Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BA TRI

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 22/7/2024

V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BA TRI – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Huyền Nhung.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tiến

2. Ông Huỳnh Hữu Phước

- Thư ký phiên tòa: Ông Đặng Hoàng Long – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri tham gia phiên tòa:

Bà Nguyễn Kim Chúc – Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Ba Tri xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 240/2024/TLST- HNGĐ ngày 12 tháng 6 năm 2024 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 97/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Nguyễn Hồng K, sinh năm 1987; (vắng mặt có đơn).

Địa chỉ: Số D ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

- Bị đơn: Chị Ngô Thị H, sinh năm 1989; (vắng mặt có đơn).

Địa chỉ: Số I, ấp A, xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng, nguyên đơn anh Nguyễn Hồng K trình bày:

Về hôn nhân: Anh và chị Ngô Thị H kết hôn vào năm 2014 trên cơ sở tự nguyện, và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre vào ngày 27/3/2014. Thời gian đầu, anh chị sống hạnh phúc nhưng đến năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên xảy ra cự cãi, dẫn đến tình cảm ngày càng rạn nứt. Đến năm 2021 thì anh và chị H đã sống ly thân. Nay anh nhận thấy hôn nhân của anh và chị H đã không còn khả năng hàn gắn nên anh yêu cầu ly hôn với chị Ngô Thị H.

Về con chung: Quá trình chung sống, anh và chị H có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Gia P, sinh ngày 17/02/2015. Hiện cháu P đang sống cùng chị H. Khi ly hôn, anh giao cháu P cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Anh không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

Tại bản tự khai và đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt, bị đơn chị Ngô Thị H trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Hồng K cưới nhau năm 2014 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại UBND xã A vào năm 2014. Sau khi cưới, thời gian đầu anh chị sống hạnh phúc. Đến khoảng năm 2018 thì anh K đi xuất khẩu lao động ở Nhật Bản, chị ở nhà nuôi con, vợ chồng vẫn sống hạnh phúc. Đến năm 2019, chị phát hiện anh K ở Nhật Bản có quen người phụ nữ khác do anh K đăng hình ảnh lên mạng xã hội. Khi chị hỏi thì anh K nói thấy vậy tự hiểu. Từ đó vợ chồng chị không còn liên lạc nữa và anh K cũng không gởi tiền về phụ nuôi con. Đến năm 2023, chị có ý định đi Nhật Bản lao động, sợ anh K về giành quyền nuôi con nên chị có nộp đơn khởi kiện nhưng do lúc đó anh K sống ở Nhật Bản nên chị rút đơn khởi kiện. Từ năm 2019 đến nay, chị và anh K không có liên lạc, cũng không gặp mặt nhau, anh K cũng không đến thăm con. Nay chị biết chị và anh K đã không còn khả năng hàn gắn do anh K đã có người khác nên chị đồng ý ly hôn với anh K.

Về con chung: Quá trình chung sống, chị và anh K có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Gia P, sinh ngày 17/02/2015. Hiện cháu H đang sống cùng chị. Khi ly hôn, chị đồng ý tiếp tục nuôi dưỡng cháu H và yêu cầu anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu P 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi cháu P tròn 18 tuổi.

Về tài sản chung: Không có.

Về nợ chung: Không có.

* Quan điểm của đại diện Viện Kiểm sát:

- Về thủ tục: Thẩm phán đã thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, cấp tống đạt các văn bản cho đương sự, gởi thông báo thụ lý, hồ sơ đến Viện kiểm sát đúng quy định, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến khi đưa vụ án ra xét xử Thẩm phán đã tuân thủ đúng quy định về trình tự, thủ tục giải quyết của Bộ luật tố tụng dân sự. Trong quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán chấp hành đúng và đầy đủ trình tự, thủ tục theo quy định, đảm bảo cho các đương sự thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình khi tham gia giải quyết vụ án nên đủ điều kiện đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về việc xét xử sơ thẩm vụ án. Nguyên đơn, bị đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71, 72 Bộ luật tố tụng dân sự. Việc nguyên đơn, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt và phiên tòa xét xử vắng mặt đương sự là đúng theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Áp dụng Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình, đề nghị:

  • + Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Hồng K được ly hôn với chị Ngô Thị H.
  • + Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Gia P, sinh ngày 17/02/2015. Giao cháu P cho chị H trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu P theo quy định pháp luật.
  • + Về tài sản chung, nợ chung: Không có yêu cầu giải quyết nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Qua nghiên cứu toàn bộ các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và thẩm tra công khai các chứng cứ tại phiên tòa. Hội đồng xét xử (HĐXX) nhận định:

[1] Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn có đơn yêu cầu Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

[2] Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Hồng K và chị Ngô Thị H kết hôn vào năm 2014 trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện B, tỉnh Bến Tre. Do đó, hôn nhân của anh K và chị H là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật công nhận và bảo vệ. Quá trình giải quyết vụ án, dù có sự khác nhau trong lời trình bày của anh K, chị H về nguyên nhân mâu thuẫn nhưng hai bên đều xác định do cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc nên đã ly thân từ lâu và vợ chồng đã không thể hàn gắn nên đều thống nhất ly hôn. Do đó, HĐXX xét thấy tình trạng hôn nhân của anh K và chị H đã mâu thuẫn trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên yêu cầu ly hôn của anh K là có căn cứ phù hợp với quy định khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình nên được HĐXX chấp nhận.

[3] Về con chung: Quá trình chung sống, anh K và chị H có có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Gia P, sinh ngày 17/02/2015. Hiện cháu P đang sống cùng chị H. Xét việc anh K giao cháu P cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là có cơ sở, đảm bảo được sự ổn định cho cuộc sống, việc học hành cũng như tâm sinh lý của cháu P và cũng phù hợp với nguyện vọng của cháu P. Do đó, HĐXX chấp nhận giao cháu P cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng. Đối với việc chị H yêu cầu anh K cấp dưỡng nuôi cháu P mỗi tháng 3.000.000 đồng từ ngày tòa án tuyên bản án sơ thẩm đến khi cháu P tròn 18 tuổi, HĐXX thấy rằng yêu cầu cấp dưỡng của chị H là phù hợp với quy định tại Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình, đồng thời mức cấp dưỡng 3.000.000 đồng/tháng mà chị H đưa ra là phù hợp với mức sống tại địa phương, để đảm bảo tốt cho việc nuôi dưỡng cháu P và cũng phù hợp với thu nhập của người có nghĩa vụ cấp dưỡng nên được HĐXX chấp nhận.

[4] Về tài sản chung, nợ chung: Không ai có yêu cầu giải quyết nên HĐXX không xem xét.

[5] Xét quan điểm đề nghị về nội dung giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ba Tri là cùng quan điểm nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

[6] Về án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm: Anh Nguyễn Hồng K phải nộp án phí hôn nhân gia đình và án phí cấp dưỡng theo quy định tại Khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận cho anh Nguyễn Hồng K ly hôn với chị Ngô Thị H.

2. Về con chung: Có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Gia P, sinh ngày 17/02/2015. Chị Ngô Thị H có quyền trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Hoàng Gia P. Anh Nguyễn Hồng K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi cháu P 3.000.000 đồng/tháng (ba triệu đồng mỗi tháng). Thời gian cấp dưỡng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm cho đến khi cháu P tròn 18 tuổi.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con. Vì lợi ích của con, hai bên có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con và mức cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.

4. Về án phí: Anh Nguyễn Hồng K phải nộp án phí hôn nhân gia đình là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng và án phí cấp dưỡng là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền số 0001214 ngày 27/5/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Ba Tri. Anh Nguyễn Hồng K phải nộp tiếp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt theo quy định pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - TAND tỉnh Bến Tre;
  • - VKSND huyện Ba Tri;
  • - Chi cục THADS huyện Ba Tri;
  • - UBND xã A (B, Bến Tre);
  • - Lưu hồ sơ.

T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ

(Đã ký)

Trần Thị Huyền Nhung

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre về ly hôn, tranh chấp về nuôi con

  • Số bản án: 88/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tòa án chấp nhận cho anh Nguyễn Hồng K ly hôn với chị Ngô Thị H. Có 01 con chung do chị H nuôi dưỡng và anh K có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng. Tài sản chung, nợ chung: Không xem xét.
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger