TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày 21 - 8 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Văn Thái
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đỗ Thị Hoài Mơ
Ông Nguyễn Văn Chấn
- Thư ký phiên tòa: Bà Lưu Thị Trưng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang;
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Bình - Kiểm sát viên;
Ngày 21 tháng 8 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 82/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 88/2024/QĐXXST-HS ngày 06/8/2024 đối với các bị cáo:
1. Đặng Văn D, sinh năm 1999 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Nơi cư trú: Thôn B, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn D1 và bà Nguyễn Thị M; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
2. Phan Văn T, sinh năm 2001 tại huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Nơi cư trú: Thôn L, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang;
Nghề nghiệp: Tự do; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H và bà Hà Thị H1; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không có; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/3/2024 đến nay; hiện tại bị cáo đang bị tạm giam, có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Phạm Đăng T1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Thôn Đ, xã B, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 15 giờ 00 phút ngày 06/03/2024, Phạm Đăng T1 gọi điện cho Phan Văn T qua ứng dụng M1 hỏi mua 400.000 đồng tiền ma túy đá, T đồng ý và bảo T1 chuyển tiền vào tài khoản số 1888868338 tại Ngân hàng M2, T1 đã chuyển khoản 400.000 đồng cho T. Sau đó, T gọi điện thoại cho Đặng Văn D hỏi có ma túy đá không bán cho T1 400.000 đồng, D đồng ý. Dư gọi điện thoại cho người đàn ông tên N hỏi mua 500.000 đồng tiền ma túy đá thì người này đồng ý và hẹn D ra khu vực ngã ba thôn Đ, xã B, huyện L nhận ma túy. Do không có xe nên D sang nhà anh Phan Hoàng H2 ở cùng thôn hỏi mượn xe mô tô đi đến chỗ hẹn. Đến nơi D gặp một thanh niên không quen biết, D đưa cho người thanh niên số tiền 500.000 đồng, người này bảo D đi đến khu vực Nhà văn hóa thôn Đ, xã B, huyện L để lấy ma túy. Dư đi theo chỉ dẫn đến khu vực Nhà văn hóa thôn Đ, xã B chờ, một lúc sau người thanh niên đó đi tới ra hiệu cho D ra gốc cây ở gần đó lấy ma túy. Dư đi đến gốc cây nơi người thanh niên này chỉ thì thấy có một khẩu trang màu trắng được cuộn tròn, D nhặt khẩu trang lên thấy bên trong có 01 túi nilon màu trắng đựng ma túy đá, D cầm túi ma túy đút vào túi quần rồi đi về trả xe mô tô cho anh H2. Một lúc sau T đi xe mô tô đến nhà D, D cầm theo gói ma túy rồi T chở D đi về nhà T. Khi vào phòng ngủ của T ở tầng 2, D đưa cho T túi ni lon đựng ma túy, T xúc một phần ma túy cho vào coóng thủy tinh để sử dụng. Thấy số ma túy còn lại ít nên T bảo với D chỉ bán 300.000 đồng thôi, D đồng ý. T điện thoại cho T1 bảo chỉ còn 300.000 đồng tiền ma túy và T chuyển khoản trả lại cho T1 100.000 đồng, số tiền còn lại 300.000 đồng T chuyển khoản cho D. Sau đó, T bảo T1 đi ra Nhà văn hóa thôn L, xã B nhận ma túy, chờ một lúc không thấy T1 đến nên T để túi ni lon đựng ma túy ở chân tường vành lao Nhà văn hóa và gọi điện bảo cho T1 biết nơi cất giấu ma túy rồi đi về nhà. Trong lúc T đem ma túy đi bán, D đã sử dụng một phần số ma túy trong coóng thủy tinh, khi về T sử dụng hết số ma túy còn lại. Sau đó T lấy xe mô tô đưa D về nhà. Đến tối cùng ngày D đã chuyển khoản lại cho T 100.000 đồng tiền bán ma túy, số tiền bán ma túy T và D đã chi tiêu cá nhân hết.
Sau khi nhận được điện thoại của T, Phạm Đăng T1 đã đi đến khu vực Nhà văn hóa thôn L1, xã B lấy được 01 túi ni lon đựng ma túy để ở dưới chân tường vành lao đem về phòng trọ của T1 ở thôn Q, xã B, huyện L cất giấu. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày T1 lấy một ít ma túy ra cho vào cóong thủy tinh để sử dụng, T1 vừa sử dụng ma túy vừa chơi điện tử trên máy tính. Cùng lúc này Nguyễn Văn T2 đi đến phòng trọ của T1 chơi, T2 thấy coóng thủy tinh chứa ma túy để ở cạnh chân bàn máy tính nên T2 tự ý đến lấy và sử dụng ma túy. Khoảng 00 giờ 15 phút ngày 07/03/2024 thì có Nguyễn Văn L cũng đi đến phòng trọ của T1 chơi, đúng lúc này tổ công tác Công an huyện L phát hiện bắt quả tang, thu giữ vật chứng gồm: 01 túi nilon màu trắng, một đầu có rãnh khóa nhựa, viền màu đỏ bên trong bám dính chất tinh thể màu trắng (nghi là ma túy); 01 chai nhựa nhãn hiệu Dr.T3 màu đỏ bên trong chai nhựa có chất lỏng màu trắng, trên nắp chai đục 02 lỗ hình tròn gắn với 01 đoạn ống hút nhựa màu trắng và 01 cóong thủy tinh bên trong đựng chất tinh thể màu trắng đục (nghi là ma túy), tất cả được niêm phong trong hộp bìa cát tông ký hiệu “QT”. Ngoài ra còn thu giữ của Phạm Đăng T1 01 điện thoại Iphone 11 Pro màu vàng, 01 ví da màu đen bên trong có số tiền 4.015.000 đồng; thu giữ của Nguyễn Văn L 01 điện thoại Iphone 7 màu vàng; thu giữ của Nguyễn Văn T2 01 điện thoại Iphone 6s Plus.
Sau khi bắt quả tang, tổ công tác Công an huyện L đã tiến hành thu, niêm phong mẫu nước tiểu của T1 và T2 trong chai nhựa màu trắng ký hiệu lần lượt là M1, M2 để gửi giám định.
Ngày 07/03/2024, Đặng Văn D và Phan Văn T đến Công an huyện L đầu thú, khai nhận về hành vi bán chất ma túy cho Phạm Đăng T1. Dư giao nộp 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen; T giao nộp 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng.
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Đặng Văn D không phát hiện thu giữ gì liên quan đến vụ án.
Cùng ngày 07/3/2024, Cơ quan điều tra tiến hành trưng cầu giám định đối với chất nghi là ma túy và mẫu nước tiểu thu giữ của Phạm Đăng T1 và Nguyễn Văn T2.
Tại bản Kết luận giám định số 544/KL-KTHS ngày 13/3/2024, Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Trong 01 hộp bìa cát tông có ký hiệu "QT" đã được niêm phong gửi giám định:
- - Không tìm thấy chất ma tuý trong mẫu chất lỏng màu trắng đựng trong 01 chai nhựa nhãn hiệu "Dr Thanh" màu đỏ có nắp đậy.
- - Chất tinh thể màu trắng đục đựng trong 01 cóong thuỷ tinh (01 nắp nhựa đục 02 lỗ hình tròn gắn với 01 đoạn ống nhựa màu trắng và 01 cóong thuỷ tinh) là ma tuý, có khối lượng 0,031 gam, loại Methamphetamine.
- - Chất tinh thể màu trắng bám dính trong 01 vỏ túi ni lon màu trắng một đầu có rãnh khoá bằng nhựa, viền màu đỏ là ma tuý loại Methamphetamine, nhưng không xác định được khối lượng.
- - Trong 01 chai nhựa màu trắng, có nắp đậy, ký hiệu "M1" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng (nước tiểu) thu của Phạm Đăng T1.
- - Trong 01 chai nhựa màu trắng, có nắp đậy, ký hiệu "M2" đã được niêm phong gửi giám định: Tìm thấy chất ma túy Methamphetamine trong mẫu chất lỏng màu vàng (nước tiểu) thu của Nguyễn Văn T2 (BL 60-61).
Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh về người đàn ông tên N nhà ở thôn Đ, xã B, huyện L và người thanh niên đã bán ma túy cho Đặng Văn D nhưng không xác định được nên không có căn cứ để điều tra, xử lý.
Quá trình điều tra xác định T1 mua ma túy cất giấu với mục đích để sử dụng, khối lượng ma túy thu giữ được của T1 chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Cơ quan điều tra đã tiến hành kiểm tra việc sử dụng chất ma túy đối với Đặng Văn D, Phan Văn T, Phạm Đăng T1, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn L, kết quả: Tất cả đều dương tính với ma túy Methamphetamine. Ngày 10/7/2024, Công an huyện L đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Đăng T1, Đặng Văn D, Phan Văn T, Nguyễn Văn T2 và Nguyễn Văn L về hành vi nêu trên.
Việc anh Phan Hoàng H2 cho Đặng Văn D mượn xe mô tô, Phan Văn T tự ý lấy xe mô tô của chị Hà Thị H1 đi đón D thì anh H2 và chị H1 đều không biết D và T sử dụng xe mô tô vào việc mua bán trái phép chất ma túy nên Cơ quan điều tra không thu giữ 02 xe mô tô đó.
Tại bản Cáo trạng số 87/CT-VKS ngày 30 tháng 7 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang truy tố các bị cáo Đặng văn D2, Phan Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa:
- Các bị cáo Đặng Văn D, Phan Văn T đều nhất trí với nội dung bản Cáo trạng; các bị cáo bị khởi tố, truy tố, xét xử về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” là đúng người, đúng tội.
- Kiểm sát viên phát biểu luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo và đề nghị:
+ Áp dụng khoản 1 và khoản 5 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Đặng Văn D từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Phạt bổ sung mỗi bị cáo 5.000.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
+ Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “QT” bên trong có các đồ vật liên quan đến ma túy để tiêu hủy. Tịch thu của Đặng Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen, của Phan Văn T 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng, của Phạm Đăng T1 01 điện thoại Iphone 11 Pro màu vàng để sung vào công quỹ Nhà nước. Truy thu của Đặng Văn D 200.000 đồng, của Phan Văn T 100.000 đồng để sung vào công quỹ Nhà nước.
+ Các bị cáo Đặng Văn D, Phan Văn T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Các bị cáo Đặng Văn D, Phan Văn T nhất trí với lời luận tội và ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, các bị cáo không tự bào chữa và không có ý kiến tranh luận. Nói lời sau cùng bị cáo T nhận thức hành vi mua bán chất ma túy là sai, vi phạm pháp luật; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất để các bị cáo được sớm trở về với gia đình và xã hội; bị cáo D không nói gì.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên: Trong quá trình tiến hành tố tụng Điều tra viên, Kiểm sát viên thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn và các quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ai tố cáo, khiếu nại gì. Hội đồng xét xử kết luận hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên đều đúng quy định và hợp pháp.
[2] Căn cứ lời khai nhận tội của các bị cáo Đặng Văn D, Phan Văn T và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Ngày 06/3/2024, các bị cáo Đặng Văn D và Phan Văn T đã mua ma túy của người không quen biết đem bán cho đối tượng nghiện Phạm Đăng T1; ngày 07/3/2024 T1 đang có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy thì bị phát hiện bắt quả tang; khối lượng ma túy thu giữ được là 0,031 gam, loại Methamphetamine.
[3] Hành vi trên của các bị cáo Đặng Văn D, Phan Văn T là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về các loại chất gây nghiện, làm mất an ninh trật tự tại địa phương; các bị cáo đều là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Hành vi trên của các bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lục Nam truy tố các bị cáo Đặng Văn D, Phan Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 của Bộ luật Hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[4] Xét thấy ma túy là chất gây nghiện rất nguy hiểm, người nghiện ma túy sẽ bị tổn hại nghiêm trọng về sức khỏe; khi lên cơn nghiện, người nghiện ma túy không làm chủ được hành vi, có thể gây nguy hiểm cho người khác và xã hội; người sử dụng ma túy còn nguy hiểm đến tính mạng của bản thân, có nguy cơ lây lan căn bệnh HIV-AIDS; tệ nạn ma túy còn là mầm mống phát sinh ra nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta và cả cộng đồng thế giới đều tuyên truyền rộng rãi về tác hại của chất ma túy, thế nhưng các bị cáo không tiếp thu mà dấn thân vào con đường nghiện ngập dẫn đến phạm tội. Chứng tỏ các bị cáo rất coi thường kỷ cương pháp luật, coi thường tính mạng, sức khỏe của chính bản thân mình và của người khác. Động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo là nhằm thu lợi bất chính. Căn cứ vào tính chất của tội phạm, cần thiết phải xử phạt nghiêm khắc, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội để cải tạo, giáo dục các bị cáo là đúng với chính sách xử lý của pháp luật hình sự Nhà nước ta.
[5] Xem xét các tình tiết để quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử thấy:
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử các bị cáo Đặng Văn D, Phan Văn T luôn thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; khi biết hành vi phạm tội bị phát hiện các bị cáo đã ra đầu thú. Vì vậy, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trên quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
Các bị cáo cùng cố ý thực hiện một tội phạm, nhưng các bị cáo không có sự phân công nhiệm vụ hay bàn bạc tỉ mỉ, câu kết chặt chẽ với nhau nên không thuộc trường hợp phạm tội có tổ chức, trường hợp này chỉ là đồng phạm có tính chất giản đơn. Xét thấy bị cáo Phan Văn T là người trực tiếp giao dịch mua bán ma túy với đối tượng nghiện Phạm Đăng T1, còn bị cáo Đặng Văn D là người chuẩn bị ma túy để bán. Vì vậy vai trò của hai bị cáo là ngang bằng nhau.
Căn cứ vào khối lượng chất ma túy thu giữ được, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự mà các bị cáo được hưởng, hình phạt giành cho các bị cáo ở mức thấp của khung hình phạt là phù hợp với tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra.
[6] Theo quy định tại khoản 5 Điều 251 của Bộ luật Hình sự, ngoài hình phạt chính, các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ 5 triệu đồng đến 500 triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy các bị cáo đều là người nghiện ma tuý, không có việc làm thu nhập ổn định, không có tài sản riêng nên Hội đồng xét xử miễn phạt bổ sung đối với các bị cáo.
[7] Về vật chứng:
Chất ma túy thu giữ được là loại Methamphetamine có khối lượng nhỏ, quá trình giám định đã sử dụng hết mẫu vật. Đối với các đồ vật liên quan đến việc thu giữ chất ma túy như cóong thủy tinh, nắp nhựa, ống nhựa, túi ni lon, 01 chai nhựa nhãn hiệu Dr T3 có nắp đậy bên trong đựng chất lỏng màu trắng, tất cả được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “QT” cần phải tịch thu để tiêu hủy.
Đối với 03 chiếc điện thoại di động thu giữ của Đặng Văn D, Phan Văn T và Phạm Đăng T1. Xét thấy D, T và đã dùng điện thoại di động để liên lạc trong việc mua bán trái phép chất ma tuý nên cần phải tịch thu để sung vào công quỹ Nhà nước.
Đặng Văn D và Phan Văn T bán trái phép chất ma túy cho Phạm Đăng T1 thu được số tiền 300.000 đồng, trong đó D được hưởng 200.000 đồng, T được hưởng 100.000 đồng. Xét thấy khoản tiền trên D và T có được là do phạm tội mà có nên cần phải truy thu để sung vào công quỹ Nhà nước.
Đối với số tiền và điện thoại di động thu giữ của đối tượng liên quan, Cơ quan điều tra đã xử lý, trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[8] Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1- Áp dụng khoản 1 Điều 251, điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
1.1. Xử phạt bị cáo Đặng Văn D 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/3/2024).
1.2. Xử phạt bị cáo Phan Văn T 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”; thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07/3/2024).
2- Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- - Tịch thu toàn bộ các đồ vật gồm cóong thủy tinh, nắp nhựa, ống nhựa, túi ni lon, 01 chai nhựa nhãn hiệu Dr T3 có nắp đậy bên trong đựng chất lỏng màu trắng, tất cả được niêm phong trong 01 hộp bìa cát tông ký hiệu “QT” có đóng dấu của cơ quan giám định để tiêu huỷ.
- - Tịch thu của Đặng Văn D 01 điện thoại di động nhãn hiệu Redmi màu đen để sung vào công quỹ Nhà nước.
- - Tịch thu của Phan Văn T 01 điện thoại Iphone 8 Plus màu vàng để sung vào công quỹ Nhà nước.
- - Tịch thu của Phạm Đăng T1 01 điện thoại Iphone 11 Pro màu vàng để sung vào công quỹ Nhà nước.
- Những vật chứng trên có đặc điểm như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lục Nam.
- - Truy thu, buộc Đặng Văn D phải giao nộp số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), Phan Văn T phải giao nộp số tiền 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng) để sung vào công quỹ Nhà nước.
3- Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 6, điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội:
Các bị cáo Đặng Văn D, Phan Văn T, mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt có mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày tuyên án; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có 15 ngày kháng cáo kể từ ngày nhận được (hoặc ngày niêm yết) bản án xét xử vắng mặt./.
Nơi nhận:
| T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Hoàng Văn Thái |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 21/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG về hình sự - mua bán trái phép chất ma túy
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Mua bán trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/08/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC NAM, TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đặng Văn D và Phan Văn T có hành vi bán ma túy cho người khác, khối lượng ma túy thu giữ được là 0,031 gam, loại Methamphetamine.
