Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN B

TỈNH HÀ NAM

Bản án số: 88/2024/HS-ST

Ngày: 28/10/2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Ông Đặng Trần Anh Dũng.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Chu Minh Đức và ông Nguyễn Đức Long.

- Thư ký phiên toà: Bà Lữ Thu Thùy Dung – Thư ký Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Tuấn Linh – Kiểm sát viên.

Trong ngày 28/10/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 79/2024/HS-ST ngày 02/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2024/QĐXXST – HS ngày 14/10/2024 đối với bị cáo:

Trịnh Minh T, sinh năm 1991 tại xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; giới tính: Nam; nơi đăng ký thường trú và nơi ở trước khi bị tạm giữ, tạm giam: Thôn x, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Đảng, đoàn: Không; con ông Trịnh Minh Th và bà Nguyễn Thị L; vợ con: Chưa có.

Tiền án: Ngày 15/9/2021, Trịnh Minh T bị TAND thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế, xử phạt 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 tháng về tội “Chống người thi hành công vụ” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 56/2021/HSST; Chấp hành xong thời gian thử thách của án treo ngày 15/9/2023.

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 27/7/2024, chuyển tạm giam từ ngày 02/8/2024; hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện B. (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 09 giờ ngày 27/7/2024, bị cáo Trịnh Minh T đi bộ một mình từ nơi ở với mục đích đi xuống thành phố N, tỉnh Nam Định tìm mua ma túy Heroine về sử dụng cho bản thân. Trên đường đi, T xin đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đi đến khu vực siêu thị Go thuộc thành phố N, tỉnh Nam Định. Tại đây, T xuống xe đi bộ được một đoạn đường thì gặp và mua của một người đàn ông không quen biết đang đứng một mình ở lề đường 17 gói ma túy Heroine đều được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng với giá 1.500.000 đồng. Khi nhận ma túy T không mở ra xem mà bỏ vào trong túi quần phía trước bên phải đang mặc. Sau đó T lại đi nhờ xe mô tô của một người đàn ông không quen biết đi về. Khi đi về đến đoạn đường bê tông thuộc thôn x, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam thì T xuống xe đi bộ. Đi được một đoạn; T bị Tổ công tác Công an huyện B, tỉnh Hà Nam phối hợp cùng Công an xã A, huyện B yêu cầu kiểm tra. T tự giác lấy từ túi quần phía trước, bên phải, đang mặc ra 17 gói đều được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng; bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục giao nộp cho lực lượng Công an và khai nhận đó là 17 gói Heroine mà T cất giữ để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã đưa T cùng tang vật thu giữ về Ủy ban nhân dân xã A lập biên bản bắt người phạm tội quả tang.

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang: 17 gói đều được gói ngoài bằng giấy bạc màu vàng, bên trong mỗi gói đều chứa chất bột màu trắng dạng cục do Trịnh Minh T tự giác giao nộp, được niêm phong trong phong bì ký hiệu QT.

Cơ quan CSĐT Công an huyện B đã tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trịnh Minh T tại thôn x, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam nhưng không thu giữ được đồ vật, tài sản, tài liệu gì có liên quan đến vụ án.

Tại Bản kết luận giám định số 563/KL-KTHS ngày 31/7/2024 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam, kết luận: “Mẫu bột màu trắng dạng cục trong phong bì ký hiệu QT gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,549g (Không phẩy năm trăm bốn mươi chín gam), loại Heroine (Heroin).

Tại Cáo trạng số 80/CT - VKS - MT ngày 30/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện B đã truy tố Trịnh Minh T về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện B, tỉnh Hà Nam đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: Điểm c khoản 1 Điều 249, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Tuyên bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo từ 03 năm tù đến 03 năm 06 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Tịch thu tiêu huỷ số ma túy cùng bao gói mẫu vật còn lại sau giám định.

Tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận hành vi tàng trữ Heroine để sử dụng như Cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

  1. Về các quyết định tố tụng của Cơ quan CSĐT Công an huyện B; Viện kiểm sát nhân dân huyện B và hành vi tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án là đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; bị cáo không có khiếu nại gì về quyết định tố tụng, hành vi tố tụng.
  2. Về tội danh: Hành vi tàng trữ 0,549 gam ma túy, loại: Heroine với mục đích sử dụng bị Lực lượng Công an bắt quả tang vào khoảng 10 giờ ngày 27/7/2024 tại đoạn đường bê tông thôn x, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam của bị cáo Trịnh Minh T đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự.
  3. Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

    - Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo được hưởng tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

    - Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, bị cáo phải chịu tình tiết “Tái phạm” được quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

  4. Về hình phạt: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; vi phạm chế độ độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma túy. Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp “Tái phạm” vì vậy Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt tù, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.

    Hội đồng xét xử cũng xem xét đến nhân thân, khối lượng ma túy bị cáo tàng trữ cũng như hoàn cảnh gia đình của bị cáo để quyết định mức hình phạt.

  5. Về hình phạt bổ sung: Căn cứ biên bản xác minh tài sản của Cơ quan CSĐT Công an huyện B, xét bị cáo không có tài sản nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
  6. Về xử lý vật chứng của vụ án: Xét số ma túy còn lại sau giám định là vật cấm tàng trữ, lưu hành do vậy cần tịch thu tiêu hủy.
  7. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định.
  8. Các tình tiết khác liên quan đến vụ án: Căn cứ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thấy không có đủ căn cứ để xác định làm rõ nguồn gốc ma túy, đối tượng bán ma túy cho bị cáo T và những người đàn ông cho T đi nhờ xe mô tô.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47 Bộ luật Hình sự.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội khoá 14.

  1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Minh T phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy".
  2. Xử phạt bị cáo Trịnh Minh T 03 (ba) năm tù. Thời hạn hấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt, tạm giữ (ngày 27/07/2024).
  3. Về vật chứng: Tịch thu tiêu huỷ số ma túy còn lại sau giám định được đựng trong phong bì niêm phong có số 563/KTHS của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam. Vật chứng được xác định theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 01/10/2024 giữa Cơ quan CSĐT Công an huyện B và Chi cục Thi hành án dân sự huyện B.
  4. Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trịnh Minh T phải nộp 200.000 đồng.

Án xử công khai; báo cho bị cáo biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tối cao (Vụ Giám đốc kiểm tra I);
  • - TAND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND tỉnh Hà Nam;
  • - VKSND huyện B;
  • - Công an huyện B;
  • - Nhà tạm giữ Công an huyện B;
  • - Chi cục THADS huyện B;
  • - UBND xã A;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu hồ sơ và văn phòng.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà

Đặng Trần Anh Dũng

(đã ký)

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 28/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 88/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN B, TỈNH HÀ NAM
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: bị cáo: Trịnh Minh T, sinh năm 1991 ; nơi đăng ký thường trú và nơi ở trước khi bị tạm giữ, tạm giam: Thôn x, xã A, huyện B, tỉnh Hà Nam
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger