Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HS-PT

Ngày 01 - 08 - 2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Thái Hùng.

Các Thẩm phán: Ông Trần Minh Bắc.

Ông Đào Trọng Hải.

- Thư ký phiên tòa: Bà Đào Thị Lan Anh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa: bà Nghiêm Thị Lan Hương - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.

Ngày 01 tháng 08 năm 2024 tại Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 96/2024/TLPT-HS ngày 11 tháng 6 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 117/2024/HS-ST ngày 26 tháng 4 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu:

Bị cáo có kháng cáo:

Nguyễn Thanh T, sinh năm 1986 tại Bà Rịa – Vũng Tàu; nơi thường trú: ấp P, xã P, huyện Đ, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; chỗ ở: E L, phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hóa: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị H; vợ, con: không;

Tiền án: không, tiền sự: không;

Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2023 đến ngày 21/10/2023 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho gia đình bảo lĩnh (có mặt tại phiên tòa).

Ngoài ra trong vụ án có người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan nhưng không kháng cáo, không liên quan đến kháng cáo nên Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 09/10/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố V tiếp nhận tố giác tội phạm của bà Trần Thị Tuyết N về việc Nguyễn Thanh T cho bà N vay tiền với lãi suất cao, vượt mức lãi suất theo quy định của Nhà nước.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Thanh T khai nhận: do trước đó bà Trần Thị Tuyết N có chơi hụi do T làm chủ nên từ ngày 12/07/2022 đến ngày 06/06/2023, bà N đã vay T tổng số tiền 650.000.000 đồng dưới hình thức cho vay “đứng”, khoảng 10 ngày bà N phải đóng lãi cho T một lần với mức lãi suất từ 10% đến 30%/tháng theo thoả thuận từng khoản vay. Những lần đóng tiền, bà N đều chuyển khoản từ số tài khoản 0081001259271 mở tại Ngân hàng V và tài khoản 69698997799 mở tại Ngân hàng M qua số tài khoản 050069586624 của T mở tại Ngân hàng S. Tổng số tiền lãi T thu được là 290.000.000 đồng.

Số tiền thực tế T cho bà N vay là 250.000.000 đồng. Bà N vay trong khoảng thời gian dài, cứ trả khoản vay trước xong tiếp tục vay khoản sau nên T lấy tiền từ khoản trước đưa cho bà N vay tiếp. Bà N đã vay của T 06 lần. Hiện tại bà N còn nợ T số tiền gốc 200.000.000 đồng.

Cách tính tiền thu lợi bất chính được xác định như sau:

Theo qui định của Bộ luật dân sự: Tiền lãi do các bên thỏa thuận không được vượt quá 20%/01 năm.

  • Tiền lãi suất Nguyễn Thanh T thu được = tiền lãi trong 01 ngày x số ngày mà người vay đã đóng (tiền lãi trong 01 ngày = tiền lãi theo thoả thuận chia cho 30 ngày).
  • Tiền lãi suất được hưởng theo quy định của Nhà nước = phần trăm lãi theo quy định của Nhà nước (tức 20%:365 ngày = 0,05%/ngày) x số tiền vay x số ngày mà người vay đã đóng.
  • Tiền thu lợi chính = Tiền lãi đã thu - Tiền lãi được hưởng theo quy định

Cụ thể Nguyễn Thanh T cho bà Trần Thị Tuyết N như sau:

  • Lần thứ 1: vay 150.000.000 đồng, lãi suất 10%/tháng. Từ ngày 12/07/2022 đến ngày 10/09/2022 đã đóng lãi 30.000.000 đồng và trả 100.000.000 đồng tiền gốc, còn 50.000.000 đồng vay đến ngày 13/11/2022 đóng lãi 10.000.000 đồng. Trong đó, tiền lãi suất được phép theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là: 6.910.112 đồng, tiền thu lợi bất chính là: 33.089.888 đồng.
  • Lần thứ 2: vay 100.000.000 đồng, lãi suất 30%/tháng. Từ ngày 16/08/2022 đến 12/09/2022 đóng lãi 27.000.000 đồng, bà N đã trả hết tiền gốc. Trong đó, tiền lãi suất được phép theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là: 1.573.034 đồng, tiền thu lợi bất chính là: 25.426.966 đồng.
  • Lần thứ 3: vay 100.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng. Từ ngày 16/9/2022 đến 07/01/2023 đóng lãi 55.000.000 đồng, đã trả hết tiền gốc. Trong đó, tiền lãi suất được phép theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là: 6.404.494 đồng, tiền thu lợi bất chính là: 48.595.506 đồng.
  • Lần thứ 4: vay 100.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng. Từ ngày 16/11/2022 đến 13/01/2023 đóng lãi 30.000.000 đồng, bà N đã trả hết tiền gốc. Trong đó, tiền lãi suất được phép theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là: 3.314.607 đồng, tiền thu lợi bất chính là: 26.685.393 đồng.
  • Lần thứ 5: vay 100.000.000 đồng, lãi suất 15%/tháng. Từ ngày 28/01/2023 đến 06/06/2023 đóng lãi 60.000.000 đồng, bà N chưa trả tiền gốc. Trong đó, tiền lãi suất được phép theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là: 7.303.371 đồng, tiền thu lợi bất chính là: 52.696.629 đồng.
  • Lần thứ 6 : vay 100.000.000 đồng, lãi suất 30%/tháng. Từ ngày 18/03/2023 đến 06/06/2023 đóng lãi 78.000.000 đồng, bà N chưa trả tiền gốc. Trong đó, tiền lãi suất được phép theo quy định tại Khoản 1 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 là: 4.550.562 đồng, tiền thu lợi bất chính là: 73.449.438 đồng.

Như vậy, lãi suất mỗi ngày dao động từ 0.33% - 01%, tuỳ theo thoả thuận từng lần vay (gấp 06 - 18 lần so với lãi suất ngày theo quy định của pháp luật (0,05%/ngày).

  • Tiền lãi Nguyễn Thanh T đã thu của bà N là 290.000.000 đồng.
  • Tiền lãi được hưởng theo quy định của pháp luật là 30.056.180 đồng.
  • Nguyễn Thanh T thu lợi bất chính số tiền là: 290.000.000 - 30.056.180 đồng = 259.943.820 đồng.

Nguyễn Thanh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của bà Trần Thị Tuyết N và chứng cứ thu thập được.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng: Không

Trách nhiệm dân sự:

  • Bà Trần Thị Tuyết N yêu cầu Nguyễn Thanh T hoàn trả số tiền đã thu lợi bất chính là: 259.943.820 đồng.
  • Nguyễn Thanh T yêu cầu bà Trần Thị Tuyết N trả số tiền gốc còn nợ T là: 200.000.000 đồng.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 117/2024/HSST ngày 26/4/2024, Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu đã quyết định:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”; áp dụng Khoản 2 Điều 201, điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự; tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn tù được tính từ ngày chấp hành án nhưng được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 12/10/2023 đến ngày 21/10/2023.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo quy định.

Ngày 09/05/2024, bị cáo Nguyễn Thanh T có đơn kháng cáo xin hưởng án treo.

Tại phiên tòa phúc thẩm: bị cáo Nguyễn Thanh T đã khai nhận hành vi phạm tội đúng như nội dung bản án sơ thẩm đã xét xử và giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm cho bị cáo được hưởng án treo hoặc áp dụng hình phạt chính không phải hình phạt tù.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm xét xử vụ án: Về tố tụng: bị cáo có đơn kháng cáo trong thời hạn luật định, đảm bảo về hình thức và chủ thể kháng cáo, do đó kháng cáo của bị cáo là hợp lệ. Về nội dung: bản án sơ thẩm đã kết án bị cáo về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” là có căn cứ, đúng pháp luật. Tòa án cấp sơ thẩm tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (Bảy) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội và nhân thân của bị cáo. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo có cung cấp tài liệu thể hiện bị cáo đã tự nguyện thi hành bản án sơ thẩm về nộp lại số tiền bất chính là 50.000.000 đồng. Đây là tình tiết mới nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cho bị cáo. Xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà có thể áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền với mức hình phạt nghiêm khắc cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo theo hướng áp dụng hình phạt chính là phạt tiền đối với bị cáo.

Trong phần tranh luận, bị cáo không tranh luận gì, chỉ đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. [1] Về tố tụng: đơn kháng cáo của bị cáo làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định của pháp luật về chủ thể kháng cáo, hình thức và nội dung đơn kháng cáo. Do vậy, kháng cáo của bị cáo là hợp lệ, được Hội đồng xét xử xem xét giải quyết theo thủ tục phúc thẩm.
  2. [2] Về nội dung:
    • 2.1 Về tội danh: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và trong quá trình điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

      Trong khoảng thời gian từ giữa tháng 07/2022 đến đầu tháng 06/2023, Nguyễn Thanh T đã cho bà Trần Thị Tuyết N vay tiền với mức lãi suất khoảng 10% đến 30%/01 tháng, cao gấp từ 06 – 18 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự (1.66%/ tháng). T đã dùng số tiền gốc 200.000.000 đồng cho bà N vay xoay vòng tổng cộng 6 lần, tổng số tiền lãi đã thu là 290.000.000 đồng (số tiền thu lợi bất chính được xác định là 259.943.820 đồng). Hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Thanh T đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”. Căn cứ vào số tiền thu lợi bất chính, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên xử bị cáo Nguyễn Thanh T về tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự” theo Khoản 2 Điều 201 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017) là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

    • 2.2 Xét kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T, Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy:

      Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; xâm phạm đến hoạt động quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng. Hành vi phạm tội của bị cáo làm cho người vay tiền lâm vào hoàn cảnh khó khăn, gây bất bình trong quần chúng nhân dân, làm ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh phòng chống tội phạm và là nguyên nhân dẫn đến nhiều loại tội phạm khác. Bị cáo là người đã trưởng thành, nhận thức được hành vi của mình là sai trái, bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì lợi nhuận mà vẫn thực hiện. Do đó, cần có hình phạt phù hợp, tương xứng với hành vi phạm tội để đảm bảo tính răn đe, giáo dục riêng đối với bị cáo và bảo đảm phòng ngừa tội phạm chung.

      Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ là thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải theo quy định tại điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 07 (bảy) tháng tù là phù hợp với tính chất, mức độ và hành vi phạm tội của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo nộp biên lai thể hiện đã nộp một phần số tiền thu lợi bất chính là 50.000.000 đồng theo quyết định của bản án sơ thẩm, đây là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự nên cần áp dụng thêm cho bị cáo khi quyết định hình phạt.

      Xét thấy, theo tinh thần tại Khoản 2 Điều 3 Nghị quyết 01/2021/NQ-HĐTP ngày 20/12/2021 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao hướng dẫn Điều 201 của Bộ luật hình sự về việc xét xử vụ án hình sự về tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự có nội dung “Xem xét áp dụng nghiêm khắc hình phạt tiền là hình phạt chính đối với người thực hiện hành vi phạm tội. Trường hợp phạm tội có tính chất chuyên nghiệp, hoạt động dưới hình thức băng, ổ nhóm thì xem xét áp dụng hình phạt tù là hình phạt chính”. Đối chiếu với hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy rằng, hành vi của bị cáo là đơn lẻ, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, số tiền sử dụng vào việc cho vay không lớn, sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo đã tự nguyện nộp lại một phần số tiền thu lợi bất chính thể hiện thái độ ăn năn hối cải của mình. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm thấy không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi cuộc sống bình thường của xã hội mà chỉ cần áp dụng hình phạt chính là hình phạt tiền với mức hình phạt nghiêm khắc cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.

  3. [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  4. [4] Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án có hiệu lực từ ngày 01/01/2017.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Tuyên bố bị cáo “Nguyễn Thanh T” phạm tội “Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự”;
  2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355, điểm đ Khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thanh T, sửa quyết định của Bản án sơ thẩm số 117/2024/HS-ST ngày 26/4/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu về phần hình phạt;

    Áp dụng Khoản 2 Điều 201; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51; Điều 35 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), tuyên phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng sung quỹ Nhà nước.

  3. Tiếp tục tạm giữ giữ số tiền 50.000.000 đồng bị cáo Nguyễn Thanh T nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Vũng Tàu, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo Biên lai thu tiền số 0001373 ngày 31/7/2024 để đảm bảo thi hành án.
  4. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
  5. Bị cáo Nguyễn Thanh T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (01/08/2024).

Nơi nhận:

  • - TANDTC;
  • - TAND cấp cao tại TP.Hồ Chí Minh;
  • - VKSND tỉnh BR - VT;
  • - Sở Tư pháp tỉnh BR – VT;
  • - PV 27 – Công an tỉnh BR - VT;
  • - TAND thành phố Vũng Tàu;
  • - VKSND thành phố Vũng Tàu;
  • - Công an thành phố Vũng Tàu;
  • - Chi cục THA dân sự thành phố Vũng Tàu;
  • - Bị cáo; người tham gia tố tụng khác;
  • - Lưu, Tòa hình sự, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(đã ký)

Bùi Thái Hùng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-PT ngày 01/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU về cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

  • Số bản án: 88/2024/HS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 01/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA – VŨNG TÀU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thanh T phạm tội Cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger