|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN TỈNH HÀ NAM Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày 29 tháng 10 năm 2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đinh Văn An.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Quốc Tuấn và bà Nguyễn Thị Quyên.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương - Thư ký Toà án nhân dân huyện Lý Nhân.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân tham gia phiên tòa: Ông Đinh Mạnh Tuyển - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 10 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 81/2024/TLST-HS ngày 04 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 87/2024/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Trần Ngọc A,
sinh năm 1993, tại tỉnh Hà Nam; nơi cư trú: Thôn C, thị trấn V, huyện L, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn X và bà Trần Thị T; có vợ là Đoàn Thị Hải Y và có 02 con (Lớn sinh năm 2014, nhỏ sinh năm 2018); tiền án, tiền sự: Không; tạm giữ từ ngày 31/7/2024 và chuyển tạm giam từ ngày 06/8/2024 đến nay; có mặt.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn Đ; vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 31/7/2024, Tổ công tác của Công an xã Đ phối hợp với Tổ công tác xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam đang làm nhiệm vụ tuần tra tại thôn H, xã Đ, huyện L. Tổ công tác phát hiện Trần Ngọc A đang đi bộ có biểu hiện nghi vấn nên yêu cầu kiểm tra hành chính. Quá trình kiểm tra phát hiện trong cạp quần soóc phía trước của Trần Ngọc A đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng KT(0,5×1)cm bên trong chứa chất bột màu trắng dạng cục. Tại chỗ, A khai chất bột màu trắng dạng cục trong gói giấy là ma tuý, loại Heroine, vừa mua và cất giữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Trần Ngọc A, thu giữ 01 gói giấy bạc chứa chất bột màu trắng dạng cục (được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT01) và làm thủ tục bàn giao Trần Ngọc A cùng vật chứng đến Cơ quan Cảnh sát điều tra (sau đây viết tắt là: CSĐT) - Công an huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam để điều tra theo thẩm quyền.
Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở, đồ vật của Trần Ngọc Anh tại thôn C, thị trấn V, huyện L, Cơ quan CSĐT: Không phát hiện thu giữ đồ vật, tài sản có liên quan đến vụ án.
Tại bản kết luận giám định số 570/KL-KTHS ngày 05/8/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT01 gửi giám định là ma tuý, có khối lượng 0,170g (Không phẩy một trăm bảy mươi gam), loại: Heroine”.
Về nguồn gốc chất ma túy, theo Trần Ngọc A khai: Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 31/7/2024, A đi nhờ xe mô tô của người đi đường từ nhà đến khu vực thôn H, xã Đ, huyện L mua của một người đàn ông khoảng 40 tuổi (không biết nhân thân, lai lịch) đang ngồi trên xe máy (nhãn hiệu Honda Vision) 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng ma túy, loại Heroin đựng trong 01 gói giấy bạc màu trắng, sau đó giấu vào cạp quần phía trước bụng đang mặc rồi đi bộ tìm chỗ sử dụng thì bị lực lượng Công an phát hiện, bắt quả tang.
Về vật chứng: Số Heroine được Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam hoàn lại sau giám định niêm phong trong phong bì số 570/KL-KTHS ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01” được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam.
* Quá trình điều tra Trần Ngọc A đã khai nhận toàn bộ hành vi đã thực hiện.
Tại bản cáo trạng số 84/CT-VKS-LN ngày 04 tháng 10 năm 2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam đã truy tố Trần Ngọc A về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà sơ thẩm hôm nay:
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo như bản cáo trạng, không có ý kiến sửa đổi hoặc bổ sung. Sau khi phân tích tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cũng như yếu tố nhân thân của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử (Sau đây viết tắt là: HĐXX): Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự: Xử phạt Trần Ngọc A từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo; đồng thời đề xuất hướng xử lý vật chứng hiện đang thu giữ.
- Bị cáo Trần Ngọc A đã thừa nhận và khai báo toàn bộ diễn biến hành vi cất giấu trái phép chất ma tuý của bản thân vào chiều ngày 31/7/2024 đúng như nội dung bản cáo trạng đã mô tả. Bị cáo xác định rõ việc mua và cất giấu số ma tuý trên là để sử dụng cho bản thân, không có bất kỳ mục đích nào khác; bị cáo không có ý kiến tranh luận, bào chữa và hay khiếu nại gì và đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử: Đều thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục và căn cứ theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì đối với các hành vi, quyết định tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong các giai đoạn tố tụng đã thực hiện và ban hành đều hợp pháp, tuân thủ các nguyên tắc tố tụng, cũng như đảm bảo việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm được giao theo quy định.
[2] Về tội danh: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp với diễn biến nội dung vụ án được chứng minh tại biên bản bắt người có hành vi phạm tội quả tang, vật chứng thu giữ, kết luận giám định về ma tuý cũng như chính lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, ngoài ra còn phù hợp với lời khai của người tham gia tố tụng khác cùng các tài liệu, chứng cứ khác lưu được thu thập theo trình tự luật định, phản ánh đúng sự thật khách quan của vụ án.
Như vậy, đủ cơ sở pháp lý để kết luận: Hồi 14 giờ 10 phút ngày 31/7/2024 tại thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; Trần Ngọc A đã có hành vi cất giữ trái phép 0,170 gam chất ma tuý, loại Heroine với mục đích để sử dụng cá nhân thì bị Tổ công tác Công an xã Đ phối hợp với Tổ công tác Công an xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt quả tang.
Hành vi nêu trên của Trần Ngọc A đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lý Nhân, tỉnh Hà Nam truy tố đối với bị cáo là có căn cứ đảm bảo đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3]Về hình phạt:
- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, ảnh hưởng xấu tới tình hình an ninh trật tự tại địa phương, gây bức xúc trong nhân dân. Bị cáo là người đã có gia đình, cuộc sống ổn định, có đủ nhận thức về pháp luật nhưng lại thiếu ý thức trong rèn luyện, luôn thể hiện lối sống tự do, buông thả nên đã sa vào nghiện ngập ma túy, dẫn đến phạm tội. Vì vậy, cần thiết phải áp dụng hình phạt tù nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mới có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người tốt, cũng như tác dụng phòng ngừa tội phạm chung trong xã hội.
+ Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
+ Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa Trần Ngọc A đều thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân, đồng thời thể hiện sự ăn năn hối cải trước pháp luật. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự bị cáo được hưởng theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. HĐXX sẽ cân nhắc tình tiết này để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, tạo điều kiện cho bị cáo yên tâm cải tạo, sóm tái hòa nhập cộng đồng cũng như thấy được tính nhân đạo của pháp luật đối với người phạm tội.
Xét thấy cần tiếp tục tạm giam đối với bị cáo để đảm bảo thi hành án hình sự nên quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án theo Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Hình phạt bổ sung: Xét điều kiện, hoàn cảnh và mục đích phạm tội của bị cáo không để thu lợi bất chính nên không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Điều 35 và khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự.
[4] Về xử lý vật chứng: 01 (một) Phong bì niêm phong số 570/KL-KTHS, mặt trước ghi là "Mẫu vật hoàn trả QT01" của Phòng Kỹ thuật hình sự -Công an tỉnh Hà Nam hoàn trả sau giám định, là chất Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên tịch thu và tiêu huỷ.
[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[6] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7] Về các vấn đề khác: Đối tượng đã bán ma tuý cho Trần Ngọc A như bị cáo đã khai. HĐXX thấy do chỉ có duy nhất lời khai của bị cáo và thông tin không đầy đủ, ngoài ra không còn tài liệu, chứng cứ nào khác để chứng minh, nên Cơ quan CSĐT - Công an huyện Lý Nhân không có căn cứ điều tra, xác minh làm rõ để xử lý người này theo quy định của pháp luật, do đó HĐXX không đề cập.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Ngọc A phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.
Xử phạt: Bị cáo Trần Ngọc A 20 (Hai mươi) tháng tù. Thời hạn chấp hành án phạt tù tính từ ngày 31/7/2024.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu và tiêu huỷ 01 phong bì niêm phong số 570/KL-KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam ghi “Mẫu vật hoàn trả QT01”.
(Tình trạng, đặc điểm vật chứng như biên bản giao, nhận vật chứng giữa cơ quan CSĐT - Công an huyện Lý Nhân với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lý Nhân ngày 07/10/2024).
3.Căn cứ Điều 135, 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Toà án.
- Bị cáo Trần Ngọc A phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.
- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đinh Văn An |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 29/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma tuý
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 29/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÝ NHÂN, TỈNH HÀ NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Hồi 14 giờ 10 phút ngày 31/7/2024 tại thôn H, xã Đ, huyện L, tỉnh Hà Nam; Trần Ngọc A đã có hành vi cất giữ trái phép 0,170 gam chất ma tuý, loại Heroine với mục đích để sử dụng cá nhân thì bị Tổ công tác Công an xã Đ phối hợp với Tổ công tác Công an xã B, huyện L, tỉnh Hà Nam phát hiện, bắt quả tang.
