Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG – THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28-9-2024

V/v: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nguyên Vy

  • Các Hội thẩm nhân dân:

    1. Ông Trần Văn Bình

    2. Ông Lê Huỳnh Sinh

  • Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm.

  • Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang- Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Như Yến- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2024 tại hội trường xử án, Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - T xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 134/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 3 năm 2024 về việc: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 96/2024/QĐXXST – HNGĐ ngày 20 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 57/2024/QĐST-HNGĐ ngày 12/9/2024, giữa các đương sự:

  • Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Kim L, sinh năm: 1993.

  • Địa chỉ: Khu phố F, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

  • Bị đơn: Ông Nguyễn Mạnh C, sinh năm: 1989.

  • Địa chỉ: Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

  • (Nguyên đơn vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt; Bị đơn có mặt tại Tòa án nhưng sau đó bỏ về, không tham gia phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 05/3/2024 và quá trình tố tụng, Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L trình bày: Bà và ông Nguyễn Mạnh C sau một thời gian tìm hiểu đã tiến đến hôn nhân tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 09 ngày 05 tháng 3 năm 2015. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được hai năm đầu, sau đó phát sinh mâu thuẫn do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Mặc dù được cha mẹ hai bên gia đình khuyên nhủ, hòa giải nhưng tình cảm vợ chồng không cải thiện được, vợ chồng ly thân từ tháng 5/2023 cho đến nay, tình cảm vợ chồng không còn nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Nguyễn Mạnh C.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 18/10/2015. Hiện Gia B đang sống ổn định với bà, về sức khỏe và học tập được đảm bảo. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con Gia Bảo; bà không yêu cầu ông C cấp dưỡng nuôi con. Hiện bà là nhân viên y tế, thu nhập đủ khả năng nuôi con.

Tài sản chung, nợ chung: Bà không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, để vợ chồng bà tự thỏa thuận.

Quá trình tố tụng, Bị đơn ông Nguyễn Mạnh C trình bày: Vợ chồng ông kết hôn năm 2015, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian đến năm 2023 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông thất nghiệp, không làm ra tiền nên vợ ông có lời lẽ khó dễ; từ đó vợ chồng cãi nhau; từ năm 2023 cả hai không còn sống chung; thời gian xa nhau, vợ chồng mạnh ai nấy sống, không quan tâm đến nhau. Nay tình cảm vợ chồng không còn nên ông đồng ý ly hôn theo yêu cầu của bà L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 18/10/2015. Khi ly hôn, ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu bà L cấp dưỡng nuôi con chung. Ông không đồng ý giao con cho bà L nuôi dưỡng, vì theo ông môi trường sống ở nhà vợ không phù hợp với con Gia Bảo; ngoài ra, không còn lý do nào khác. Từ khi vợ chồng không sống chung, Gia bảo ở với vợ ông, sức khỏe và học tập của con được đảm bảo. Ông là tài xế lái xe đường dài, chạy hàng ra phía Bắc hoặc sang Trung Quốc; tuy nhiên từ đầu năm 2024 đến nay, công việc không ổn định nên không có thu nhập.

Tài sản chung, nợ chung: Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết, để vợ chồng ông tự thỏa thuận.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án, Thẩm phán, Thư ký, Nguyên đơn, Bị đơn đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử đúng thành phần, xét xử đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Về việc giải quyết vụ án: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L yêu cầu được ly hôn, yêu cầu được trực tiếp nuôi con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 18/10/2015. Bị đơn ông Nguyễn Mạnh C có ý kiến đồng ý ly hôn; về con chung ông yêu cầu được trực tiếp nuôi con Nguyễn Gia B. Tài sản chung, nợ chung: Nguyên đơn, Bị đơn đều không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này. Xét thấy, yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, lời trình bày và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

  1. Về thủ tục tố tụng:

    1. Về quan hệ tranh chấp: Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu chứng cứ kèm theo, xác định quan hệ pháp luật tranh chấp của vụ án là: “Ly hôn, tranh chấp nuôi con” được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn có địa chỉ thường trú tại Khu phố D, phường Đ, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang- T theo quy định tại Khoản 1 Điều 35, Khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

    2. Tại phiên tòa, Nguyên đơn và Bị đơn đều vắng mặt, Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Căn cứ Khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt Nguyên đơn, Bị đơn.

  2. Về nội dung:

    Xét yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L, Hội đồng xét xử thấy rằng:

    1. Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị Kim L và ông Nguyễn Mạnh C được xác lập trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định của pháp luật. Đây là hôn nhân hợp pháp.

    2. Tại phiên tòa, bà Nguyễn Thị Kim L giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn ông Nguyễn Mạnh C. Nhận thấy, bà L, ông C đều xác định mâu thuẫn của vợ chồng đã trầm trọng, tình cảm không còn nên không thể chung sống với nhau được nữa. Điều này, chứng tỏ hôn nhân của ông, bà lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ Khoản 1 Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L.

    3. Về giao người trực tiếp nuôi con:

      Bà L và ông C đều có yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung Nguyễn Gia B, sinh ngày 18/10/2015; cả hai không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

      Xét thấy, tính đến ngày xét xử cháu Nguyễn Gia B đã trên 7 tuổi, có nguyện vọng ở với mẹ, hiện đang sống ổn định với mẹ. Ông C thừa nhận thời gian trẻ Gia B sống cùng bà L được đảm bảo về sức khỏe cũng như việc học tập nhưng ông không đồng ý giao Gia B cho bà L trực tiếp nuôi dưỡng, bởi ông cho rằng môi trường sống của nhà vợ ông không phù hợp với Gia B. Tuy nhiên, ông không cung cấp được tài liệu, chứng cứ để chứng minh cho ý kiến, lý do mà ông nêu ra là có căn cứ. Để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của con, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu về giao người trực tiếp nuôi con của Nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu được trực tiếp nuôi con của Bị đơn là có căn cứ, phù hợp với khoản 2 Điều 81 của Luật hôn nhân và gia đình.

    4. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

  3. Xét ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, phù hợp với những nhận định trên, nên chấp nhận.

  4. Về tài sản chung, nợ chung: Trong vụ án này, quá trình tố tụng, bà L và ông C đều không yêu cầu Tòa án giải quyết; cả hai đều có ý kiến để vợ chồng tự thỏa thuận. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét về tài sản chung, nợ chung là phù hợp quy định pháp luật tố tụng dân sự.

    Tuy nhiên, trường hợp ông, bà không tự thỏa thuận được về tài sản chung, nợ chung; ông, bà được quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết bằng một vụ án khác.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự; Khoản 1 Điều 56, các Điều 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L.

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Kim L được ly hôn ông Nguyễn Mạnh C.

  2. Về giao người trực tiếp nuôi con: Bà Nguyễn Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng con chung tên Nguyễn Gia B, sinh ngày 18/10/2015.

    Hai bên đều có quyền và nghĩa vụ như nhau đối với con chung, không ai được ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục, nuôi dưỡng con chung.

  3. Về án phí: Bà Nguyễn Thị Kim L phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) theo biên lai thu số 0000190 ngày 12/03/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang- T. Bà Nguyễn Thị Kim L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo: Án xử công khai, sơ thẩm, vắng mặt Nguyên đơn bà Nguyễn Thị Kim L, Bị đơn ông Nguyễn Mạnh C; Nguyên đơn, Bị đơn được quyền kháng cáo Bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án.

    Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;

  • - VKSND TP. PRTC;

  • - Chi cục THADS TP.PRTC;

  • - UBND phường Đài Sơn;

  • - Các đương sự;

  • - Lưu (hồ sơ, án văn)./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Nguyên Vy

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HNGĐ-ST ngày 28/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 88/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG- THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: loan cường
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger