|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2024/HS-PT
Ngày: 11/12/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Hà;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Việt Hùng và bà Lê Thị Thái Lan;
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thành Quang, Thư ký viên Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng, Kiểm sát viên trung cấp.
Ngày 11 tháng 12 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 98/2024/TLPT-HS ngày 24 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo Trần Thị Mộng C, do có kháng cáo của bị hại đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên.
Bị cáo bị kháng cáo: Trần Thị Mộng C, sinh ngày: 16/6/1994, tại tỉnh Phú Yên. HKTT và chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên. Nghề nghiệp: Nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam. Con ông: Trần Kim T, sinh năm 1968 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1968; có 02 chị và 02 em. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
Người bị hại: Nguyễn Thị O, sinh năm 1994; nơi cư trú: Thôn P, xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên; Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trước đây bị cáo và Nguyễn Thị Mai T1 có quan hệ tình cảm với nhau, được một thời gian Trinh chấm dứt mối quan hệ với bị cáo. Sau đó bị cáo phát hiện T1 thường xuyên đi chơi với Nguyễn Thị O nên giữa bị cáo và Nguyễn Thị O đã xảy ra mâu thuẫn, xô xát. Ngày 29/12/2023 bị cáo nhận được tin nhắn từ một tài khoản facebook có tên Ngọc O1 với nội dung là các hình ảnh thân mật giữa O1 và T1. Bị cáo nghĩ O1 là chủ tài khoản facebook và cố ý muốn trêu chọc, khiêu khích mình nên nảy sinh ý định đánh O1. Khoảng 17h này 21/01/2024, sau khi ăn nhậu, bị cáo nhớ lại sự việc trên nên điều khiển xe mô tô biển số 78F1 – 26751 đến chợ P Ngoài, xã H mua một dao thái lan cất vào cốp xe. Khi đến nhà O1, bị cáo mở cốp xe lấy dao rồi đi về phía O1, thấy vậy nên O1 bỏ chạy ra phía sau nhà được một đoạn thì trượt ngã. Bị cáo chạy tới dùng một tay cầm tóc O1, tay còn lại kê dao vào cổ O1 và nói: Tao làm gì mày mà mày chụp hình với con T1 rồi gửi facebook cho tao, định chọc tức tao hở. Lúc này O1 dùng tay để đẩy bị cáo ra, hai bên giằng co nên con dao trên tay bị cáo trúng vào cằm của O1 gây thương tích. Thấy sự việc trên nên người nhà của O1 xông vào khống chế, hàng xóm lân cận nhà 01 nghe sự việc chạy vào can ngăn và bẻ gãy con dao, can ngăn hai bên. Bị cáo bỏ đi. Sau đó O1 đến trung tâm y tế khâu lại vết thương, đến Công an trình báo vụ việc và yêu cầu khởi tố vụ án.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 59 ngày 28/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận Nguyễn Thị O bị thương tích 02% do vật có cạnh sắt gây nên.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2024/HS-ST ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân huyện Tây Hòa, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Trần Thị Mộng C phạm tội “Cố ý gây thương tích”; Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 BLHS, điều 36 BLHS xử phạt bị cáo Trần Thị Mộng C 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.
Giao bị cáo Trần Thị Mộng C cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Trần Thị Mộng C có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện một số công việc theo quy định tại khoản 4 Điều 36 BLHS. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Về khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại Điều 36 Bộ luật hình sự, trong thời gian chấp hành án, người bị kết án bị khấu trừ thu nhập để sung ngân sách Nhà nước. Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, hiện nay đang bị bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, đây là loại bệnh về da nhưng rất nghiêm trọng cần phải chữa trị nên không thể lao động tạo thu nhập, đã có chỉ định của bác sĩ. Do đó không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo về việc tự nguyện khắc phục bồi thường cho bị hại 2.000.000 đồng theo biên lai nộp tiền số 0000369 ngày 02/7/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tây Hòa.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 27/9/2024, bị hại Nguyễn Thị O kháng cáo xem xét lại về tội danh của bị cáo và buộc bị cáo phải bồi thường thiệt hại cho bị hại số tiền 50.000.000đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị hại Nguyễn Thị O giữ nguyên kháng cáo và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo C; bị hại tự nguyện rút yêu cầu bồi thường dân sự do chưa cung cấp được chứng từ. Bị cáo, bị hại khai nhận tình tiết vụ án diễn ra như cấp sơ thẩm đã xét xử, bị cáo rất ăn năn hối hận, bị cáo không có hành vi thách thức, đe dọa bị hại, tại phiên tòa bị cáo tiếp tục xin lỗi bị hại.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị hội đồng xét xử căn cứ Điều 356 BLTTHS – Giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo. Đình chỉ một phần kháng cáo của bị hại do đã rút yêu cầu về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Do có mâu thuẫn từ trước cộng với việc hiểu lầm do ghen tuông mù quáng nên ngày 21/01/2024, bị cáo Trần Thị Mộng C đã tìm gặp bị hại Nguyễn Thị O và dùng dao thái lan kê vào vùng cổ và cằm của bị hại gây thương tích 2%. Bị hại Nguyễn Thị O kháng cáo cho rằng hành vi của bị cáo C chuẩn bị sẵn dao lao vào nhà bị hại tấn công bị hại, cầm dao kê vào vùng cổ là vùng xung yếu của bị hại nhưng do bị hại bỏ chạy và được mọi người can ngăn nên vết cắt trúng vùng cằm (dưới hàm dưới bên trái) gây thương tích. Tuy nhiên, bị hại cho rằng thương tích được kết luận 2% là không chính xác nên đề nghị xem xét lại tội danh và áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo. Xét kháng cáo của bị hại, HĐXX thấy rằng: tại Tờ điều trị của Trung tâm y tế huyện T (BL35) thể hiện thương tích của O “Vùng cổ (dưới hàm dưới bên trái) có vết thương #3*0,5cm, bờ sắc”. O đến Trung tâm y tế huyện T khâu vết thương rồi về nhà tự điều trị, không nằm viện. Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số 59/LTTTCT-PYPY ngày 28/02/2024 của Trung tâm pháp y tỉnh P kết luận Nguyễn Thị O bị thương tích 02% do vật có cạnh sắt gây nên. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử sơ thẩm, bị hại không ý kiến gì về kết luận giám định. Quá trình điều tra, lời khai của bị cáo tại biên bản ngày 12/3/2024 (BL62) thể hiện bị cáo cầm tóc sau đầu O kéo O đứng dậy dựa vào tường, tay phải cầm dao kê sát lưỡi dao vào vùng dưới cằm O và hăm dọa lớn tiếng. O cầm tay phải của C đẩy ra nên C đẩy vô lại làm lưỡi dao cắt vào vùng dưới cằm O rách da có chảy máu ra ít.....rồi mới được can ngăn. Tư thế đứng của C chếch về bên phải O, khi O bị túm tóc kéo ra sau Oanh ngửa cổ lên, C kê phần bén của lưỡi dao về phía dưới cằm của O, sau khi bị rách da thì O vẫn đứng yên, C vẫn đặt lưỡi dao dưới cằm của O chứ không cắt hay đâm O, khi được can ngăn, gỡ dao, gỡ tay khỏi tóc thì O bỏ chạy, phù hợp với lời khai của bị hại O từ BL89-99: “Cầm đòi giết O, dao cứa vào cổ O thì O cầm hai tay đang cầm dao của C lại và đứng im, C đòi giết cũng im lặng không dám nói lại và cũng không dám đẩy tay cầm dao của C ra vì sợ C bực tức cầm dao giết mình”, “Khi C chụp giữ tóc tôi kéo ngửa đầu về sau và kề lưỡi dao vô vùng dưới cằm bên trái của tôi thì tôi đứng im không phản kháng, chống cự lại Cầm, cũng không dám nói gì vì sợ C dùng dao Thái Lan gây thương tích cho tôi. Tôi nghĩ C dùng dao Thái Lan kề cổ tôi gây thương tích chứ nếu muốn giết tôi thì khi tôi bị té ngã, Cầm giữ đầu tóc của tôi thì đủ khả năng và thời gian dùng dao đâm vào người tôi hay cắt cổ cho tôi chết, C chỉ cầm dao kê lưỡi dao vào dưới vùng cằm và cứa gây thương tích chứ không đâm, chém hay cắt mạnh lưỡi dao vào vùng cổ của tôi”. Bản tự khai ngày 05/3/2024: O khai “bỏ chạy vấp ngã, tôi đứng dậy Cầm đuổi kịp đứng sau lưng tôi áp sát tôi vào tường còn tay phải cầm dao kê vào vùng cổ tôi cắt vào vùng cổ tôi làm chảy máu, tôi dùng 02 tay cầm lấy phần cổ tay phải của Cầm giữ chặt để C không gây thương tích nặng cho tôi....”. Như vậy, sau khi bị lưỡi dao cứa vào cằm chảy máu thì cha của chị O và người khác mới vào can ngăn, hành vi của C cũng không quyết liệt vì sau khi bị cứa chảy máu, O nắm giữ cổ tay của C thì C cũng chỉ chửi bới tục tĩu chứ không có hành động gì khác nữa để tấn công O. Lời khai của ông V không nghe C đòi giết O khi vô can ngăn, lúc can ngăn thì cha Cầm đang chen giữa C và O, tay cha O giữ tay cầm dao của C. Tại phiên tòa, bị hại O cũng thừa nhận hành vi của C khi cầm dao đe dọa, kê, cứa vào cằm của bị hại tuy có tính chất côn đồ nhưng bị cáo không quyết liệt hung hăn gây thương tích cho bị hại đến cùng mà bị cáo tự ý chấm dứt hành vi khi có người can ngăn và bị hại kêu la. Cấp sơ thẩm nhận định và xét xử bị cáo C về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Mặc dù tại cấp sơ thẩm, bị hại không yêu cầu bồi thường nhưng bị cáo đã tự nguyện bồi thường thiệt hại cho người bị hại, thể hiện bị cáo thật sự ăn năn hối hận về hành vi của mình. Về hình phạt, cấp sơ thẩm đã xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi của bị cáo gây ra: Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe và tinh thần của bị hại trái pháp luật mà còn gây mất trật tự trị an ở địa phương; thể hiện tính xem thường pháp luật. Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sự việc xảy ra do có mâu thuẫn từ trước giữa bị cáo và bị hại cộng với việc hiểu lầm do ghen tuông mù quáng, sau khi bị cáo dùng dao gây thương tích cho bị hại 2% thì bị hại kêu la và được mọi người can ngăn thì bị cáo không tiếp tục gây thương tích nào khác cho bị hại; bị cáo không có công việc ổn định, hiện nay đang bị bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, đây là loại bệnh về da nhưng rất nghiêm trọng đã có chỉ định của bác sĩ cần phải chữa trị. Do đó, cấp sơ thẩm xem xét đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo tại các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 36 BLHS xử phạt bị cáo hình phạt cải tạo không giam giữ là phù hợp tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra. Do đó, HĐXX không chấp nhận kháng cáo của bị hại, giữ nguyên Bản án sơ thẩm về hình phạt đối với bị cáo như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
[2] Về kháng cáo của bị hại yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm, tại cấp sơ thẩm bị hại không yêu cầu, bị hại kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu chứng cứ; tại phiên tòa phúc thẩm, bị hại tự nguyện rút yêu cầu kháng cáo, khi nào có tài liệu chứng cứ thì bị hại có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền giải quyết yêu cầu này bằng vụ kiện dân sự khác, do đó HĐXX đình chỉ giải quyết yêu cầu kháng cáo này.
[3] Bị hại không phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
[4] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo hoặc kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại – Giữ nguyên bản án sơ thẩm về hình phạt;
Tuyên bố: Bị cáo Trần Thị Mộng C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Về hình phạt: Áp dụng: Điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 36 BLHS.
Xử phạt: Bị cáo Trần Thị Mộng C 12 (mười hai) tháng cải tạo không giam giữ. Thời hạn cải tạo không giam giữ tính từ ngày cơ quan Thi hành án hình sự Công an huyện T nhận được quyết định thi hành án đối với bị cáo.
Giao bị cáo Trần Thị Mộng C cho Ủy ban nhân dân xã H, huyện T, tỉnh Phú Yên giám sát, giáo dục trong thời gian cải tạo không giam giữ. Gia đình bị cáo Trần Thị Mộng C có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Bị cáo phải thực hiện một số công việc theo quy định tại khoản 4 Điều 36 BLHS. Trường hợp người bị kết án đang chấp hành hình phạt thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự năm 2019.
Về khấu trừ thu nhập: Theo quy định tại Điều 36 Bộ luật Hình sự, trong thời gian chấp hành án, người bị kết án bị khấu trừ thu nhập để sung ngân sách Nhà nước. Xét thấy bị cáo không có công việc ổn định, hiện nay đang bị bệnh Lupus ban đỏ hệ thống, đây là loại bệnh về da nhưng rất nghiêm trọng cần phải chữa trị nên không thể lao động tạo thu nhập, đã có chỉ định của bác sĩ. Do đó không khấu trừ thu nhập đối với bị cáo.
2. Về bồi thường thiệt hại về sức khỏe:
Đình chỉ một phần kháng cáo của bị hại do đã rút yêu cầu về bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. Bị hại có quyền khởi kiện tại Tòa án có thẩm quyền để xem xét giải quyết yêu cầu bồi thường thiệt hại về sức khỏe bằng vụ án dân sự khác nếu có yêu cầu.
3. Về án phí:
Áp dụng Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
Bị hại không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm và dân sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Hà |
7
Bản án số 88/2024/HS-PT ngày 11/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 88/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 11/12/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: BỊ HẠI KC XX BỊ CÁO TỘI GIẾT NGƯỜI
