chữ ký của anh T1 và Dương Đình N (ký hiệu A); sao kê tài khoản ngân hàng V1 số 1022938143 từ ngày 14/11/2022 đến 20/12/2022, chủ tài khoản Nguyễn Tá T1; 02 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cùng số 019063 mang tên Dương Đình N cấp cho xe ô tô BKS 99A-408.35 cấp ngày 12/11/2020 (ký hiệu A1); 01 giấy chứng nhận kiểm định an toàn kỹ thuật và bảo vệ môi trường phương tiện giao thông cơ giới đường bộ (gọi tắt là giấy chứng nhận kiểm định) số KD: 8492971 cấp ngày 27/9/2021 (ký hiệu A2).
- Tạm giữ của Dương Đình N 01 điện thoại Iphone 15 Promax.
* Kết quả giám định:
- Tại kết luận giám định số 2139/KL-KTHS ngày 23/10/2023 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: 02 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô cùng số 019063, cấp ngày 12/11/2020 (ký hiệu A1) là giả, phương pháp làm giả: In phun màu; Giấy chứng nhận kiểm định số KD: 8492971, cấp ngày 27/9/2021 (ký hiệu A2) gửi giám định là thật.
- Tại Kết luận giám định số 1033/KL-KTHS ngày 19/4/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận:
- + Chữ ký, chữ viết dưới mục Bên mua, nhận cho tặng đứng tên "Nguyễn Tá T1" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Nguyễn Tá T1 trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.
- + Chữ ký, chữ viết dưới mục Bên bán, cho tặng đứng tên "Dương Đình N" trên tài liệu cần giám định (ký hiệu A) so với chữ ký, chữ viết của Dương Đình N trên tài liệu mẫu so sánh là do cùng một người ký, viết ra.
* Kết quả xác minh về chiếc xe ô tô Hyundai Santafe BKS 99A-408.35 xác định: Ngày 16/11/2020, Dương Đình N cùng vợ là Ngô Thị Hải Y ký hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô số 926/2020/HDTD/TTB MB4/01 với Ngân hàng T3, chi nhánh T4. Theo hợp đồng, vợ chồng N vay số tiền 560.000.000₫ của Ngân hàng T3. Để đảm bảo nghĩa vụ tại T3, vợ chồng N thế chấp cho T3 chiếc xe ô tô Hyundai Santafe BKS 99A-408.35, thời hạn vay là 72 tháng, kể từ ngày 18/11/2020 đến ngày 17/11/2026. Tuy nhiên, quá trình vay tiền có thế chấp xe ô tô, vợ chồng N - Y không thanh toán tiền gốc và tiền lãi cho ngân hàng (tính đến ngày 12/6/2023, nợ gốc là 511.796.840đ; nợ lãi là 139.184.920đ. Tổng dư nợ là 650.981.760đ) nên ngày 13/6/2023, Ngân hàng T3 có thông báo thu hồi nợ trước hạn và Quyết định thu giữ, xử lý tài sản bảo đảm là xe ô tô trên. Ngày
08/9/2023, tại UBND xã Y, huyện Y, cán bộ Ngân hàng T3 đã thực hiện thu giữ chiếc xe ô tô BKS 99A-408.35. Sau đó, Ngân hàng T3 mời N đến làm việc. N đồng ý bán chiếc xe ô tô trên cho người khác và dùng toàn bộ số tiền bán xe ô tô để thanh lý Hợp đồng số 926 ngày 16/11/2020 với Ngân hàng T3. Tính đến ngày 19/01/2024, N còn dư nợ Ngân hàng T3 theo Hợp đồng số 926 ngày 16/11/2020 là 169.082.371₫.
Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Dương Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bản thân như đã nêu ở trên.
Tại bản Cáo trạng số: 44/CT-VKSBN-P2 ngày 24/4/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố bị cáo Dương Đình N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b,c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Dương Đình N khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như cáo trạng đã truy tố, do cần tiền chi tiêu cá nhân nên bị cáo đã thế chấp chiếc xe ô tô Santafe đăng ký xe BKS 99A-408.35 đang được thế chấp tại ngân hàng T3 cho anh Nguyễn Tá T1 vay 300.000.000đ. Quá trình sử dụng xe, anh T1 đã 02 lần yêu cầu N đưa bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe để anh T1 đưa xe ô tô BKS 99A-408.53 đi đăng kiểm. Tuy nhiên, do bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô này đang bị ngân hàng T3 giữ để đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng N nên N đã 02 lần nhờ người làm mỗi lần 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 019063 cấp ngày 12/11/2020 giao cho anh T1. Bên cạnh đó, do không có tiền trả cho anh T1 nên N đã nhiều lần bảo anh T1 chuyển tiền cho N coi như N bán cho anh T1 chiếc xe ô tô BKS 99A-408.35. Tổng số tiền N nhận của anh T1 từ việc bán xe ô tô trên là 623.500.000đ. Bị cáo bị biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, cáo trạng truy tố bị cáo về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” là đúng người, đúng tội, không oan, đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Bị hại anh Nguyễn Tá T1 trình bày: bị cáo trình bày là đúng và xác nhận bị cáo N đã chiếm đoạt của anh số tiền là 623.500.000 đồng. Tuy nhiên, anh chỉ yêu cầu bị cáo N phải bồi thường trả lại anh số tiền 200.000.000 đồng và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.
Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Ngô Thị Hải Y trình bày: chị là vợ của bị cáo N, khi thế chấp xe ô tô để vay tiền Ngân hàng T3 thì chị có cùng N ký hợp đồng với Ngân hàng để vay số tiền hơn 600 triệu đồng. Đến nay, xe ô tô Ngân hàng đã thu hồi để xử lý nợ
giữa vợ chồng chị và Ngân hàng, chị nhất trí, không có ý kiến gì về chiếc xe nữa.
Chị Dương Thị P trình bày: Chị là chị gái của bị cáo N, chị đã tự nguyện nộp 50 triệu đồng vào Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh để khắc phục hậu quả cho bị cáo N. Chị không yêu cầu N phải hoàn trả số tiền này cho chị và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh phát biểu tranh luận: Giữ nguyên cáo trạng truy tố đối với bị cáo N về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 4 Điều 174, điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật hình sự. Sau khi phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đã đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Dương Đình N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, c khoản 2 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 của Bộ luật hình sự, xử phạt: Dương Đình N từ 12 năm đến 13 năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và từ 02 năm đến 2 năm 6 tháng tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt buộc Dương Đình N phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là từ 14 năm đến 15 năm 6 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.
Về hình phạt bổ sung, đề nghị miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự: Buộc Dương Đình N phải bồi thường cho anh Nguyễn Tá T1 số tiền 200.000.000 đồng. Đề nghị tạm giữ số tiền 50 triệu đồng gia đình bị cáo N đã nộp tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh.
Về xử lý vật chứng: Trả lại cho bị cáo Dương Đình N 1 chiếc điện thoại Iphone 15 promax màu ghi nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Luật sư Nguyễn Thị Thu T phát biểu quan điểm bào chữa cho bị cáo: nhất trí về tội danh và điều luật áp dụng như cáo trạng đã truy tố. Tuy nhiên, đề nghị HĐXX xem xét đến động cơ, mục đích phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, cho bị cáo N được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, 2 con còn nhỏ nên đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ mức án thấp hơn mức Viện kiểm sát đề nghị để bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời, sớm trở về với gia đình và xã hội.
Bị cáo N đồng ý với quan điểm của Luật sư, không bổ sung gì thêm.
Bị hại anh Nguyễn Tá T1 nhất trí với luận tội, không có ý kiến gì.
Những người liên quan là chị Y và chị P đều đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo N.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu đối đáp với quan điểm của luật sư: khẳng định bị cáo chỉ tác động gia đình bồi thường được 50 triệu đồng cho bị hại, số tiền này là rất nhỏ so với số tiền bị cáo đã chiếm đoạt của bị hại là 623.500.00 đồng nên theo quy định của pháp luật và hướng dẫn của Tòa án nhân dân tối cao thì bị cáo không đủ điều kiện để áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS nên Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm như đã luận tội.
Trong lời nói sau cùng, bị cáo biết việc làm của mình là sai, vi phạm pháp luật, bị cáo rất ăn ăn hối lỗi, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm quay về làm lại cuộc đời và lo cho gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đều đảm bảo đúng quy định của pháp luật.
[2]. Về tội danh, điều khoản áp dụng và hình phạt: Tại phiên tòa, bị cáo Dương Đình N đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bị cáo như Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng, kết luận giám định, định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Tháng 11/2020, Dương Đình N mua xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Santafe đăng ký xe BKS 99A-408.35 mang tên mình rồi ký hợp đồng cho vay kiêm thế chấp xe ô tô này với Ngân hàng T3, chi nhánh T4, TP Hà Nội vay 560.000.000đ, thời hạn hợp đồng đến ngày 17/11/2026. Khi chưa thanh lý hợp đồng với Ngân hàng T3, do cần tiền chi tiêu cá nhân, ngày 10/11/2022, tại thôn T, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh, N thế chấp xe ô tô này cho anh Nguyễn Tá T1 vay 300.000.000đ. Quá trình sử dụng xe, anh T1 đã 02 lần yêu cầu N đưa
bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe để anh T1 đưa xe ô tô BKS 99A-408.53 đi đăng kiểm. Tuy nhiên, do bản gốc giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô này đang bị ngân hàng T3 giữ để đảm bảo cho khoản vay của vợ chồng N nên N đã 02 lần nhờ người làm mỗi lần 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả số 019063 cấp ngày 12/11/2020 giao cho anh T1. Bên cạnh đó, do không có tiền trả cho anh T1 nên N đã nhiều lần bảo anh T1 chuyển tiền cho N coi như N bán cho anh T1 chiếc xe ô tô BKS 99A-408.35. Tổng số tiền N nhận của anh T1 từ việc bán xe ô tô trên là 623.500.000đ. Toàn bộ số tiền chiếm đoạt của anh T1, N đã sử dụng chi tiêu cá nhân hết. Ngày 08/9/2023, tại UBND xã Y, huyện Y, cán bộ Ngân hàng T3 đã thực hiện việc thu giữ chiếc xe ô tô BKS 99A-408.35 để xử lý nợ theo Hợp đồng giữa Ngân hàng T3 với với vợ chồng N. Vì vậy, ngày 22/10/2023, anh T1 làm đơn tố giác Nam gửi Cơ quan điều tra.
Do đó, có đủ căn cứ để xác định bị cáo Dương Đình N phạm các tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, c khoản 2 Điều 341 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh đã truy tố là phù hợp, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân; xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính, làm mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi của bị cáo cần xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
[3]. Xét nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo nhiều lần chiếm đoạt tiền của người bị hại nên phải chịu tình tiết tăng nặng "Phạm tội 02 lần trở lên" theo điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Ngoài ra, bị cáo 02 lần nhờ người làm giả giấy tờ mỗi lần 01 giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô giả nên phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là "Phạm tội 02 lần trở lên", do vậy bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự đối với tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo N đều thành khẩn khai báo, tỏ thái độ ăn năn, hối cải, bị cáo đã tra đầu thú, trước khi xét xử gia đình bị cáo đã nộp 50 triệu đồng để khắc phục hậu quả cho bị cáo, tại phiên tòa hôm nay bị hại là anh Nguyễn Tá T1 xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo đây là những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự cần xem xét giảm nhẹ một phần
hình phạt cho bị cáo khi lượng hình. Tuy nhiên, bị cáo cùng lúc phạm 2 tội trong đó có 01 tội thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng nên cần có hình phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Luật sư bào chữa cho bị cáo đề nghị cho bị cáo N được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 BLHS là không phù hợp pháp luật như Viện kiểm sát đã đối đáp.
Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo không có thu nhập, công việc ổn định nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo.
[4]. Về trách nhiệm dân sự: Đối với số tiền 623.500.000 đồng của anh Nguyễn Tá T1 do N đã chiếm đoạt về nguyên tắc cần buộc N phải trả lại anh T1 số tiền trên. Tuy nhiên, tại phiên tòa hôm nay anh T1 chỉ yêu cầu N phải trả lại cho anh số tiền là 200.000.000 đồng. Xét thấy yêu cầu này của anh Thế là tự nguyện và phù hợp pháp luật nên cần buộc bị cáo N phải trả cho anh T1 số tiền là 200.000.000 đồng.
[5]. Về xử lý vật chứng: Xét thấy chiếc điện thoại thu giữ của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo Dương Đình N 1 chiếc điện thoại Iphone 15 promax màu ghi nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
[6]. Liên quan trong vụ án:
Trong vụ án có người thanh niên tên C, theo lời khai của N là người đã 02 lần được N thuê làm giả giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô BKS 99A-408.35 cho N. Tuy nhiên, N chỉ biết C quê ở Thanh Hoá, không biết họ tên đầy đủ và địa chỉ cụ thể của C. Do đó, Cơ quan điều tra tách hành vi này của C ra để tiếp tục xác minh, khi nào làm rõ sẽ xem xét xử lý sau.
Đối với chị Ngô Thị Hải Y (vợ N) không biết việc N thế chấp xe ô tô BKS 99A-408.35 cho anh T1 để vay tiền nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý đối với chị Y là phù hợp.
Đối với khoản nợ 169.082.371 đồng giữa Dương Đình N và Ngân hàng T3, do ngân hàng T3 đã thu hồi chiếc xa Huyndai Santafe màu trắng mang BKS: 99A-408.35 để thu hồi khoản vay giữa N và ngân hàng, hơn nữa quan hệ vay tiền giữa N và Ngân hàng T5 là quan hệ dân sự nên Tòa án không xem xét giải quyết trong vụ án này.
[7] Về án phí: Bị cáo Dương Đình N phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố bị cáo Dương Đình N phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174; điểm b, c khoản 2 Điều 341, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 55 Bộ luật Hình sự; Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự, xử phạt: bị cáo Dương Đình N 12 (Mười hai) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và 02 (H) năm tù về tội “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt buộc Dương Đình N phải chấp hành hình phạt chung cho cả 02 tội là 14 (Mười bốn) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 23/10/2023.
Quyết định tạm giam bị cáo Dương Đình N 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để đảm bảo việc thi hành án.
- Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 584; 585; 586; 589 Bộ luật Dân sự: Buộc Dương Đình N phải bồi thường cho anh Nguyễn Tá T1 số tiền là 200.000.000 đồng (Hai trăm triệu đồng). Xác nhận gia đình bị cáo N đã nộp 50.000.000 đồng tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh theo biên lai thu tiền số 0001255 ngày 12/6/2024.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bên phải thi hành án không thi hành thì hàng tháng phải chịu một khoản lãi của số tiền chậm thi hành án theo quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015, tương ứng với thời gian chậm thi hành án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS
Trả lại bị cáo Dương Đình N 1 chiếc điện thoại Iphone 15 promax màu ghi nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
(Vật chứng có đặc điểm theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 85/2024 ngày 25/4/2024 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bắc Ninh).
- Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Buộc bị cáo Dương Đình N phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 7.500.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hữu Hòa |
11
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 05/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH về hình sự: lừa đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự: Lừa đảo chiếm đoạt tài sản và Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Dương Đình N phạm tội Lừa Đảo chiếm đoạt tài sản và làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức
