Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày: 21-11-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Âu Thị Kiều Sương.
  2. Ông Trịnh Hồng Hà.

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Duyên – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Hiền Mụi – Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 11 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 76/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 85/2024/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:

Nguyễn Văn L, sinh năm 2001 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Số C, ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre;

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 06/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Trương Thị Ngọc O; Bị cáo chưa có vợ và con.

Tiền án: Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Đã chấp hành xong án phạt tù vào ngày 03/9/2022. Chưa xóa án tích.

Tiền sự: Không.

Nhân thân của bị cáo:

  • + Ngày 07/11/2019, bị Công an xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre xử phạt 750.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong vào ngày 16/7/2021.
  • + Năm 2020, bị Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy. Đã chấp hành xong vào ngày 18/12/2020.
  • + Năm 2021, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời gian 12 tháng. Đã đình chỉ thi hành quyết định vào ngày 03/9/2021.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 02/5/2024, đến ngày 08/5/2024 chuyển tạm giam cho đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Bùi Trung H, sinh năm 1990; (Có yêu cầu vắng mặt) Nơi cư trú: số A, Khu phố A, phường P, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
  2. Bà Thái L1, sinh năm 1966; (Vắng mặt) Nơi thường trú: ấp G, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.
  3. Ông Võ Minh T1, sinh năm 2000; (Vắng mặt) Nơi thường trú: ấp A, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Người chứng kiến:

  1. Ông Huỳnh Văn H1, sinh năm 1963; (Vắng mặt) Nơi cư trú: số C ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.
  2. Ông Bùi Tiến T2, sinh năm 1989; (Vắng mặt) Nơi cư trú: số B, ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng chất ma tuý nên vào khoảng 17 giờ ngày 02/5/2024, Nguyễn Văn L sử dụng điện thoại di động hiệu Vivo của L gọi đến số điện thoại 0909.496.xxx cho người tên “M” hỏi mua 1.600.000 đồng ma tuý, “M” đồng ý và hẹn L đến khu vực cách vòng xoay xã M khoảng 200m thuộc ấp M, xã M, thành phố B, tỉnh Bến Tre để nhận ma tuý. L mượn xe mô tô nhãn hiệu SAVAHA, biển số 71K9-0357 của người bạn tên “TI” đi lấy ma túy. Đến nơi, L nhìn thấy “M” vứt túi ma tuý xuống đường rồi đi lại lấy số tiền 1.600.000 đồng của L. Sau đó, “M” bỏ đi, L đến nhặt một túi nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong có 08 đoạn ống nhựa màu hồng hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng do “M” vừa vứt xuống đường. Sau khi nhận được ma túy, L cất giấu túi ma tuý vào trong bóp màu nâu và bỏ vào túi quần phía trước bên trái rồi điều khiển xe mô tô đi về. Đến khoảng 20 giờ 20 phút cùng ngày, trên đường về đến khu vực đường H thuộc ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre, Công an huyện C phối hợp với Công an xã Q tuần tra, phát hiện L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý nên tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với L. Vật chứng thu giữ:

  • - 01 túi nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép vạch màu đỏ, bên trong có 08 đoạn ống nhựa màu hồng chứa tinh thể màu trắng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu VIVO, kiểu máy Vivo 1819, IMEI 1: 864484047726717, IMEI 2: 864484047726709, màu đỏ hồng, gắn một sim điện thoại của số thuê bao 0345.769.105.
  • - 01 bóp hình chữ nhật, màu nâu.
  • - Số tiền 2.000.000 đồng.
  • - 01 xe mô tô biển số 71K9-0357, nhãn hiệu SAVAHA, kiểu dáng WAVE a, màu sơn xanh đen, số khung VTTWCH0B4UM001153, số máy VTTJL1P52FMH-K001153.

Kết luận giám định số 365/2024/KL-KTHS ngày 05/5/2024 của Phòng K Công an tỉnh B kết luận: Tinh thể màu trắng đựng trong 08 đoạn ống nhựa màu hồng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 1,3238 gam. Hoàn lại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C tinh thể màu trắng sau giám định đã được niêm phong lại có khối lượng 1,2602 gam.

Cáo trạng số: 86/CT-VKSCT ngày 09/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Nguyễn Văn L tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L từ 02 năm đến 03 năm tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu, tiêu hủy:
    • + Một túi nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong có tám đoạn ống nhựa màu hồng hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng, qua giám định là chất ma túy loại Methamphetamine.
    • + Một bóp hình chữ nhật, màu nâu.
  • - Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: Một điện thoại di động hiệu VIVO, kiểu máy vivo 1819, IMEI 1: 864484047726717, IMEI 2: 864484047726709, màu đỏ hồng, gắn một sim điện thoại của số thuê bao 0345.769.105.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 2.000.000đ.
  • - Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C: 01 xe mô tô biển số 71K9-0357, nhãn hiệu SAVAHA, kiểu dáng WAVE a, màu sơn xanh đen, số khung VTTWCH0B4UM001153, số máy VTTJL1P52FMH-K001153.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố và tại lời nói sau cùng, bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người chứng kiến vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai rõ ràng trọng hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Lời khai nhận của bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu chứng cứ thu thập được trong quá trình điều tra như biên bản bắt người phạm tội quả tang; biên bản ghi lời khai những người chứng kiến; biên bản khám nghiệm hiện trường; kết luận giám định. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ để xác định: Vào khoảng 20 giờ 20 phút ngày 02/5/2024, tại khu vực đường H thuộc ấp Q, xã Q, huyện C, tỉnh Bến Tre, Nguyễn Văn L có hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý, loại Methamphetamine có khối lượng 1,3238 gam, mục đích để sử dụng.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, không chỉ làm ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi bị cáo phạm tội, mà còn gây tâm lý bất an trong quần chúng nhân dân, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo có năng lực trách nhiệm hình sự đầy đủ, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện để nhằm thỏa mãn nhu cầu sử dụng của cá nhân. Khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 1,3238 gam, loại: Methamphetamine. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ căn cứ kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Xét tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Năm 2021, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre kết án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, chưa được xóa án tích, mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên thuộc trường hợp “Tái phạm”, là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Xét tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Mặc dù bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự nhưng bị cáo có nhân thân xấu, lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm. Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng và bản tính xem thường pháp luật của bị cáo nên cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về xử lý vật chứng:

  • - Đối với một túi nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong có tám đoạn ống nhựa màu hồng hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng, qua giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,2602 gam cùng vỏ bao gói được niêm phong trong một phong bì số 365/2024 có chữ ký ghi rõ họ tên Hồ Trường V, Phan Trung T3, Nguyễn Ngọc M và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B, đây là chất ma túy cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 bóp hình chữ nhật, màu nâu là tài sản của bị cáo, bị cáo dùng để giấy tờ cá nhân và ma túy, bị cáo không có yêu cầu nhận lại nên tịch thu, tiêu hủy.
  • - Đối với 01 điện thoại di động hiệu VIVO, kiểu máy vivo 1819, IMEI 1: 864484047726717, IMEI 2: 864484047726709, màu đỏ hồng, gắn một sim điện thoại của số thuê bao 0345.769.105 được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT là tài sản của bị cáo dùng để liên lạc mua ma tuý, đây là phương tiện dùng vào việc phạm tội nên tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - Đối với số tiền 2.000.000₫ (Hai triệu đồng) là tiền cá nhân của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
  • - Đối với xe mô tô biển số 71K9-0357, nhãn hiệu SAVAHA, kiểu dáng WAVE a, màu sơn xanh đen, số khung VTTWCH0B4UM001153, số máy VTTJL1P52FMH-K001153 là phương tiện bị cáo dùng để đi mua ma túy. Do chưa xác định được chủ sở hữu xe nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre tiếp tục điều tra, xác minh, làm rõ chủ sở hữu và xử lý theo thẩm quyền.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng).

[9] Đối với đối tượng tên “M” bán ma túy cho bị cáo: quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn L phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

[1] Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn L 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 02/05/2024.

[2] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:

  • - Tịch thu, tiêu hủy:
    • + 01 (Một) túi nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ, bên trong có tám đoạn ống nhựa màu hồng hàn kín hai đầu chứa tinh thể màu trắng, qua giám định là chất ma túy loại Methamphetamine. Mẫu vật còn lại sau giám định là chất ma túy loại Methamphetamine, khối lượng 1,2602 gam cùng vỏ bao gói được niêm phong trong một phong bì số 365/2024 có chữ ký ghi rõ họ tên Hồ Trường V, Phan Trung T3, Nguyễn Ngọc M và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K Công an tỉnh B.
    • + 01 (Một) bóp hình chữ nhật, màu nâu.
  • - Tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước: 01 (Một) điện thoại di động hiệu VIVO, kiểu máy vivo 1819, IMEI 1: 864484047726717, IMEI 2: 864484047726709, màu đỏ-hồng, gắn một sim điện thoại của số thuê bao 0345769105, không gắn thẻ nhớ ngoài.
  • - Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn L số tiền 2.000.000 (Hai triệu) đồng.
  • - Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C: 01 (Một) xe mô tô gắn biển số 71K9-0357, nhãn hiệu SAVAHA, kiểu dáng WAVE a, màu sơn xanh đen, số khung VTTWCH0B4UM001153, số máy VTTJL1P52FMH-K001153, xe đã qua sử dụng, phía trước không có mặt nạ.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 14/11/2024 hiện Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre đang quản lý).

[3] Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Nguyễn Văn L phải chịu án phí hình sự sơ thẩm số tiền là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND T.Bến Tre;
  • - VKSND T.Bến Tre;
  • - Cơ quan THAHS CA T.Bến Tre;
  • - Sở Tư pháp T.Bến Tre;
  • - VKSND H.Châu Thành;
  • - Chi cục THADS H.Châu Thành;
  • - Công an H.Châu Thành;
  • - Bộ phận HS CA H.Châu Thành;
  • - UBND xã Tân Thạch, H.Châu Thành;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu: HS vụ án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thị Như Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE về hình sự sơ thẩm về tội "tàng trữ trái phép chất ma túy"

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Tàng trữ trái phép chất ma túy"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý Nguyễn Văn L
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger