|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG Bản án số:88/2024/DS- PT Ngày: 17/4/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
Thành phần hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán- chủ toạ phiên toà: Bà Triệu Thị Luyện.
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Hà Giang, ông Nguyễn Việt Hùng
Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Mỹ Hạnh – Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Việt Anh – Kiểm sát viên.
Trong ngày 17/4/2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 16/2024/TLPT- DS ngày 06/02/2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm, yêu cầu bồi thường thiệt hại”.
Do bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 17 tháng 11 năm 2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 86/2024/QĐ-PT ngày 26/02/2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 113/2024/QĐ-PT ngày 26/3/2024, giữa:
Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị G, sinh năm 1966 (có mặt)
Địa chỉ: Thôn B, xã Q, huyện T, tỉnh Bắc Giang
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:
Ông Nguyễn Văn T – Luật sư Văn phòng L, Đoàn Luật sư tỉnh B (có mặt)
Bị đơn: Công ty TNHH B
Địa chỉ: Tòa nhà D - I, số A - A N, phường A, quận P, thành phố Hồ Chí Minh
Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Đình Q – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên kiêm Tổng giám đốc
Người đại diện theo ủy quyền:
1. Bà Dương Thị Thu T1 – chức vụ: Phó phòng Công ty (vắng mặt)
2. Ông Nguyễn Quốc T2 – chức vụ: Chuyên viên cao cấp pháp lý Công ty TNHH B (có mặt)
1
3. Bà Nguyễn Thị Ngọc D – Chuyên viên pháp lý Công ty TNHH B (có mặt)
(Văn bản ủy quyền số 70 ngày 20/02/2023)
* Người kháng cáo: Nguyên đơn - bà Nguyễn Thị G (có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn bà Nguyễn Thị G trình bày:
Ngày 02/11/2016, bà đã ký hợp đồng bảo hiểm (viết tắt là HĐBH) số 2317695 với Công ty TNHH B (viết tắt là Công ty B) với gói bảo hiểm là An Tâm H. Bà là người mua bảo hiểm, người hưởng bảo hiểm chính là anh Nguyễn Văn T3 - con trai bà, người được hưởng bảo hiểm bổ sung là Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị H1 đều là các con của bà, với mức phí là 15.000.000 đồng/ năm, thời hạn bảo hiểm là 10 năm. Sau khi ký kết hồ sơ bảo hiểm, bà đã nhận giấy chứng nhận bảo hiểm của ông Tổng giám đốc Công ty TNHH B (ông Trần Đình Q) với nội dung: Hợp đồng bảo hiểm số 2317695: An Tâm H (2014), ngày chấp thuận 02/11/2016. Sau đó, bà đã thực hiện đúng nghĩa vụ theo hợp đồng, đã đóng phí bảo hiểm cho Công ty B đúng thời hạn và yêu cầu của Công ty, bản thân bà đã đóng bảo hiểm được 4 năm 6 tháng. Cụ thể: Ngày 02/11/2016 nộp phí bảo hiểm theo theo phiếu thu số DT/05 1283327 số tiền 15.000.000đồng; ngày 18/11/2017 nộp phí bảo hiểm theo theo phiếu thu số PT/05 2484906 số tiền 15.000.000đồng; ngày 05/11/2018 nộp phí bảo hiểm theo theo phiếu thu số PT/05 3047589 số tiền 12.000.000đồng; ngày 19/12/2018 nộp phí bảo hiểm theo theo phiếu thu số PT/05 3095626 số tiền 3.000.000đồng; ngày 24/12/2019nộp phí bảo hiểm theo theo phiếu thu số PT/05 3095626 số tiền 3.000.000đồng. Tổng số tiền đã nộp phí bảo hiểm của hợp đồng này là: 52.500.000 đồng (năm mươi hai triệu, năm trăm nghìn đồng).
Ngày 27/3/2017,bà đã ký hợp đồng bảo hiểm số 1307161 với Công ty TNHH B. Sản phẩm bảo hiểm chính: An Phúc H (2014), phí bảo hiểm là 12.000.000đồng/ năm, thời hạn bảo hiểm 15 năm. Sau khi ký kết hồ sơ bảo hiểm, bà đã nhận giấy chứng nhận bảo hiểm của ông Tổng giám đốc Công ty TNHH B (ông Trần Đình Q) với nội dung: Hợp đồng bảo hiểm số 1307161: An Phúc H (2014) ngày chấp thuận 28/3/2017, ngày có hiệu lực 28/3/2017, ngày hết hạn 23/8/2032. Sau đó, bà đã thực hiện đúng nghĩa vụ hợp đồng, đã đóng phí bảo hiểm cho Công ty B đúng với thời hạn yêu cầu của Công ty. Cụ thể: Ngày 27/3/2017 nộp phí bảo hiểm theo theo phiếu thu số DT/05 1437123 số tiền 12.000.000đồng; ngày 29/3/2018 nộp phí bảo hiểm theo theo phiếu thu số PT/05 2675617 số tiền 12.000.000đồng; ngày 11/4/2019 nộp phí bảo hiểm theo theo phiếu thu số PT/05 3244341 số tiền 12.000.000đồng. Tổng số tiền bà đã nộp với hợp đồng này là: 36.000.000đồng (ba mươi sáu triệu đồng).
2
Như vậy, tổng cộng số tiền phí bảo hiểm bà đã nộp đối với 02 hợp đồng bảo hiểm là 88.500.000đồng (tám mươi tám triệu, năm trăm nghìn đồng).
Do sức khỏe và điều kiện kinh tế khó khăn nên bà không thể tiếp tục nộp tiền phí theo hai hợp đồng bảo hiểm đã ký kết. Bà có đơn xin lại số tiền phí bảo hiểm đã đóng để lấy tiền thuốc men.
Ngày 02/7/2020, Công ty TNHH B đã có thư báo tới bà về việc hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số 2317695 tạm thời mất hiệu lực. Theo thư báo giá trị tiền mặt còn lại hợp đồng Công ty sẽ thực trả là 3.023.000đồng.
Ngày 07/10/2020, Công ty TNHH B-ichi đã có thư báo về việc hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số 1307161 tạm thời mất hiệu lực.Ngày 1/11/2020, bà làm đơn khiếu nại yêu cầu Công ty TNHH B-ichi phải trả số tiền 88.500.000đồng.
Ngày 09/11/2020, Công ty TNHH B đã có thư trả lời về hợp đồng bảo hiểm số 1307161 và 2317695 như sau: “Theo Điều 4 Quy tắc và Điều khoản chương trình bảo hiểm A (2014) và chương trình bảo hiểm An Tâm H (2014) quy định: Trong 21 ngày kể từ ngày hợp đồng bảo hiểm phát hành với điều kiện chưa xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc chưa có yêu cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm nào, bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu thay đổi, chỉnh sửa hoặc hủy bỏ yêu cầu bảo hiểm. Trong thời gian này, bên mua bảo hiểm trả lại hợp đồng bảo hiểm cho D1-ichi cùng với văn bản yêu cầu hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm, D1-ichi sẽ hoàn trả lại phí bảo hiểm đã đóng...Tổng số tiền thực trả đối với 02 hợp đồng bảo hiểm là 3.023.000 đồng”.
Việc Công ty TNHH B chỉ trả lại bà số tiền là 3.023.000 đồng là trái với thỏa thuận trong hợp đồng và quy định của pháp luật gây thiệt hại quyền lợi hợp pháp của bà nên bà không đồng ý. Do vậy, ngày 31/12/2020 bà tiếp tục làm đơn khiếu nại đến Bộ trưởng Bộ T6 và Công ty TNHH B về việc yêu cầu Công ty TNHH B phải hoàn trả cho bà tổng số phí bảo hiểm đã đóng.
Tại Đơn khởi kiện bà yêu cầu Công ty bảo hiểm trả số tiền phí bảo hiểm là 103.500.000 đồng. Tuy nhiên, do bà không nhớ vào ngày 02/11/2016 bà đã yêu cầu hủy hợp đồng bảo hiểm số 2317695 với phí hợp đồng bà đã đóng là 15.000.000đồng/năm, số tiền này bà đã ủy quyền cho bà Nguyễn Thị T4 là tư vấn tài chính nhận nên bà xác định tổng số tiền bà đã nộp đối với 02 hợp đồng bảo hiểm là 88.500.000đồng.
Vì lý do sức khỏe,bị đau ốm nên bà không thể tiếp tục tham gia Hợp đồng bảo hiểm của Công ty TNHH B. Căn cứ theo Quy định và Điều khoản tại các hợp đồng bảo hiểm đã ký, bà khởi kiện đề nghị Tòa án giải quyết buộc Công ty TNHH B hoàn trả lại tiền phí bảo hiểm và bồi thường thiệt hại như sau:
3
- Yêu cầu Công ty TNHH B hoàn trả 88.500.000 đồng tiền phí bảo hiểm đối với hợp đồng bảo hiểm số 2317695 ngày 02/11/2016 và hợp đồng bảo hiểm số 1307161 ngày 27/3/2017.
- Yêu cầu trả tiền lãi của số tiền 88.500.000đồng từ ngày 20/7/2020 đến ngày xét xử sơ thẩm 17/11/2013 ( 3 năm), mức lãi suất là 4,74%/ năm, số tiền là 12.112.500đồng.
- Yêu cầu Công ty TNHH B bồi thường: Tiền thuê luật sư là 20.000.000 đồng, tiền công đi lại là 30.000.000đồng, tiền tổn thất tinh thần là 8 tháng lương cơ bản x 18.000.000đ = 14.400.000đồng.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bà G chỉ yêu cầu Công ty B trả số tiền phí bảo hiểm của hai hợp đồng bảo hiểm là 85.000.000đồng do bà G đồng ý trừ chi phí chấm dứt hợp đồng là 3.500.000đồng trong tổng số tiền 88.500.000 đồng bà yêu cầu Công ty B.
Bị đơn Công ty TNHH B do bà Nguyễn Thị Ngọc D, ông Nguyễn Quốc T2, bà Dương Thị Thu T1 đại diện theo ủy quyền thống nhất trình bày:
Ngày 02/11/2016, bà Nguyễn Thị G có ký hợp đồng bảo hiểm số 2317695 theo giấy yêu cầu bảo hiểm nhân thọ, xác nhận bằng giấy chứng nhận bảo hiểm, hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày 03/11/2016 với Quyền lợi bảo hiểm chính (Người được bảo hiểm Nguyễn Văn T3) An Tâm H (2014) – số tiền bảo hiểm là 669.288.000 đồng, phí bảo hiểm là 15.000.000đồng/năm và đóng bảo hiểm theo năm, thời hạn của hợp đồng là 15 năm. Bà G đã đóng phí bảo hiểm được 4 năm 6 tháng với số tiền phí là 52.500.000đồng như bà G trình bày là đúng.
Ngày 02/7/2020, Công ty bảo hiểm thông báo cho bà G về việc hợp đồng bảo hiểm số 2317695 tạm thời mất hiệu lực vào ngày 03/5/2020 do bà G không đóng phí bảo hiểm đến hạn nộp phí bảo hiểm vào ngày 03/5/2020. Lần lượt các ngày 09/9/2020 và ngày 04/11/2020, Công ty B tiếp tục gửi cho bà G thư nhắc đóng phí bảo hiểm và thực hiện thủ tục khôi phục hiệu lực HĐBH 2317695. Ngày 07/7/2022, vì đã quá hạn khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm theo quy định của pháp luật và quy định của hợp đồng bảo hiểm số 2317695, Công ty bảo hiểm thông báo chấm dứt hiệu lực hợp đồng bảo hiểm 2317695 và hoàn lại cho bà G giá trị hoàn lại của HĐBH số 2317695 tương ứng số tiền là 3.023.000 đồng.
Ngày 27/3/2017,bà Nguyễn Thị G có ký hợp đồng bảo hiểm số 1307161 theo giấy yêu cầu bảo hiểm nhân thọ, xác nhận bằng giấy chứng nhận bảo hiểm, hợp đồng có hiệu lực kể từ ngày 28/3/2017 với Quyền lợi bảo hiểm chính (Người được bảo hiểm Nguyễn Thị G) An Phúc H (2014) số tiền bảo hiểm là 113.462.000 đồng, phí bảo hiểm là 12.000.000đồng/năm và đóng bảo hiểm theo
4
năm, thời hạn của hợp đồng là 15 năm. Bà G đã đóng phí bảo hiểm được 3 năm với số tiền phí là 36.000.000đồng như bà G trình bày là đúng.
Ngày 07/10/2020, Công ty bảo hiểm thông báo cho bà G về việc hợp đồng bảo hiểm số 1307161 tạm thời mất hiệu lực vào ngày 06/10/2020 do tổng các khoản tạm ứng và khoản giảm thu nhập đầu tư đã vượt quá giá trị hoàn lại và bà G không đóng phí bảo hiểm đến hạn nộp phí bảo hiểm vào ngày 06/10/2020. Bà G cũng chính là đại lý bảo hiểm khai thác và đứng tên trên hồ sơ yêu cầu bảo hiểm của HĐBH số 1307161.
Bà G đã đóng cho Công ty B với tổng số phí bảo hiểm của hai hợp đồng bảo hiểm là 88.500.000 đồng, trong đó:
- Tổng số tiền phí bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm 2317695 với số tiền là 52.500.000 đồng;
- Tổng số tiền phí bảo hiểm của hợp đồng bảo hiểm 1307161: với số tiền là 36.000.000 đồng.
Bà G khởi kiện yêu cầu Công ty B trả lại tiền phí bảo hiểm đã nộp của hai hợp đồng bảo hiểm với số tiền là 88.500.000đồng là không có căn cứ, vì những lý do sau:
Thứ nhất: Hợp đồng bảo hiểm 2317695 ngày 02/11/2016 và hợp đồng bảo hiểm 1307161 ngày 27/3/2017 được xác lập và thực hiện đúng theo quy định của pháp luật, Quy tắc và Điều khoản và có hiệu lực ràng buộc các bên, cụ thể:
Dựa trên Giấy yêu cầu bảo hiểm do bà G là Bên mua bảo hiểm kê khai thông tin và ký tên vào Giấy yêu cầu bảo hiểm, HĐBH số 2317695 và HĐBH 1307161 đã được Công ty chấp thuận phát hành. Tại thời điểm ký (các) Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm và giao kết HĐBH số 2317695 và HĐBH số 1307161, bà G hoàn toàn tự nguyện và đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Mục đích và nội dung của HĐBH số 2317695 và HĐBH số 307161 không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội. Bên cạnh đó, Quy tắc và Điều khoản của Bảo hiểm A (2014) và An Phúc H (2014) đã được chấp thuận bởi Bộ T6 theo Công văn số 7601/BTC-QLBH ngày 09/6/2014.
Về hình thức: Hợp đồng bảo hiểm được lập thành văn bản, Công ty đã phát hành Giấy chứng nhận bảo hiểm cho Bà G, đây bằng chứng của việc giao kết Hợp đồng bảo hiểm.
Ngoài ra, bà G chính là đại lý của Công ty TNHH B phụ trách tư vấn, thực hiện hồ sơ của HĐBH số 1307161. Như vậy, bà G hoàn toàn có đầy đủ năng lực pháp lý lẫn kiến thức, hiểu biết về bảo hiểm nhân thọ. Vì vậy, HĐBH số 2317695 và HĐBH số 1307161 được giao kết và thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Dân sự, có giá trị pháp lý.
5
Thứ hai: Bà G đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán phí bảo hiểm đúng hạn dẫn đến HĐBH mất hiệu lực, cụ thể như sau:
Phù hợp với khoản 2 Điều 18 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), Điều 11 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) của HĐBH 2317695 và Điều 6.2 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) HĐBH 1307161 quy định: Bên mua bảo hiểm có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ và đúng hạn ngay cả khi không nhận được Thư thông báo của Công ty về việc đóng phí bảo hiểm.
Đối với HĐBH số 2317695: HĐBH số 2317695 mất hiệu lực kể từ ngày 03/5/2020 do Bà G không nộp phí bảo hiểm đúng hạn và không đóng phí kể cả trong khoảng thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm theo quy định tại Điều 12, Điều 13 và Điều 14 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014). Do HĐBH số 2317695 mất hiệu lực quá 24 tháng kể từ ngày mất hiệu lực nên căn cứ Điều 14.2.b Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014), HĐBH số 2317695 đã chấm dứt hiệu lực. Khi đó, phù hợp với quy định tại Điều 35.3 của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010), Công ty chỉ chi trả cho bà G Giá trị tiền mặt thực trả số tiền 3.023.000 đồng. Đến thời điểm hiện tại, bà G vẫn chưa nhận lại Giá trị tiền mặt thực trả nêu trên mặc dù Công ty đã thông báo cho bà G, cụ thể: Tổng số tiền bà G nộp cho Công ty là 52.500.000đồng, thường duy trì hợp đồng là 60.000đồng; giá trị tài khoản hợp đồng = Số tiền tích lũy từ các Phí bảo hiểm được phân bổ - các khoản khấu trừ hàng tháng (Điều 1.33 Quy tắc điều khoản An Tâm H (2014), các khoản khấu trừ hàng tháng bao gồm: Chi phí bảo hiểm rủi ro và chi phí quản lý hợp đồng (Điều 1.30 Quy tắc điều khoản An Tâm H (2014) - Điều 31 Quy tắc điều khoản An Tâm H (2014) - Điều 32 Quy tắc điều khoản An Tâm H (2014) - Điều 33 Quy tắc điều khoản An Tâm H (2014) + Điều 23 Quy tắc điều khoản An Tâm H (2014) + Điều 22 Quy tắc điều khoản An Tâm H (2014) = 52.560.000₫ – 18.359.600₫ – 16.780.000₫ – 1.553.000đ + 1.926.800đ+ 229.000đ = 18.023.000đ – Điều 35 Quy tắc điều khoản An Tâm H (2014), từ năm 1-5 là 100%Phí bảo hiểm cơ bản quy năm. HĐBH này chấm dứt tại năm thứ 4 nên chịu chi phí chấm dứt 100% Phí bảo hiểm cơ bản quy năm = 18.023.000₫ – 15.000.000₫ = 3.023.000₫ (ba triệu không trăm hai mươi ba nghìn đồng), đây là giá trị hoàn lại của hợp đồng cho bà G theo quy tắc và điều khoản của hợp đồng đã ký.
Đối với HĐBH số 1307161 ngày 27/3/2017: Căn cứ Điều 7, Điều 8.3 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014), HĐBH 1307161 mất hiệu lực kể từ ngày 06/10/2020 do tổng các khoản tạm ứng và Khoản giảm thu nhập đầu tư đã vượt quá Giá trị hoàn lại. Tại thời điểm HĐBH số 1307161 mất hiệu lực, HĐBH số
6
1307161 không còn Giá trị hoàn lại do Giá trị hoàn lại đã được tạm ứng để tự động đóng phí theo Điều 8.3 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014).
Như vậy, phù hợp với quy định của Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000 (sửa đổi, bổ sung 2010) và quy định của HĐBH, việc bà G không đóng phí bảo hiểm dẫn đến HĐBH mất hiệu lực là hoàn toàn do lỗi của bà G, cụ thể: Tổng số tiền khách hàng đã nộp cho Công ty là 36.000.000 đ, Tổng phí bảo hiểm đã đóng vào HĐBH = số phí đã nộp + Khoản tạm ứng và khoản giảm thu nhập đầu tư (Khoản tạm ứng để đóng phí bảo hiểm tự động) = 36.000.000đ + 6.312.300 = Giá trị hoàn lại = Giá trị hợp đồng theo Điều 1.24 Quy tắc điều khoản An Phúc H (2014) - Chi phí chấm dứt hợp đồng trước thời hạn theo Điều 1.25 Quy tắc điều khoản An Phúc H (2014) = 20.175.400₫ -14.122.800đ = 6.052.600 đ, khoản tạm ứng và khoản giảm thu nhập đầu tư (Khoản tạm ứng để đóng phí bảo hiểm tự động theo Điều 8.3 Quy tắc điều khoản hợp đồng) là 6.312.300 đồng. Do đó giá trị thực trả tiền mặt là 6.052.600đ – 6.312.300đ = 0 đồng.
Thứ ba: Bà G yêu cầu Công ty hoàn trả tiền phí bảo hiểm đã nộp của HĐBH 2317695 và HĐBH 1307161 tổng số tiền 88.500.000đồng là không có căn cứ do đã hết thời hạn xem xét lại theo quy định tại Quy tắc và Điều khoản
Điều 4 của Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) và Điều 4 của Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm An Phúc H (2014) quy định: Trong thời hạn 21 (hai mươi mốt) ngày kể từ ngày Hợp đồng bảo hiểm được phát hành, nếu Bên mua bảo hiểm trả lại Hợp đồng bảo hiểm cho Công ty cùng với văn bản yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng bảo hiểm, Công ty sẽ hoàn trả lại phí bảo hiểm mà Bên mua bảo hiểm đã đóng, không tính lãi, sau khi khấu trừ chi phí khám, xét nghiệm y khoa liên quan đến Hợp đồng bảo hiểm (nếu có). Tuy nhiên trong thời gian 21 ngày kể từ ngày phát hành của HĐBH số 2317695 (ngày 03/11/2016) và H ĐBH số 1307161 (ngày 28/3/2017), Công ty không nhận được bất kỳ văn bản nào của Bà G yêu cầu hủy bỏ 02 Hợp đồng bảo hiểm này.
Ngày 27/7/2020, Bà G có Đơn yêu cầu hoàn phí bảo hiểm của 02 Hợp đồng bảo hiểm với lý do bệnh tật là không có cơ sở pháp lý phù hợp với Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) và Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) của HĐBH số 2317695 và HĐBH số 1307161 và quy định của pháp luật.
Như vậy, từ những nội dung và căn cứ nêu trên, việc Công ty không hoàn trả tiền phí bảo hiểm đã nộp của HĐBH số 2317695 và HĐBH số 1307161 mà chỉ chi trả Giá trị tiền mặt thực trả số tiền là 3.023.000 đồng là hoàn toàn tuân thủ đúng quy định của pháp luật, Quy tắc và Điều khoản của sản phẩm bảo hiểm trong các HĐBH số 2317695 và số HĐBH 1307161.
Công ty TNHH B đề nghị Tòa án bác toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
7
Với nội dung nêu trên, Bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 17/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên đã quyết định:
Căn cứ Điều 117, Điều 119, Điều 401, Điều 405 của Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 147, Khoản 2 Điều 244, khoản 4 Điều 236, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự;
Căn cứ Điều 12, Điều 14, khoản 2, khoản 3 Điều 35 Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2000;
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12, khoản 2, khoản 4 Điều 26 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội. Xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu của nguyên đơn bà Nguyễn Thị G:
Buộc Công ty TNHH B có nghĩa vụ thanh toán cho bà Nguyễn Thị G số tiền 3.023.000đồng (ba triệu không trăm hai mươi ba nghìn đồng) của hợp đồng bảo hiểm theo giấy chứng nhận bảo hiểm số 2317695 ngày 02/11/2016.
Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G đòi Công ty TNHH B trả số tiền 81.977.000đồng của hai hợp đồng bảo hiểm.
Về tiền lãi suất: Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G đòi Công ty B- Ichi số tiền lãi của 02 hợp đồng bảo hiểm là 12.112.500 đồng.
Về bồi thường thiệt hại về tinh thần, sức khỏe: Không chấp nhận yêu cầu bồi thường của bà G.
2. Về án phí: Buộc bà Nguyễn Thị G phải chịu 4.704.500đồng, nhưng được trừ vài số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.212.000 đồng theo biên lai thu số 0002066 ngày 28/02/2023 tại Chi cục thi hành án tỉnh Bắc Giang, bà G còn phải nộp tiếp số tiền còn thiếu là 2.492.450 đồng. Miễn án phí bồi thường thiệt hại cho bà G.
Buộc Công ty TNHH B phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
3. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà G đối với số tiền 3.500.000đồng.
Ngoài ra bản án còn tuyên về quyền kháng cáo cho các bên đương sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm: Ngày 30/11/2023, nguyên đơn bà Nguyễn Thị G nộp đơn kháng cáo với nội dung: Kháng cáo toàn bộ bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày17/11/2023, đề nghị sửa án sơ thẩm, chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án nhân dân huyện Tân Yên giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.
Ngày 30/11/2023, bị đơn nộp đơn kháng cáo, đề nghị sửa bản án sơ thẩm, không chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn. Ngay sau khi nộp đơn kháng cáo bị đơn đã có văn bản xin rút kháng cáo và trình bày tại phiên tòa không
8
kháng cáo đối với bản án dân sự sơ thẩm 77/2023/DS-ST ngày 17/11/2023 của Toà án nhân dân huyện Tân Yên.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn có mặt giữ nguyên yêu cầu khởi kiện, yêu cầu kháng cáo. Các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án.
Nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và nội dung kháng cáo.Việc nguyên đơn ký 02 hợp đồng bảo hiểm là tự nguyện. Căn cứ nguyên đơn yêu cầu trả lãi, yêu cầu bồi thường là do bị đơn không trả tiền kịp thời, bị đơn do không am hiểu pháp luật phải thuê Luật sư, phải đi lại nhiều. Đề nghị chuyển hồ sơ sang Cơ quan Cảnh sát điều tra để giải quyết theo thẩm quyền vì có dấu hiệu tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.
Người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Đề nghị hủy bản án sơ thẩm hoặc chuyển hồ sơ sang Cơ quan Cảnh sát điều tra để giải quyết theo thẩm quyền vì có dấu hiệu tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản vì hai hợp đồng bảo hiểm vô hiệu về chủ thể do năng lực dân sự không phù hợp với hợp đồng, đối tượng không thể thực hiện được do bà G bị bệnh, hợp đồng không tuân thủ nội dung và hình thức, không có phụ lục hợp đồng, vi phạm nghiêm trọng Bộ luật Dân sự và Luật kinh doanh bảo hiểm. Hợp đồng bảo hiểm với điều khoản trong Quy tắc bảo hiểm không có mối quan hệ ràng buộc, không phải phụ lục hợp đồng, không có chữ ký bên mua bảo hiểm nên không có giá trị pháp lý, không dùng để đánh giá 2 hợp đồng.Bị đơn đơn phương đình chỉ hợp đồng bảo hiểm là trái quy định.
Người đại diện theo ủy quyền của bị đơn trình bày: Kháng cáo của bà G là không có căn cứ, không có tài liệu chứng minh. Bị đơn đề nghị chuyển hồ sơ sang cơ quan điều tra là không có căn cứ vì bà G ký hợp đồng là tự nguyện, bà G đã đóng phí, hợp đồng là hợp pháp, phù hợp với quy định pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bà G, giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang phát biểu quan điểm:
- Về tố tụng: Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang và các đương sự đã chấp hành đầy đủ các trình tự, thủ tục của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm Toà án nhân dân tỉnh Bắc Giang áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự: Sửa bản án sơ thẩm đối với phần án phí, buộc bà G phải chịu 2.500.000đồng án phí đối với yêu cầu khởi kiện đòi bồi thường tiền thuê luật sư, tiền công đi lại; không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị G.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị G phải chịu án phí dân sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
9
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn, theo đúng quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng Dân sự nên là đơn kháng cáo hợp pháp. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo của nguyên đơn theo trình tự phúc thẩm.
[2]. Xét nội dung kháng cáo của bà Nguyễn Thị G thì thấy:
[2.1] Ngày 02/11/2016 và ngày 27/3/2017 bà Nguyễn Thị G và Công ty TNHH B - B có ký kết hợp đồng bảo hiểm số 2317695 và hợp đồng bảo hiểm số 1307161, hình thức của hợp đồng là hợp đồng theo mẫu. Cả hai hợp đồng nêu trên được ký kết dựa trên Giấy yêu cầu bảo hiểm do bà G là Bên mua bảo hiểm kê khai thông tin và ký tên vào Giấy yêu cầu bảo hiểm. Tại giấy yêu cầu bảo hiểm nhân thọ liên kết chung, quyền lợi bảo hiểm bà G yêu cầu là An Tâm H (2014) và An Phúc H (2014). Quy tắc và Điều khoản của Bảo hiểm A (2014) và An Phúc H (2014) đã được chấp thuận bởi cơ quan nhà nước có thẩm quyền là Bộ T6 theo Công văn số 7601/BTC-QLBH ngày 09/6/2014. Hợp đồng hiểm số 2317695 và hợp đồng bảo hiểm số 1307161 đều đã được Công ty bảo hiểm cấp giấy chứng nhận bảo hiểm, đã có hiệu lực pháp luật (BL 217, BL 228). Bà G đã thực hiện nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận ký kết.
Như vậy,tại thời điểm giao kết, ký kết các hợp đồng bảo hiểm số 2317695 và số 1307161, bà G hoàn toàn tự nguyện và có đầy đủ năng lực hành vi dân sự. Mục đích, nội dung và hình thức của hợp đồng bảo hiểm số 2317695 và hợp đồng bảo hiểm số 307161 không vi phạm điều cấm của luật, phù hợp với quy định tại Điều 405 Bộ luật Dân sự; Điều 12, Điều 13, Điều 14 Luật Kinh doanh bảo hiểm 2000.
[2.2] Tại Hợp đồng bảo hiểm số 2317695 và hợp đồng bảo hiểm số 1307161 đều ghi rõ “Hợp đồng này xác nhận Công ty B đã nhận Hồ sơ yêu cầu bảo hiểm từ Bên mua bảo hiểm và đã chấp nhận bảo hiểm theo các Quy tắc và điều khoản bảo hiểm cùng văn bản thỏa thuận (nếu có) kèm theo Hợp đồng này. Daichi B cam kết rằng nếu Bên mua bảo hiểm nộp đầy đủ các khoản phí đến hạn, Dlchi B có trách nhiệm chi trả các Quyền lợi bảo hiểm cụ thể theo các điều kiện, Quy tắc và điều khoản của hợp đồng này. Qúy khách vui lòng tham khảo kỹ về nội dung Hợp đồng bảo hiểm, những điều kiện, Quy tắc và điều khoản cũng như nghĩa vụ để chắc chắn Hợp đồng bảo hiểm đã đáp ứng đúng nhu cầu của Qúy khách”. Tại T5 xác nhận về việc giao nhận bộ H2 ngày 14/11/2016 và ngày 07/4/2017 thể hiện bà Nguyễn Thị G đã được Công ty B cho
10
bộ hợp đồng bảo hiểm gồm: Giấy chứng nhận bảo hiểm, các Quy tắc và Điều khoản bảo hiểm; bản sao giấy yêu cầu bảo hiểm, bản sao bảng minh họa quyền lợi sản phẩm bảo hiểm và các giấy tờ liên quan nếu có. Tại Điều 1.2 Quy tắc và Điều khoản A (2014) và Quy tắc A (2014) đều định nghĩa Hợp đồng bảo hiểm bao gồm: Giấy chứng nhận bảo hiểm, các Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm; Quy tắc và Điều khoản sản phẩm bảo hiểm bổ sung và các thỏa thuận bằng văn bản khác của hai bên nếu có trong quá trình giao kết và thực hiện Hợp đồng bảo hiểm, bản sao giấy yêu cầu bảo hiểm. Tại hồ sơ Hợp đồng bảo hiểm số 2317695 bà G ký xác nhận về việc “đã được đọc và được tư vấn đầy đủ, đã hiểu rõ đặc điểm của sản phẩm bảo hiểm, đồng ý tham gia sản phẩm bảo hiểm liên kết chung và đọc kỹ nội dung Quy tắc Điều khoản hợp đồng ngay khi hợp đồng được phát hành” (BL 56). Đối với Hợp đồng bảo hiểm số 1307161, bà G chính là tư vấn tài chính khai thác. Do vậy, xác định bà G đã được biết, hiểu về các điều khoản tại Quy tắc và Điều khoản A (2014) và An Phúc H (2014) khi thực hiện giao kết và ký kết các hợp đồng bảo hiểm.
[2.3] Theo Quy tắc và Điều khoản bảo hiểm bổ sung bảo hiểm bệnh hiểm nghèo cao cấp toàn diện thì bệnh rối loạn chức năng tiền đình, tăng huyết áp, đau lưng kèm đau dây thần kinh tọa, bệnh tiểu đường, nhiễm mỡ không thuộc danh sách các bệnh hiểm nghèo nghiêm trọng.
[2.4] Từ những phân tích nêu trên thấy bà G, người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà G kháng cáo cho rằng: Quy tắc và Điều khoản của Bảo hiểm A (2014) và A (2014) và hợp đồng bảo hiểm không có mối quan hệ ràng buộc; không phải phụ lục hợp đồng; không có chữ ký bên mua bảo hiểm nên không có giá trị pháp lý; không dùng để đánh giá hợp đồng; hợp đồng bảo hiểm vô hiệu do vi phạm quy định Bộ luật dân sự, Luật kinh doanh bảo hiểm vì chủ thể năng lực dân sự không phù hợp với hợp đồng, hợp đồng không tuân thủ về nội dung, hình thức, đối tượng không thể thực hiện được (do bà G bị bệnh tiểu đường, máu nhiễm mỡ); xác định có dấu hiệu tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, đề nghị chuyển hồ sơ sang cơ quan cảnh sát điều tra là không có căn cứ.
[2.5] Xét về hợp đồng bảo hiểm số 2317695 ngày 02/11/2016:
[2.5.1] Theo giấy chứng nhận bảo hiểm ngày 04/11/2016, hợp đồng bảo hiểm số 2317695 bắt đầu có hiệu lực từ 03/11/2016 với bên mua bảo hiểm là bà Nguyễn Thị G, người được bảo hiểm chính là Nguyễn Văn T3, quyển lợi bảo hiểm chính là An Tâm H (2014), số tiền bảo hiểm là 669.288.000 đồng, số tiền phí đóng là 15.000.000đ/năm, phương thức đóng phí là 1 năm đóng 1 lần, thời hạn bảo hiểm là 15 năm. Quá trình tham gia tố tụng các đương sự đều thống nhất xác định bà G đã đóng phí đến ngày hết ngày 03/5/2020 với tổng thời gian được 4 năm 06 tháng với số phí là 52.500.000đồng.
11
[2.5.2] Theo khoản 2 Điều 18 Luật kinh doanh bảo hiểm; Điều 11 Quy tắc và điều khoản bảo hiểm An Tâm H (2014) thì bà G có nghĩa vụ đóng phí bảo hiểm đầy đủ, đúng hạn và đảm bảo duy trì. Tuy nhiên, đến hạn nộp phí bảo hiểm vào ngày 03/5/2020 bà G không thực hiện việc đóng phí theo thỏa thuận kể cả trong khoảng thời gian gia hạn đóng phí bảo hiểm là vi phạm khoản 2 Điều 18 Luật kinh doanh bảo hiểm; Điều 11, Điều 12, Điều 13 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014). Kết thúc thời hạn gia hạn đóng phí hiểm vào ngày 02/7/2020, bà G vẫn không nộp số tiền phí bảo hiểm cho kỳ phí đến hạn bảo hiểm dẫn đến Hợp đồng bảo hiểm số 2317695 tạm thời mất hiệu lực vào ngày 03/5/2020. Bà G đã được Công ty thông báo về việc hợp đồng bảo hiểm nhân thọ số 2317695 tạm thời mất hiệu lực, được thông báo thủ tục khôi phục hiệu lực hợp đồng nhưng không thực hiện (thể hiện tại Thư báo ngày 02/7/2020, ngày 09/9/2020, ngày 04/11/2030 - BL 222 đến BL 224). Do vậy, ngày 07/7/2022 Công ty đã ra thông báo về việc hợp đồng bảo hiểm nhân thọ đã chấm dứt hợp đồng là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 23 Luật kinh doanh bảo hiểm; mục 14.4.b Điểu 14 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) - (BL 221).
[2.5.3] Theo Điều 14 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) thì “Trong trường hợp hợp đồng bảo hiểm chấm dứt theo quy định tại Điều 14.2.b, D1chi B sẽ trả lại cho Bên mua bảo hiểm Giá trị tiền mặt thực trả (nếu có)”. Theo mục 1.35 Điều 1 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) thì Giá trị tiền mặt thực trả là giá trị thu được sau khi lấy Giá trị hoàn lại trừ đi các Khoản nợ (nếu có). Theo mục 1.34 Điều 1 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) thì Giá trị hoàn lại là giá trị thu được sau khi lấy Giá trị tài khoản hợp đồng trừ đi Chi phí chấm dứt hợp đồng trước hạn. Theo Điều 35 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) thì Chi phí chấm dứt hợp đồng trước hạn tùy thuộc vào Năm hợp đồng và là tỷ lệ phần trăm trên giá trị trung bình của P bảo hiểm cơ bản quy năm của 12 tháng liền kề trước đó. Chi phí chấm dứt hợp đồng trước thời hạn chỉ áp dụng trong 9 năm hợp đồng đầu tiên theo mức: Từ năm thứ 1 đến 5 tỷ lệ chi phí là 100% . Hợp đồng bảo hiểm 2317695 chấm dứt tại năm thứ 4 nên chịu chi phí chấm dứt hợp đồng 100% phí bảo hiểm cơ bản quy năm là 15.000.000 đồng. Theo mục 1.33 Điều 1 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) thì Giá trị tài khoản hợp đồng là số tiền được tích lũy từ các khoản Phí bảo hiểm được phân bổ sau khi đã trừ đi Khoản khấu trừ hàng tháng và các Khoản nợ (nếu có). Theo mục 1.30 Điều 1 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) thì Khoản khấu trừ hàng tháng là khoản tiền D1chi B khấu trừ hàng tháng từ Giá trị tài khoản hợp đồng bao gồm Chi phí bảo hiểm rủi ro và Chi phí quản lý hợp đồng. Theo Điều 31, Điều 32, Điều 33 thì Chi phí ban đầu là 18.359.600 đồng, Chi phí bảo hiểm rủi ro là 16.780.000đồng, Chi phí quản lý hợp đồng là 1.553.200đồng. Tiền lãi
12
từ kết quả đầu tư là 1.926.800đồng, tiền thưởng duy trì hợp đồng là 229.000đồng (Điều 22, Điều 23 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm An Tâm H).
Tổng số tiền phí bà G đóng vào hợp đồng bảo hiểm là 52.500.000đ + tiền thưởng của hợp đồng bảo hiểm là 60.000đồng = 52.560.000đồng. Hợp đồng bảo hiểm không có Khoản nợ phải trừ. Do đó, bà G chỉ được nhận giá trị tiền mặt thực trả của hợp đồng bảo hiểm số 2317695 ngày 02/11/2016 với số tiền 3.023.000đồng như trình bày của Công ty B là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 1, Điều 4, Điều 14, Điều 22, Điều 23, Điều 31, Điều 32, Điều 33, Điều 35 Quy tắc và Điều khoản A (2014).
[2.6] Xét hợp đồng bảo hiểm số 1307161 ngày 27/3/2017:
[2.6.1] Theo giấy chứng nhận bảo hiểm ngày 29/3/2017, hợp đồng bảo hiểm số 1307161 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 28/3/2017 với Quyền lợi bảo hiểm chính (Người được bảo hiểm Nguyễn Thị G) An Phúc H (2014) – số tiền bảo hiểm là 113.462.000 đồng, thời hạn bảo hiểm là 15 năm, phí bảo hiểm là 12.000.000đ/năm. Bà G đã đóng số phí bảo hiểm là 36.000.000 đồng. Bà G không đóng phí bảo hiểm đến hạn nộp phí bảo hiểm vào ngày 28/3/2020 là vi phạm khoản 2 Điều 18 luật Kinh doanh bảo hiểm năm 2000; mục 6.2 Điều 6 Quy tắc và điều khoản An Phúc H (2014). Tuy nhiên, hợp đồng bảo hiểm số 1307161 vẫn duy trì hiệu lực vì được đóng phí tự động từ khoản tạm ứng từ Giá trị hoàn lại theo mục 8.3 Điều 8 Quy tắc và Điều khoản A (2014). Ngày 07/10/2020, Công ty bảo hiểm thông báo cho bà G về việc hợp đồng bảo hiểm số 1307161 mất hiệu lực kể ngày 06/10/2020 do tổng các khoản tạm ứng và khoản giảm thu nhập đầu tư đã vượt quá giá trị hoàn lại đồng thời thông báo về thủ tục, thời gian để khôi phục hiệu lực hợp đồng là phù hợp với Điều 7, mục 8.3 Điều 8 Quy tắc và Điều khoản A (2014). Theo trình bày của Công ty B thì tại thời điểm Hợp đồng bảo hiểm số 1307161 mất hiệu lực, hợp đồng bảo hiểm 1307161 không còn giá trị hoàn lại do giá trị hoàn lại đã được tạm ứng để tự động đóng phí theo mục 8.3 Điều 8 Quy tắc và Điều khoản A (2014).
[2.6.2] Theo mục 1.20, mục 1.21 Điều 1 và mục 8.3 Điều 8 Quy tắc và điều khoản An Phúc H (2014) thì tổng phí bảo hiểm đã đóng vào Hợp đồng bảo hiểm = số phí đã nộp là 36.000.000đồng cộng với Khoản tạm ứng và khoản giảm thu nhập đầu tư (Khoản tạm ứng để đóng phí bảo hiểm tự động) là 6.312.300đồng = 42.312.300 đồng. Theo mục 1.26 Điều 1 Quy tắc và điều khoản An Phúc H (2014) thì Giá trị hoàn lại = Giá trị hợp đồng trừ Chi phí chấm dứt hợp đồng trước thời hạn. Theo theo mục 1.24 Điều 1 Quy tắc và điều khoản An Phúc H (2014) thì giá trị hợp đồng = tổng phí bảo hiểm (42.312.300đồng) trừ phí bảo hiểm của sản phẩm bổ sung (9.294.600đồng) trừ phí ban đầu (12.468.200đồng)
13
trừ phí bảo hiểm rủi ro (2.355.400 đồng) cộng lãi của hợp đồng (1.981.300đồng) = 20.175.400đồng. Theo mục 1.25 Điều 1 Quy tắc và điều khoản An Phúc H (2014) thì Chi phí chấm dứt hợp đồng trước thời hạn là 14.122.800 đồng. Như vậy, giá trị hoàn lại = 20.175.400 đồng- 14.122.800đồng = 6.052.600đồng. Theo mục 1.28 Điều 1 Quy tắc và điều khoản An Phúc H (2014) thì giá trị tiền mặt thực trả bằng giá trị hoàn lại là 6.052.600 đồng trừ các khoản nợ (hoản tạm ứng để đóng phí bảo hiểm tự động (theo mục 8.3 Điều 8 Quy tắc và điều khoản A (2014) là 6.312.300 đồng = 0 đồng.
[2.7] Hợp đồng bảo hiểm số 2317695 ngày 02/11/2016 và hợp đồng bảo hiểm số 1307161 ngày 27/3/2017 chấm dứt hiệu lực, mất hiệu lực do bà G vi phạm nghĩa vụ nộp phí bảo hiểm theo thỏa thuận, cam kết. Tại Điều 4 Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) và Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm An Phúc H (2014) quy định: “Trong thời hạn 21 (hai mươi mốt) ngày kể từ ngày Hợp đồng bảo hiểm được phát hành và với điều kiện là chưa xảy ra sự kiện bảo hiểm hoặc chưa có yều cầu giải quyết quyền lợi bảo hiểm nào, Bên mua bảo hiểm có quyền yêu cầu thay đổi, chỉnh sửa hoặc hủy bỏ hợp đồng bảo hiểm. Trong thời gian này, nếu Bên mua bảo hiểm trả lại Hợp đồng bảo hiểm cho Dlchi B cùng với văn bản yêu cầu hủy bỏ Hợp đồng bảo hiểm, D1chi B sẽ hoàn trả lại phí bảo hiểm mà Bên mua bảo hiểm đã đóng…”. Trong thời gian 21 ngày kể từ ngày phát hành HĐBH số 2317695 và HĐBH số 1307161 bà G không có ý kiến, văn bản gì về việc yêu cầu hủy bỏ 02 hợp đồng bảo hiểm này. Do vậy, bà G yêu cầu hoàn trả tiền phí bảo hiểm đã nộp của HĐBH 2317695 và HĐBH 1307161 với tổng số tiền 85.000.000 đồng là không còn trong thời hạn xem xét.
[2.8] Ngày 02/7/2020 Công ty B đã có T5 báo về việc hợp đồng bảo hiểm số 2317695 tạm thời mất hiệu lực kể từ ngày 03/5/2020 (BL 224), thông báo giá trị tiền mặt thực trả còn lại của hợp đồng 3.023.000đồng cho bà G. Ngày 09/9/2020 và ngày 04/11/2020 Công ty T7 có thư báo về việc bổ sung thủ tục khôi phục hiệu lực hợp đồng bảo hiểm, về thủ tục nhận lại số tiền 3.023.000đồng khi hợp đồng mất hiệu lực nhưng bà G không thực hiện.
[2.9] Từ những phân tích đánh giá nêu trên thấy chỉ có căn cứ buộc Công ty B hoàn trả bà G số tiền 3.023.000đồng của HĐBH 2317695, không có căn cứ buộc Công ty bảo hiểm trả lại số tiền phí bảo hiểm đã đóng 81.977.000đồng của HĐBH 2317695 và HĐBH 1307161, trả tiền lãi của số tiền này và yêu cầu bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bà G. Tòa án sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu của bà G là có căn cứ, phù hợp với quy định của Luật kinh doanh bảo hiểm, Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm An Tâm H (2014),Quy tắc và Điều khoản Bảo hiểm A (2014) như viện dẫn, phân tích ở trên. Tại cấp phúc thẩm, bà G không
14
xuất trình thêm được tài liệu, chứng cứ nào khác. Hội đồng xét xử phúc thẩm không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị G như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang là phù hợp.
[3] Bà Nguyễn Thị G không thuộc trường hợp được miễn nộp hoặc không phải nộp tiền án phí. Yêu cầu khởi kiện của bà G về việc buộc Công ty B bồi thường thiệt hại tiền thuê luật sư là 20.000.000đồng, tiền công đi lại là 30.000.000đồng cũng không thuộc trường hợp được miễn nộp án phí hoặc không phải nộp tiền án phí. Tòa án cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà G về việc buộc Công ty B bồi thường thiệt hại tiền thuê luật sư là 20.000.000đồng, tiền công đi lại là 30.000.000đồng nhưng không buộc bà G phải chịu án phí đối với yêu cầu này mà miễn án phí cho bà G là vi phạm khoản 1 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Do vậy, Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm về nghĩa vụ chịu án phí, buộc bà G phải chịu thêm án phí đối với yêu cầu bồi thường tiền thuê Luật sư, tiền công đi lại, cụ thể bà G phải chịu thêm án phí dân sự sơ thẩm là:50.000.000đồng x 5% = 2.500.000đồng. Đối với yêu cầu bồi thường 14.400.000đồng tiền tổn thất tinh thần Tòa án sơ thẩm miễn án phí cho bà Nguyễn Thị G là có căn cứ.
[4] Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000đồng án phí dân sự phúc thẩm theo Điều 148 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 308, Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự: Không chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị G, sửa bản án dân sự sơ thẩm số 77/2023/DS-ST ngày 17/11/2023 của Tòa án nhân dân huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang do Tòa án cấp sơ thẩm quyết định không đúng về án phí.
Xử:
Căn cứ Điều 401, Điều 405 Bộ luật Dân sự;
Căn cứ Điều 12, Điều 13, Điều 14, Điều 15, Điều 17, Điều 18, Điều 23, Điều 30, khoản 2 và khoản 3 Điều 35 Luật Kinh doanh Bảo hiểm năm 2000 (sửa đổi, bổ sung năm 2010);
Căn cứ Điều 147; Điều 148; khoản 2 Điều 244 Bộ luật Tố tụng dân sự;
15
Căn cứ điểm d khoản 1 Điều 12; Điều 26; Điều 29 Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - bà Nguyễn Thị G: Buộc Công ty TNHH B chi trả cho bà Nguyễn Thị G số tiền 3.023.000đồng (bằng chữ: Ba triệu không trăm hai mươi ba nghìn đồng) của hợp đồng bảo hiểm số 2317695 ngày 02/11/2016 theo giấy chứng nhận bảo hiểm số 2317695 ngày 02/11/2016.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G về việc buộc Công ty TNHH B chi trả số tiền 81.977.000đồng của hợp đồng bảo hiểm số 2317695 ngày 02/11/2016 và hợp đồng bảo hiểm số 1307161 ngày 27/3/2017.
3. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G về việc buộc Công ty TNHH B trả 12.112.500đồng tiền lãi của số tiền 85.000.000đồng phí bảo hiểm bà Nguyễn Thị G đã nộp theo hợp đồng bảo hiểm số 2317695 ngày 02/11/2016 và hợp đồng bảo hiểm số1307161 ngày 27/3/2017.
4. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị G về việc buộc Công ty TNHH B bồi thường: Tiền thuê luật sư là 20.000.000đồng, tiền công đi lại là 30.000.000đồng, tiền tổn thất tinh thần là 8 tháng lương cơ bản là 14.400.000đồng.
5.Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà G đối với số tiền 3.500.000đồng.
6. Về án phí:
- Bà Nguyễn Thị G phải chịu 7.204.475đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 2.212.000đồng theo biên lai thu số 0002066 ngày 28/02/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang.
- Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho bà Nguyễn Thị G đối với yêu cầu đòi bồi thường 14.400.000đồng tiền tổn thất tinh thần.
- Công ty TNHH B phải chịu 300.000đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
7. Về án phí dân sự phúc thẩm: Căn cứ Điều 148 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bà Nguyễn Thị G phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu số 0006601 ngày 06/12/2023 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Yên, tỉnh Bắc Giang. Xác nhận bà G đã nộp đủ tiền án phí dân sự phúc thẩm.
16
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a,7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Triệu Thị Luyện |
17
Bản án số 88/2024/DS- PT ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG về tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Số bản án: 88/2024/DS- PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC GIANG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng bảo hiểm giữa bà G và công ty TNHH B
