|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 88/2024/DS-PT Ngày: 25/7/2024 V/v: Tranh chấp quyền sử dụng đất |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Đình Phương
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Trung Tín
Bà Võ Thị Trầm
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thúy Oanh - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Bùi Hồng Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 42/2024/TLPT-DS ngày 22 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 81/2024/QĐ-PT ngày 25 tháng 6 năm 2024, giữa:
* Nguyên đơn: Ông Lê Thành P, sinh 1985
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, Khánh Hòa.
Người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đức Q, sinh năm 1975
Nơi cư trú: Thôn B, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
* Bị đơn: Ông Huỳnh M, sinh năm 1978
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Người đại diện theo uỷ quyền của bị đơn: Ông Phan Tấn H, sinh năm 1956
Địa chỉ: A C, phường P, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Có mặt.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Huỳnh T, sinh năm 1940
- Ông Lê T1, sinh năm 1962 và bà Trần Thị C, sinh năm 1963
- Bà Dương Thị Mỹ K, sinh năm 1981
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Đều vắng mặt.
Nơi cư trú: số D tổ A, H, phường V, thành phố N, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.
* Người làm chứng:
- Bà Võ Thị Y
- Ông Nguyễn Hữu K1
- Ông Huỳnh T2
- Ông Lương Đ, sinh năm 1968
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Thôn N, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Nơi cư trú: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa.
Tất cả người làm chứng vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện và đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn ông Trần Đức Q trình bày:
Năm 2019 cha ông P là ông Lê T1 và Trần Thị C tặng cho ông P thửa đất số 396 và 397, tờ bản đồ số 14 tại Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa có diện tích 4.439m². Hiện nay, ông P đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 693101 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất số CS-01006 ngày 25/6/2019 đứng tên Lê Thành P. Năm 2019 ông Huỳnh M đã lấn chiến một phần thửa đất trên của ông P với diện tích lấn chiếm khoảng 785m² để trồng dừa và nuôi trồng thủy sản. Nay ông P yêu cầu ông M trả lại diện tích đất đã lấn chiếm theo mảnh trích đo địa chính là 717,5m² (trong đó: 107m² + 107,5m² là bờ đìa và 502,8m² đất nuôi trồng thủy sản) cho ông P theo đúng hiện trạng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 693101 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CS-01006 ngày 25/6/2019. Ngoài ra, ông P không có yêu cầu gì khác.
Về kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp: Ông P thống nhất với biên bản xem xét thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp ngày 02/7/2021, ngày 11/3/2022, 26/9/2023 và M1 trích đo địa chính số 91-2022.
Về giá đất tranh chấp: Đề nghị Tòa án áp dụng mức giá của chứng thư thẩm định giá số 213/TĐG-CT ngày 17/6/2022 và Biên bản định giá bổ sung ngày 26/9/2023 để giải quyết vụ án.
* Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn ông Phan Tấn H trình bày:
Nguồn gốc đất ông M đang quản lý sử dụng là đất của cha ông là ông Huỳnh T cho ông năm 2004, thửa đất giáp ranh với đất ông Lê Thành P, không rõ diện tích đất cụ thể là bao nhiêu, cha ông có chỉ ranh giới với đất ông P, từ đó tới nay ông quản lý sử dụng đất theo ranh giới cha ông đã chỉ khi cho đất, không lấn chiếm đất của ai. Nay ông Lê Thành P yêu cầu ông trả lại lại diện tích đất là 717,5m² thì ông không đồng ý. Hiện nay diện tích đất của ông P đang tăng so với giấy mua bán giữa cha ông P và cha của ông nên ông không đồng ý trả lại đất cho ông P. Ông yêu cầu huỷ giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 693101 vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dung đất số CS-01006 ngày 25/6/2019 đứng tên Lê Thành P. Nếu Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, ông yêu cầu nguyên đơn phải trả cho ông số tiền 150.000.000đ là tiền chi phí mua cua và cá giống.
Về kết quả xem xét, thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp: Ông P thống nhất với biên bản thẩm định tại chỗ tài sản tranh chấp ngày 02/7/2021, ngày 11/3/2022, 26/9/2023 và M1 trích đo địa chính số 91-2022.
Về giá đất tranh chấp: Đề nghị Tòa án áp dụng mức giá của chứng thư thẩm định giá số 213/TĐG-CT ngày 17/6/2022 và Biên bản định giá bổ sung ngày 26/9/2023 để giải quyết vụ án.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Lê T1 và bà Trần Thị C trình bày: Năm 1999, ông bà có mua lại của ông Huỳnh T, sinh năm 1940, trú tại thôn T, xã N một thửa đất theo hiện trạng ông T đang sử dụng, để nuôi trồng thủy sản; Thửa đất có đông tây tứ cận: Đông giáp đìa nhà, T3 giáp Công ty M2, Nam giáp đường Quốc lộ, B giáp đìa nhà. Theo hiện trạng ước tính là 3400m², giá tiền là 20.000.000 đồng. Việc mua bán đất giữa hai bên được chính quyền địa phương xác nhận. Việc giao đất cho ông bà sử dụng là do ông Huỳnh T và các con là ông M, ông T2 cùng chỉ ranh để ông bà ủi đìa. Thời điểm năm 1999-2001 là khoảng thời gian phong trào ủi đìa nuôi tôm rất thịnh hành, nên việc ông bà ủi địa là một sự kiện gây sự chú ý cho nhiều bà con tại địa phương cùng đứng xem trên bờ, trong đó ông bà còn nhớ ông Nguyễn Hữu K1, bà Võ Thị Y cùng trú tại Ngọc D, N và cũng là người làm đìa gần cạnh bên. Tại thời điểm này (1999) Hướng nam thửa đất giáp Quốc lộ A là chưa có nhà của ông Huỳnh M. Ông bà sử dụng đìa nuôi tôm liên tục ổn định, gia đình ông Huỳnh T ở trong địa phương cũng không có ý kiến gì. Đến năm 2016, ông bà tiến hành đo đạc xin cấp GCN QSDĐ, theo kết quả đo đạc của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thì diện tích đất mà ông bà mua của ông T theo hiện trạng vào năm 1999, nay được xác định cụ thể bởi 02 thửa đất như sau: Thửa đất số 396, có diện tích 3.294m² thuộc một phần thửa đất 18, tờ bản đồ số 14 xã N do ông T kê khai; Thửa đất 397, có diện tích 1.145m² thuộc một phần thửa 19, tờ bản đồ 14 xã N do ông T kê khai. Ngày 10/10/2016, ông bà được UBND huyện N cấp GCN QSDĐ số CD802876 mang tên ông Lê T1, bà Trần Thị C. Đến năm 2019, ông bà tặng cho con là Lê Thành P. Năm 2021, ông Huỳnh M ngang nhiên đưa máy san ủi đắp bờ lấn chiếm đất của ông P khoảng 600m² là hành vi vi phạm pháp luật. Sự việc được UBND xã N giải quyết nhưng ông M không trả đất đã bao chiếm. Ông bà thống nhất với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Do bận công việc nên đề nghị Toà án giải quyết vắng mặt ông bà.
- Ông Huỳnh T trình bày: Năm 1999, ông có bán cho ông Lê T1 và bà Trần Thị C diện tích đất 3.400m², địa chỉ thửa đất tại thôn N (nay là thôn T), xã N. Khi bàn giao đất, hai bên không tiến hành đo vẽ vì thời điểm đó đã phân ô sẵn làm đìa nuôi tôm công nghiệp nên việc mua bán, bà giao đìa nuôi tôm đã đắp bờ sẵn. Diện tích đất còn lại, ông đã cho các con hết. Nay ông Lê Thành P khởi kiện tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Huỳnh M, ông không có ý kiến gì vì đất đã cho các con hết. Nay tuổi cao, bản thân bị bệnh tai biến nên không đi lại, đề nghị Tòa án tiến hành giải quyết và xét xử vắng mặt ông.
- Bà Dương Thị Mỹ K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt nên không có lời trình bày.
* Đối với người làm chứng:
- Bà Võ Thị Ngọc Y1 trình bày: Vào năm 1999, bà được biết ông Lê T1 và bà Trần Thị C, trú tại: Thôn T, xã N, huyện N có mua lại cái đìa của ông Huỳnh T (thôn T, xã N) để nuôi trồng thủy sản. Vị trí nằm phía bên tay phải từ ngoài đường Quốc lộ đi vào gần cạnh đìa nhà bà. Cũng năm đó, từ ngoài đường vào chưa có nhà của ai (nhà ông M và ông T2 mới xây sau này). Thời điểm này, đi qua lại, bà thấy nhà chú T1, cô C và gia đình chú B1 (ông T) có tới đó chỉ để nhà ông T1 ủi làm bờ xây hồ nuôi tôm. Cá nhân bà chỉ biết ông T4 mua đìa, ủi diện tích thì bà không rõ, việc ủi ngăn ao và bà thấy có trồng dừa mới. Bà thấy sao thì nói vậy, còn vấn đề tranh chấp giữa ông M và ông P bà không rõ.
- Ông Nguyễn Hữu K1 trình bày: Khoảng năm 1999, ông được biết ông Lê T1, bà Trần Thị C có mua lại của ông Huỳnh T một diện tích đất để nuôi trồng thủy sản, vị trí đất nằm phía bên tay phải theo hướng đường đi từ Quốc lộ A ra đến đìa của ông. Tại thời điểm này (năm 1999 đầu đường đi ra đìa của của ông chưa có nhà của ông Huỳnh M). Thời điểm năm 2000, phong trào ủi đìa nuôi tôm rất nhiều, ông không nhớ rõ ngày tháng, nhưng việc ông T1 ủi đìa trên phần đất mua lại của ông Huỳnh T thì ông có nhớ một số chi tiết như sau: Việc ông T1 ủi đìa vào buổi sáng hôm đó có nhiều bà con trong địa phương T đứng trên đường xem, tôi là người làm đìa gần đó nên cũng đứng xem. Ông có nhìn thấy ông Huỳnh T, ông Huỳnh M và ông Huỳnh T2 cùng đứng trên bờ xem ông T1 ủi đìa. Hiện trạng đìa ông T1 đến nay, hàng ngày đi qua ông thấy không thay đổi gì, ngoài những bờ ngăn mới đắp và có trồng mấy cây dừa con. Việc tranh chấp giữa ông M với ông P như thế nào, ông không rõ.- Ông Huỳnh T2 trình bày: Ngày 30/12/2015, ông có ký vào bản mô tả ranh giới, mốc giới thửa đất của ông Lê T1, địa chỉ thửa đất tại: Thôn T, xã N, thị xã N vì thửa đất của ông T1 giáp ranh thửa đất của ông, mục đích ký là để ông làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Thửa đất của ông là do cha mẹ ông là ông Huỳnh T và Nguyễn Thị T5 cho khoảng năm 2003, đất của ông T1 là do cha ông bán cho ông T1 nhưng ông không nhớ bán năm nào. Cha ông có chỉ ranh đất của ông, nhưng ông không nhớ cụ thể đông tây tứ cận, chỉ nhớ một mặt giáp đất bà Y1, một mặt giáp mương nước, hai mặt còn lại giáp đất ông T. Sau này ông làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới biết một mặt giáp đất bà Y1, một mặt giáp đất ông T1, một mặt giáp mương nước, một mặt giáp đất ông H1. Đất của ông đã được cấp sổ nhưng ông không nhớ được cấp năm nào. Khi cha ông bán đất cho ông T1, có thực hiện việc chỉ ranh, khi chỉ ranh có ông, ông M, ông T, vợ chồng ông T1, bà C và ông Lương Đ địa chỉ ở thôn N, xã N, thị xã N. Ông P kiện ông M là vô lý. Đề nghị Tòa án không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông P.- Ông Lương Đ trình bày: Năm 2001, ông được biết là ông Lê T1 và bà Trần Thị C, trú tại: Thôn N, xã N có mua lại đìa của ông Huỳnh T ở thôn T, xã N nuôi trồng thủy sản, vị trí đất nằm ở hướng đường Q đi ra. Bản thân ông là người làm cho ông T1. Sáng hôm đó, gia đình ông Huỳnh T có chỉ đất cho bên mua ông Lê T1 và bà Trần Thị C ủi đìa nuôi trồng thủy sản. Bản thân ông không biết gì chuyện mua bán giữa hai gia đình, nay ông viết giấy này hoàn toàn sự thật nêu trên. Vì lý do công việc gia đình, bản thân ông làm giấy này là ông không có mặt. Bản án dân sự sơ thẩm số 71/2023/DS-ST ngày 28 tháng 9 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hoà, tỉnh Khánh Hòa đã quyết định:- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Lê Thành P. Buộc ông Huỳnh M phải trả lại cho ông Lê Thành P diện tích đất lấn chiếm là 717,5m² (trong đó: 107m² + 107,5m² là bờ đìa và 502,8m² đất nuôi trồng thủy sản) thuộc thửa đất số 396, tờ số 14 địa chính xã N, địa chỉ thửa đất: Thôn T, xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CR 693101, số vào sổ cấp giấy GCN: CS - 01006 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh K cấp cho ông Lê Thành P ngày 25/6/2019 (có sơ đồ bản vẽ kèm theo).
- Ông Lê Thành P được quyền sở hữu 04 cây dừa và phải trả cho ông Huỳnh M giá trị của 04 cây dừa là 2.420.000đ.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, về án phí dân sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 09/10/2023, bị đơn ông Huỳnh M có đơn kháng cáo toàn bộ nội dung bản án sơ thẩm.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Bị đơn cho rằng thực tế cha mẹ bị đơn chỉ chuyển nhượng 3.400m², có bàn giao đất nhưng không có giấy tờ chứng minh. Tuy nhiên, diện tích bên nguyên đơn được cấp giấy chứng nhận thửa 396 và 397, tiện tích 4.439m² nên phần diện tích nguyên đơn cấp dư nên thuộc về bị đơn. Do đó, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn không có cơ sở và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đúng nên yêu cầu hủy án sơ thẩm.
- Nguyên đơn cho rằng theo giấy tờ chuyển nhượng cho thấy cha mẹ bị đơn chuyển nhượng cho ông T1, bà C đã được bàn giao thực tế ranh mốc đất. Nguyên đơn sử dụng ổn định đến năm 2006, được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận. Thủ tục cấp có ông Huỳnh T2 (con ông Huỳnh T) ký giáp ranh. Quá trình quản lý sử dụng người chuyển nhượng không tranh chấp. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị đơn không có cơ sở nên đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án sơ thẩm.
- Phát biểu của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Khánh Hòa tại phiên tòa phúc thẩm: Việc bị đơn xác định yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là yêu cầu phản tố nên thẩm quyền thuộc Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa là không có cơ sở. Về nguồn gốc đất cha mẹ nguyên đơn đã nhận chuyển nhượng của cha mẹ bị đơn là đất đìa. Tại thời điểm chuyển nhượng được bàn giao đìa và hai bên chứng kiến. Năm 2016, ông T2 ký giáp ranh để làm thủ tục cấp giấy chứng nhận cho bên nguyên đơn. Do đó, yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở. Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng:
Ngày 28/09/2023, Tòa án nhân dân thị xã Ninh Hòa xét xử vụ án. Ngày 09/10/2023, bị đơn kháng cáo bản án nêu trên. Như vậy, đơn kháng cáo trong hạn luật định nên được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Xét yêu cầu kháng cáo của bị đơn:
[2.1] Về nguồn gốc đất và diện tích tranh chấp:
- Thửa đất 396, diện tích 3.294m² và thửa 397, diện tích 1.145m² đều thuộc tờ bản đồ 14 xã N, thị xã N, tỉnh Khánh Hòa. Nguồn gốc trước đây thuộc thửa 18 và 19 tờ bản đồ 14 xã N được ông Huỳnh T và bà Nguyễn Thị T5 khai hoang khoảng năm 1988. Theo đơn xin chuyển chượng quyền sử dụng đất ngày 14/9/1999 được Ủy ban nhân dân xã N xác nhận với nội dung ông T, bà T5 chuyển nhượng cho ông T1, bà C với giá 20.000.000đồng. Sau khi nhận chuyển nhượng ông T1, bà C canh tác ổn định không tranh chấp. Ngày 10/10/2016, ông T1, bà C được Ủy ban nhân dân thị xã N cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất được Ủy ban nhân dân xã N chứng thực nội dung ông T1, bà C tặng cho nguyên đơn thửa đất 396 và 397 nêu trên. Ngày 25/6/2019, Sở T cấp đổi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đứng tên nguyên đơn.
- Theo Biên bản xác minh ngày 17/5/2023 cho thấy Sổ mục kê đất đai thửa 18, diện tích 48.000m² và thửa 19, diện tích 24.499m², tờ bản đồ 14 tên người đăng ký sử dụng là ông Huỳnh Thạch. Tờ trình số 67/TTr-UBND ngày 24/8/2016, phần đất thửa 396 và 397, tờ bản đồ 14 là đất nuôi trồng thủy sản ông Lê Thanh n chuyển nhượng của ông Huỳnh T và sử dụng ổn định liên tục đến nay. Kết quả thẩm định đo đạc của Chi nhánh Văn phòng Đ1 xác định thửa đất 396, diện tích 3.294m² (thuộc một phần thửa 19 cũ) và thửa 397, diện tích 1.145m² (thuộc một phần thửa 18 và 19 cũ) thuộc tờ bản đồ 14 xã N. Vậy từ năm 1988 đến năm 1999, ông T, bà T5 là người kê khai diện tích đất thửa 18 và 19, tờ bản đồ 14 (bao gồm thửa 396 và 397). Ngày 14/9/1999, sau khi nhận chuyển nhượng ông T1, bà C quản lý, canh tác ổn định đến năm 2016, không ai tranh chấp và được nhà nước cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vì vậy, toàn bộ diện tích thửa 396 và 397 ông T1, bà C nhận chuyển nhượng, được cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hợp pháp nên việc ông T1, bà C đã tặng cho con là ông Lê Thành P cũng hợp pháp. Do đó, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu bị đơn trả lại phần diện tích lấn chiếm 717,5m² thuộc một phần thửa 396, tờ bản đồ 14, xã N là có cơ sở.
- Đối với 04 cây dừa do bị đơn trồng trên phần bờ đìa ông P được quyền sở hữu và thanh toán lại giá trị cho ông M.
[2.1] Đối với việc cấp sơ thẩm không thụ lý yêu cầu phản tố:
Bị đơn kháng cáo cho rằng không thụ lý yêu cầu phản tố về việc hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất năm 2019 cấp cho nguyên đơn. Theo hướng dẫn nghiệp vụ của Tòa án nhân dân tối cao thì yêu cầu hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không phải là yêu cầu phản tố mà là vấn đề cần phải xem xét trong cùng vụ án. Do đó, bị đơn cho rằng không thụ lý yêu cầu phản tố là không có cơ sở. Đồng thời, theo phân tích trên Hội đồng xét xử thấy rằng nguồn gốc đất nhận chuyển nhượng của bên nguyên đơn hợp pháp nên cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là đúng.
Trên cơ sở phân tích trên, Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
[3] Về án phí dân sự: Bị đơn phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
* Tuyên xử: Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn ông Huỳnh M, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
* Về án phí: Ông Huỳnh M phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí lệ phí tòa án số 0005356 ngày 19/12/2023 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Ninh Hòa. Ông M đã nộp đủ án phí phúc thẩm.
* Quy định: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Đình Phương |
Bản án số 88/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 88/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH KHÁNH HÒA
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp quyền sử dụng đất
