Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN TÂN CHÂU

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2024/DS-ST

Ngày: 21-5-2024

V/v tranh chấp Hợp đồng góp hụi.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Bùi Văn Cương.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Nguyễn Thị Thay;
  2. Ông Tống Đức Hưởng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Sử Ngọc Quân là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Bích Ngọc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 21 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 86/2024/TLST-DS ngày 28 tháng 02 năm 2024 về tranh chấp Hợp đồng góp hụi theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 113/2024/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Đinh Thị P, sinh năm 1956; địa chỉ: Tổ A, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, có mặt.

- Bị đơn: Bà Phan Thị M, sinh năm 1974; nơi cư trú: Tổ G, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh, (hiện nay đang chấp hành án tại Trại Giam X, thuộc Cục C Bộ C1), vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo Đơn khởi kiện ngày 16/02/2024, cùng các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Đinh Thị P trình bày:

Nguyên là trước đây từ năm 2019 đến năm 2022, bà P có tham gia 07 phần hụi trong 03 dây hụi 2.000.000 đồng và dây hụi 1.000.000 đồng do bà Phan Thị M làm chủ hụi, 07 phần hụi của bà P đều là hụi sống, bà P vẫn đang đóng thì bà M tự ý ngưng hụi với lý do bể hụi không khui nữa nhưng lại không trả lại tiền hụi sống cho bà P. Cụ thể như sau:

- 02 phần trong dây hụi 2.000.000 đồng, bà P đã đóng tiền cho bà M được 21 kỳ (tương đương 21 tháng) bắt đầu từ ngày 15/3/2020 Âm lịch đến ngày 15/02/2022 Âm lịch. Số tiền bà P đã đóng cho bà M bao gồm tiền gốc và tiền lãi hụi là: 2.000.000 đồng x 2 phần x 21 kỳ = 88.000.000 đồng

- 03 phần trong dây hụi 1.000.000 đồng, bà P đã đóng tiền cho bà M được 09 kỳ (tương đương 9 tháng) bắt đầu từ ngày 15/02/2021 Âm lịch đến ngày 15/02/2022 Âm lịch. Số tiền bà P đã đóng cho bà M bao gồm tiền gốc và tiền lãi hụi là 1.000.000 đồng x 3 phần x 9 kỳ = 27.000.000 đồng.

- 02 phần trong dây hụi 2.000.000 đồng, bà P đã đóng cho bà M đoạn 6 kỳ (tương đương 06 tháng) bắt đầu từ ngày 10/06/2021 Âm lịch đến ngày 10/02/2022 Âm lịch. Số tiền bà P đã đóng cho bà M bao gồm tiền gốc và tiền lãi là 2.000.000 đồng x 2 phần x 6 kỳ = 24.000.000 đồng.

Tổng số tiền hụi mà bà M nợ bà P đã nêu trên là: 135.000.000. Tuy nhiên, vừa qua bà Phan Thị M đã bị Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh tuyên xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”, trong đó bà M phải bồi thương cho bà P số tiền đã chiếm đoạt là 29.941.000 đồng, đồng thời Tòa án tuyên hướng dẫn các đương sự rằng “ngoài số tiền chênh lệch mà các hụi viên thực đóng và số tiền bị cáo chiếm đoạt phải chịu trách nhiệm hình sự sẽ được giải quyết bằng vụ án dân sự khác nếu như các đương sự có yêu cầu.

Vì vậy, số tiền bà M còn nợ bà P là: 135.000.000 đồng - 29.941.000 đồng = 105.059.000 đồng.

Nay bà xin thay đổi yêu cầu khởi kiện, bà chỉ yêu cầu bà M trả lại cho bà số tiền hụi là 82.109.000 đồng, ngoài ra, bà P không có yêu cầu gì khác.

Bị đơn bà Phan Thị M trình bày:

Bà P là người quen của bà M, không có họ hàng, bà P có tham gia góp hụi với bà M những dây hụi bà P đã trình bày trong đơn khởi kiện. Tuy nhiên, đối với dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 15/3/2020 Âm lịch bà P chỉ thực góp được số tiền 79.500.000 đồng; đối với dây hụi 1.000.000 đồng khui ngày 15/02/2021 Âm lịch bà P chỉ mới thực góp được 17.550.000 đồng; đối với dây hụi 2.000.000 đồng khui ngày 10/5/2021 Âm lịch (không phải ngày 10/6/2021 Âm lịch như đơn khởi kiện) bà P chỉ mới thực góp được 15.000.000 đồng. Tổng cộng 03 dây hụi trên bà M còn nợ bà P số tiền 112.050.000 đồng.

Nay bà M yêu cầu cấn trừ vào số tiền chiếm đoạt là 29.947.000 đồng thì bà M đồng ý trả lại cho bà P số tiền hụi còn nợ là 82.109.000 đồng. Ngoài ra, bà M không có yêu cầu gì khác.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Tòa án nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh đã thụ lý và giải quyết vụ án đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; tại phiên Tòa, Hội đồng xét xử đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; không xảy ra vi phạm về tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án.

- Về nội dung vụ án, đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 quy định về họ, hụi, biêu, phường của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án đề nghị Hội đồng xét xử xử theo hướng:

+ Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà P, buộc bà M trả cho bà P số tiền hụi là 82.109.000 đồng.

+ Bà M phải chịu án phí theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ kết quả tranh tụng công khai tại phiên Toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng: Bị đơn bà Phan Thị M vắng mặt, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, căn cứ Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt đối với bà M.

[2] Về nội dung tranh chấp: Bà Đinh Thị P yêu cầu Tòa án buộc bà Phan Thị M trả cho bà Đinh Thị P số tiền hụi là 82.109.000 đồng và không yêu cầu tính lãi. Quá trình giải quyết vụ án bị đơn bà Phan Thị M đồng ý trả cho bà Đinh Thị P số tiền 82.109.000 đồng.

[2.1] Xét yêu cầu của bà Đinh Thị P thấy rằng:

[2.1.1] Qua xem xét, các tài liệu, chứng cứ mà bà Đinh Thị P cung cấp và việc thừa nhận của bà Phan Thị M thể hiện bà Đinh Thị P có tham gia góp hụi do bà Phan Thị M làm thảo hụi và bà Phan Thị M còn nợ bà Đinh Thị P số tiền hụi là 82.109.000 đồng. Bà Phan Thị M đồng ý trả cho bà Đinh Thị P số tiền 82.109.000 đồng nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

[2.2] Từ nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị P, buộc bà Phan Thị M có nghĩa vụ trả cho bà Đinh Thị P 82.109.000 đồng tiền hụi, ghi nhận bà Đinh Thị P không yêu cầu bà Phan Thị M phải trả tiền lãi là phù hợp với quy định Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 quy định về họ, hụi, biêu, phường của Chính phủ.

[3] Đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Châu, tỉnh Tây Ninh là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

H

[4] Về án phí: Căn cứ vào các Điều 144, 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án:

- Bà Đinh Thị P không phải chịu và được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà Phan Thị M phải chịu 4.105.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 471 của Bộ luật Dân sự; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 quy định về họ, hụi, biêu, phường của Chính phủ; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đinh Thị P đối với bà Phan Thị M về việc tranh chấp Hợp đồng góp hụi.

Buộc bà Phan Thị M có nghĩa vụ trả lại cho bà Đinh Thị P 82.109.000 (tám mươi hai triệu một trăm lẽ chín nghìn) đồng tiền hụi còn nợ. Ghi nhận bà Đinh Thị P không yêu cầu bà Phan Thị M phải trả tiền lãi

Kể từ ngày người được thi hành án bà Đinh Thị P có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án bà Phan Thị M không thi hành số tiền trên, thì hàng tháng người phải thi hành án bà Phan Thị M còn phải trả cho người được thi hành án bà Đinh Thị P số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại Khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

2. Về án phí:

- Bà Đinh Thị P không phải chịu và được miễn án phí dân sự sơ thẩm.

- Bà Phan Thị M phải chịu 4.105.000 (bốn triệu một trăm lẽ năm nghìn) đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

- Đương sự;

- Viện kiểm sát nhân dân cùng cấp;

- Lưu hồ sơ;

- Lưu tập án.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Bùi Văn Cương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2024/DS-ST ngày 21/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH về tranh chấp hợp đồng góp hụi

  • Số bản án: 88/2024/DS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp Hợp đồng góp hụi
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 21/05/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN CHÂU, TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: vu an tranh chap hop dong gop hui giua ba P voi ba M
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger