TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG Bản án số: 88/2024/HS-ST Ngày 10-7-2024 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Khương.
Ông Nguyễn Văn Hương
- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Đức Trung - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Ngọc Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 91/2024/TLST-HS ngày 20 tháng 6 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 91/2024/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 6 năm 2024 đối với các bị cáo:
- PDT, sinh ngày 10 tháng 10 năm 1970 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số 10/104 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số 02 D, phường E, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 1/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông F và bà G (đều đã chết); có vợ là H, sinh năm 1974 (đã ly hôn); có 02 con, con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2004; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 10/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng ra Quyết định khởi tố bị can số 309 đối với PDT về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự; bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2023, chuyển tạm giam ngày 03/01/2024; có mặt.
- PVB, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1962 tại Hải Phòng; nơi ĐKHKTT: Số 42/10 I, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nơi cư trú: Số 02 D, phường E, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 1/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông J và bà K (đều đã chết); có vợ là L, sinh năm 1963; có 01 con sinh năm 1986 (đã chết); tiền án, tiền sự: Không, nhân thân: Tại Bản án số 149/HSSTngày 30/8/1980, Toà án nhân dân khu phố Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt Cảnh cáo về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, không có thông tin thụ lý thi hành án đối với người phải thi hành án; Bản án sơ thẩm số 69/HSST ngày 16/5/2001 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng và bản án phúc thẩm số 117/HSPT ngày 17/7/2001 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/5/2001, đã chấp hành xong hình phạt tù và thời gian thử thách của án treo; Bản án số 61/HSST ngày 30/7/2004, Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/6/2007, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/10/2009 (đều đã xoá án tích); bị bắt tạm giữ từ ngày 26/12/2023, chuyển tạm giam ngày 03/01/2024; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 4 giờ 40 phút ngày 26/12/2023, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an phường Sở Dầu tiến hành kiểm tra hành chính đối với nơi ở PDT tại nhà số 02 D, phường E, quận C, thành phố Hải Phòng, phát hiện PDT và PVB có dấu hiệu vừa sử dụng ma tuý đá xong, phát hiện thu giữ tại gầm tủ gác lửng: 01 chai nhựa có nắp màu xanh, tại nắp chai có gắn 01 ống nhựa hai đầu và 01 ống tẩu bằng thuỷ tinh bám dính tạp chất màu nâu đen nghi chất ma tuý (mẫu KT). Ngoài ra, Cơ quan công an còn phát hiện thu giữ các đồ vật, tài sản trong nhà của PDT gồm: 01 xe mô tô nhãn hiệu HONDA Dream biển kiểm soát 34N7 – 9465; 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter Gravita biển kiểm soát 15B2 - 661.22; 05 chiếc biển kiểm soát xe mô tô gồm 15AE - 014.95, 27AA - 073.93, 29K8 - 8545, 16F6 - 3783, 15AN - 006.12; 06 giấy đăng ký xe moto; 02 chứng minh thư nhân dân (tình trạng đều rách nát, không còn nguyên vẹn); 01 kìm cộng lực; 02 thanh kim loại dạng trụ tròn rỗng dài 40cm. Lực lượng công an đã lập biên bản kiểm tra, biên bản tạm giữ tài sản, đồ vật, tài liệu và đưa PDT, PVB về trụ sở làm việc.
Tại bản Kết luận giám định số 1081/KL - KTHS ngày 31/12/2023 của Phòng kĩ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng kết luận: “Tìm thấy chất ma tuý Methamphetamine có trong chai nhựa và tẩu thuỷ tinh của mẫu vật gửi giám định, không đủ điều kiện xác định khối lượng chất ma tuý”.
Tiến hành xét nghiệm mẫu nước tiểu của PDT kết quả dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine; nước tiểu của PVB dương tính với chất ma tuý loại Methamphetamine và Morphine.
Căn cứ tài liệu điều tra, Cơ quan điều tra đã thi hành lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với PDT và PVB.
Tại cơ quan điều tra, PDT khai nhận: Do bản thân nghiện ma tuý đá nên khoảng 1 giờ ngày 26/12/2023, PDT rủ PVB cùng sử dụng ma tuý đá sau đó đưa cho PVB số tiền 300.000 đồng để PVB đi mua ma tuý đá về cùng nhau sử dụng; PVB đồng ý và đi mua ma tuý. Sau khi mua được ma tuý, PVB mang về nhà đưa cho PDT để PDT tự đổ vào bộ sử dụng ma tuý và sử dụng trước, sau đó đến lượt PVB sử dụng, cả hai sử dụng ma tuý xong thì đi ngủ đến khoảng 4 giờ sáng cùng ngày lực lượng công an đã lập biên bản kiểm tra, phát hiện như nội dung trên. Nguồn gốc số tiền PVB sử dụng để mua ma tuý là của PDT do lao động mà có.
PVB khai nhận phù hợp với lời khai của PDT, ngoài ra PVB khai: Sau khi nhận tiền PDT đưa, PVB một mình đi đến khu vực R gặp và mua của 01 người nữ giới không quen biết 300.000 đồng được 01 túi nilon chứa ma tuý đá và 200.000 đồng được 01 gói giấy chứa Heroin (mục đích để tự sử dụng cho bản thân do PVB nghiện heroin). Sau khi mua được ma tuý, PVB mang về nhà và đưa cho PDT đổ ma tuý đá vào bộ sử dụng ma tuý, PVB một mình lên gác xép tự sử dụng số ma tuý heroine, sau đó cùng PDT sử dụng ma tuý đá như nội dung trên.
Lời khai nhận tội của các bị cáo PDT và PVB phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lời khai của người chứng kiến, các bản Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Vật chứng của vụ án: 01 (một) hộp giấy dán kín trong có 01 chai nhựa có nắp ren xoáy đậy, 01 đoạn ống nhựa, 01 tẩu thuỷ tinh hoàn lại sau giám định có dấu niêm phong số 1081MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.
Tại Bản Cáo trạng số 67/CT-VKSHB ngày 20/6/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng đã truy tố các bị cáo PDT và PVB về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, các bị cáo PDT và PVB đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lời khai của người chứng kiến, các bản Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo PDT với mức án từ 36 đến 42 tháng tù; xử phạt PVB từ 36 đến 42 tháng tù đều về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo do bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng.
Về vật chứng vụ án: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu tiêu hủy: 01(một) hộp giấy dán kín trong có 01 chai nhựa có nắp ren xoáy đậy, 01 đoạn ống nhựa, 01 tẩu thuỷ tinh hoàn lại sau giám định có dấu niêm phong số 1081MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.
Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng, Kiểm sát viên:
[1] Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Về tội danh:
[2] Tại phiên tòa, các bị cáo PDT và PVB đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung nêu trên, lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với nhau, phù hợp với biên bản kiểm tra, biên bản giữ người trong trường hợp khẩn cấp, lời khai của người chứng kiến, các bản Kết luận giám định, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ, đủ cơ sở kết luận: Vào ngày 26/12/2023, tại số 02 Đại Sơn Nam, phường E, quận C, thành phố Hải Phòng, PDT và PVB đã có hành vi cùng nhau chuẩn bị để cùng sử dụng trái phép chất ma tuý, cụ thể: PDT là người khởi xướng, đưa cho PVB 300.000 đồng để PVB đi mua ma tuý, sau đó PDT là người đổ ma tuý vào bộ dụng cụ sử dụng (có sẵn ở nhà PDT) để PDT, PVB cùng sử dụng ma tuý thì bị lực lượng Công an kiểm tra phát hiện bắt giữ. Tại thời điểm thực hiện hành vi (ngày 26/12/2023), các bị cáo là người trên 18 tuổi, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp. Như vậy, hành vi của các bị cáo PDT, PVB đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. Viện Kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật áp dụng là có cơ sở và đúng quy định của pháp luật.
- Đánh giá về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội:
[3] Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền của Nhà nước về quản lý chất ma tuý, xâm phạm trật tự trị an xã hội, làm phát sinh, gia tăng nhiều loại tội phạm hình sự khác.
- Xét về nhân thân của các bị cáo:
[4] Bị cáo PVB có 03 tiền án: Tại Bản án số 149/HSSTngày 30/8/1980, Toà án nhân dân khu phố Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt Cảnh cáo về tội Trộm cắp tài sản xã hội chủ nghĩa, không có thông tin thụ lý thi hành án đối với người phải thi hành án; Bản án sơ thẩm số 69/HSST ngày 16/5/2001 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng và bản án phúc thẩm số 117/HSPT ngày 17/7/2001 của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 16/5/2001, đã chấp hành xong hình phạt tù và thời gian thử thách của án treo; Bản án số 61/HSST ngày 30/7/2004, Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý, chấp hành xong hình phạt tù ngày 09/6/2007, thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 10/10/2009 (đều đã xoá án tích), bị cáo PDT không có tiền án, tiền sự; tuy nhiên về nhân thân ngày 10/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng ra Quyết định khởi tố bị can số 309 đối với PDT về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, nên cần đánh giá các bị cáo đều có nhân thân xấu, không từ bỏ con đường phạm tội.
- Xét vai trò của các bị cáo và hình phạt:
[5] Các bị cáo PDT và PVB thực hiện hành vi đồng phạm giản đơn trong việc tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý. Đối với bị cáo PDT là người khởi xướng rủ rê, đưa cho PVB 300.000 đồng để PVB đi mua ma tuý, sau đó PDT trực tiếp đổ ma tuý vào bộ dụng cụ sử dụng (có sẵn ở nhà PDT), là địa điểm để PDT, PVB cùng sử dụng. Đối với bị cáo PVB tiếp nhận ý chí khi PDT rủ rê, trực tiếp đi mua ma túy, như vậy vai trò của bị cáo PDT cao hơn bị cáo PVB; tuy nhiên trong vụ án này cần phải đánh giá bị cáo PVB có nhân thân xấu, đã có 3 tiền án nhưng đều đã được xóa án tích. Bị cáo PDT chưa có tiền án tiền sự; nhân thân ngày 10/06/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng ra Quyết định khởi tố bị can số 309 về hành vi “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét các bị cáo đều có nhân thân xấu; xét xử các bị cáo mức án nghiêm và ngang bằng nhau là phù hợp cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục, phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:
[6] Các bị cáo PDT và PVB không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
[7] Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo PDT và PVB có thái độ khai báo thành khẩn, nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
[8] Căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, tình tiết giảm nhẹ, trên cơ sở đề nghị của Kiểm sát viên và kết quả xét hỏi, tranh tụng tại phiên tòa; sau khi xem xét các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn, bắt các bị cáo phải tiếp tục chấp hành tại cơ sở giam giữ trong một thời hạn nhất định mới có đủ điều kiện giáo dục bị cáo và phát huy tác dụng răn đe, đáp ứng yêu cầu phòng ngừa chung.
- Về hình phạt bổ sung:
[9] Căn cứ biên bản hỏi cung và xét hỏi tại phiên tòa cho thấy các bị cáo không có tài sản, không có nghề nghiệp ổn định, là đối tượng nghiện ma túy, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.
- Về xử lý vật chứng:
[10] Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy dán kín trong có 01 chai nhựa có nắp ren xoáy đậy, 01 đoạn ống nhựa, 01 tẩu thuỷ tinh hoàn lại sau giám định có dấu niêm phong số 1081MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng.
- Về án phí:
[11] Các bị cáo PDT và PVB mỗi bị cáo đều phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo đối với bản án:
[12] Các bị cáo PDT và PVB được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
- Trong vụ án này:
[13] Đối với 01 chiếc xe mô tô HONDA Dream hiện đang gắn biển kiểm soát 34N7 – 9465 (là chiếc biển số thật), qua giám định có số khung C100MN-0105294, số máy C100MNE-0105294 là số nguyên thủy, không bị tẩy xóa, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng, tuy nhiên trong hồ sơ đăng ký xe có biển số là 29K8 – 8545. Qua xác minh chủ sở hữu xe là ông M (đã chết năm 2022, hiện không có thông tin về người thân thích). PDT khai nhận mua chiếc xe này từ cửa hàng sắt vụn của một người không quen biết, khi mua xe không có biển số nên PDT đã gắn chiếc biển số 34N7 – 9465 vào xe để đi lại. PDT đã dùng chiếc trên để cùng một người bạn tên N, sinh năm 1982; nơi cư trú: tổ O, phường P, quận C, thành phố Hải Phòng đi trộm cắp tài sản. Chiếc xe trên được tách ra để giải quyết trong vụ án Trộm cắp tài sản được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng khởi tố vụ án số 62 ngày 26/04/2024, khởi tố bị can số 309 ngày 10/06/2024 đối với PDT về tội Trộm cắp tài sản.
[14] Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu Jupiter Gravita hiện đang gắn biển kiểm soát 15B2 - 661.22 (là chiếc biển số thật), qua giám định xe có số khung RLCJ5B9609Y055831, số máy 5B96 - 055832 nguyên thuỷ, không bị tẩy xoá, xe không có trong cơ sở dữ liệu vật chứng tuy nhiên trong hồ sơ đăng ký xe có biển số là 15H1 - 253.85. Xác minh chủ xe là anh Q, sinh năm 1993; nơi cư trú: thôn R, xã S, huyện T, thành phố Hải Phòng. Anh Q đã bán chiếc xe trên cho một người không quen biết vào năm 2018. PDT khai nhận đã mua lại chiếc xe trên từ một người bán sắt vụn sau đó sửa xe để đi lại hàng ngày. Do chưa xác định được rõ nguồn gốc và chủ sở hữu hợp pháp của chiếc xe trên nên Cơ quan điều tra tách ra, tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[15] Đối với 05 chiếc biển kiểm soát xe mô tô thu giữ được tại nhà của PDT gồm 15AE - 014.95 (qua giám định là biển thật), 27AA - 073.93 (qua giám định là biển giả), 29K8 – 8545 (qua giám định là biển giả), 16F6 – 3783 (qua giám định là biển giả), 15AN - 006.12 (qua giám định là biển thật) Cơ quan điều tra Công an quận Hồng Bàng tách các đồ vật trên để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[16] Đối với 06 giấy đăng ký xe moto và 02 chứng minh thư nhân dân (tình trạng đều rách nát, không còn nguyên vẹn) hiện chưa xác định được các thông tin, nguồn gốc các giấy tờ này nên Cơ quan điều tra tách ra, làm rõ xử lý sau.
[17] Đối với các đồ vật 01 kìm cộng lực và 02 thanh kim loại dạng trụ tròn rỗng dài 40cm thu tại nhà PDT, PDT khai nhận đây không phải là các đồ vật của PDT mà do bạn xã hội đến chơi để lại, hiện không rõ các đồ vật này của ai, nguồn gốc từ đâu nên tách ra để tiếp tục điều tra làm rõ, xử lý sau.
[18] Đối với người phụ nữ bán ma túy cho PVB ở khu vực R, quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch, Cơ quan điều tra tiếp tục điều tra làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 255; Điều 38; Điều 17, Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố các bị cáo PDT và PVB đồng phạm tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý".
Xử phạt: PDT 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.
Xử phạt: PVB 39 (ba mươi chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 26 tháng 12 năm 2023.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) hộp giấy dán kín trong có 01 chai nhựa có nắp ren xoáy đậy, 01 đoạn ống nhựa, 01 tẩu thuỷ tinh hoàn lại sau giám định có dấu niêm phong số 1081MT/PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng. (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 20/6/2024 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo PDT và PVB mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo đối với bản án: Các bị cáo PDT và PVB được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười |
Bản án số 88/2024/HS-ST ngày 10/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG về hình sự (tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Số bản án: 88/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 10/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý
