Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TP. PHAN RANG - THÁP CHÀM

TỈNH NINH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 88/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15 – 11 – 2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp
nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM,

TỈNH NINH THUẬN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đường Nguyễn Thanh Thảo

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Lê Huỳnh Sinh
  2. Ông Trần Văn Bình

Thư ký phiên tòa: Bà Trịnh Minh Hằng - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Rang - Tháp Chàm tham gia phiên tòa: Bà Lê Nguyễn Tường Vy - Kiểm sát viên.

Ngày 15 tháng 11 năm 2022, tại Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 698/2022/TLST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2022 về “ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 82/2022/QĐXXST – HNGĐ ngày 11 tháng 10 năm 2022; Quyết định hoãn phiên tòa số 65/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 10 năm 2022 và Thông báo dời lịch xét xử ngày 27 tháng 10 năm 2022 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1988 (có mặt)

Bị đơn: Ông Bùi Huy T, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Cùng địa chỉ: Thôn C, xã H, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 08/9/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn bà Nguyễn Thị L trình bày: Bà và ông Bùi Huy T tự tìm hiểu và tự nguyện đến với nhau. Vợ chồng chung sống khoảng mười mấy năm nay. Vợ chồng có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã H cấp giấy chứng nhận kết hôn vào ngày 05/7/2019.

Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà mẹ ruột của bà ở thôn C, xã H, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2020 xảy ra mâu thuẫn; Nguyên nhân mâu thuẫn là do ông T thường xuyên cờ bạc, đánh đập vợ con, không có trách nhiệm với gia đình. Hiện vợ chồng đã không còn sống chung với nhau, ông T đã chuyển về nhà cha mẹ ruột sinh sống. Từ khi ly thân, vợ chồng rất ít khi liên lạc, mỗi lần liên lạc là ông T nhắn tin chưởi bới bà hoặc yêu cầu bà đưa tiền cho ông T, chứ không đề cập đến việc vợ chồng quay về đoàn tụ. Mặc dù vợ chồng đã sống ly thân nhưng ông T vẫn thường xuyên xuống nhà bà kiếm chuyện, gây gỗ rồi đánh đập bà, không những đánh tại nhà mà ông T còn đến chỗ bà buôn bán để gây gỗ. Năm 2021, bà đã nộp đơn ly hôn nhưng ông T năn nỉ và hứa sẽ thay đổi nên bà rút đơn về để vợ chồng được đoàn tụ và tiếp tục sống chung. Tuy nhiên, sau đó ông T vẫn chứng nào tật nấy, không thay đổi tính tình, bà cảm thấy cuộc sống vợ chồng rất ngột ngạt, vợ chồng có sống chung cũng không thể hạnh phúc bởi vì bà đã không còn tình cảm với ông T. Do đó, bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Bùi Huy T.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Nguyễn Kim O – sinh ngày 05/4/2010. Từ trước đến nay, bé O đều sống cùng bà và do bà chăm sóc, nuôi dưỡng. Do đó, ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Hiện bà làm nghề buôn bán trái cây và hải sản, thu nhập hàng tháng khoảng từ 8.000.000 đồng – 9.000.000 đồng đủ khả năng để lo cho bé O ăn học và có cuộc sống đầy đủ. Vì vậy, bà không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Bị đơn ông Bùi Huy T đã được Tòa án Thông báo các văn bản tố tụng hợp lệ qua người thân (mẹ ruột của ông T) và niêm yết theo đúng quy định pháp luật để ông T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình, nhưng ông T từ chối tham gia tố tụng, nên Tòa án không thể tiến hành lấy lời khai ghi nhận ý kiến của ông T đối với yêu cầu khởi kiện của bà L.

Tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị L vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và các ý kiến đã trình bày.

Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa sơ thẩm: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi Hội đồng xét xử nghị án, Thẩm phán, thư ký, Hội đồng xét xử đều tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn ông Bùi Huy T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng bị đơn vẫn vắng mặt tại các phiên hòa giải, công bố chứng cứ và tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên căn cứ điểm b khoản 1 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn là thực hiện đúng quy định của pháp luật.

Về quan điểm giải quyết nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử Toà án nhân dân thành phố Phan Rang-Tháp Chàm căn cứ Điều 51, 56, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Bùi Huy T.

Về con chung: Giao con chung cháu O cho bà L được trực tiếp nuôi dưỡng. Ông T không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, sau khi nghe đương sự trình bày ý kiến và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Bùi Huy T và yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi ly hôn. Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án này là “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn có địa chỉ cư trú tại thôn C, xã H, thành phố P nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Rang – Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[1.2] Về sự vắng mặt của bị đơn: Ông Bùi Huy T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa án để tham gia giải quyết vụ án, nên vụ án thuộc trường hợp không tiến hành hòa giải được theo quy định tại Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự. Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông T vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Điều này chứng tỏ ông T đã từ bỏ quyền tham gia tố tụng của mình. Vì vậy, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung tranh chấp:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ vào lời trình bày của bà Nguyễn Thị L và Bản sao Trích lục kết hôn số 192/TLKH-BS ngày 08/9/2022 do Ủy ban nhân dân xã H, thành phố P, tỉnh Ninh Thuận cấp, đủ cơ sở xác định: Quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị L và ông Bùi Huy T là hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L, Hội đồng xét xử thấy: Giữa bà L và ông T thường xuyên phát sinh mâu thuẫn; Nguyên nhân là do ông T thường xuyên cờ bạc, nhậu nhẹt say xỉn, đánh đập vợ con, không có trách nhiệm với gia đình. Khi mâu thuẫn xảy ra, bà L cũng đã khuyên can nhiều lần nhưng không có kết quả. Hiện vợ chồng đã sống ly thân, mặc dù trong thời gian ly thân ông T có chủ động liên lạc với bà L nhưng không nhằm mục đích cải thiện tình cảm vợ chồng mà nhắn tin chưởi bới, xúc phạm đến bà. Tình trạng mâu thuẫn của bà L ông T phù hợp với Đơn xin xác nhận tình trạng hôn nhân có xác nhận của chính quyền địa phương do nguyên đơn cung cấp. Mặt khác, vào tháng 2/2021 bà L nộp đơn ly hôn và đã rút đơn để cho ông T có cơ hội thay đổi và cải thiện tình cảm vợ chồng theo Quyết định đình chỉ số 37/2021/QĐST-HNGĐ ngày 05/02/2021. Tuy nhiên, sau khi trở về sống chung bà L và ông T vẫn không giải quyết được mâu thuẫn của vợ chồng, do đó bà tiếp tục nộp đơn đến Tòa án chứng tỏ tình cảm vợ chồng giữa bà L và ông T đã không còn. Quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa bà L vẫn kiên quyết ly hôn với ông T. Ông T mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến tham gia tố tụng, không cung cấp ý kiến đối với yêu cầu xin ly hôn của bà L; điều này chứng tỏ ông Tâm có thái độ bỏ mặc, không có thiện chí hàn gắn tình cảm vợ chồng.

Xét thấy hôn nhân giữa bà L và ông T đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà Nguyễn Thị L.

[2.2] Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Bùi Nguyễn Kim O – sinh ngày 05/4/2010. Ly hôn, bà L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu O. Xét thấy: Từ trước đến nay, bé O đều sống với bà L và cháu O có nguyện vọng được tiếp tục sống với mẹ. Bà L có nghề nghiệp, có thu nhập và chỗ ở ổn định để nuôi con nên Hội đồng xét xử giao cháu Bùi Nguyễn Kim O cho bà Nguyễn Thị L trực tiếp nuôi dưỡng. Ông Bùi Huy T không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà L không yêu cầu.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà L không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Nguyễn Thị L.

  1. Về hôn nhân: Bà Nguyễn Thị L được ly hôn với ông Bùi Huy T.
  2. Về con chung: Giao cho bà Nguyễn Thị L được quyền trực tiếp nuôi dưỡng con chung Bùi Nguyễn Kim O – sinh ngày 05/4/2010. Ông Bùi Huy T không có nghĩa vụ phải cấp dưỡng nuôi con do bà Nguyễn Thị L không yêu cầu.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con, lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

  1. Về án phí: Bà Nguyễn Thị L phải chịu 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000₫ (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp theo biên lai thu tiền số: 0004484 ngày 08/9/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Phan Rang-Tháp Chàm, tỉnh Ninh Thuận. Bà Nguyễn Thị L đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt, quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Nơi nhận:

  • - Đương sự;
  • - VKSND TP. PR-TC;
  • - Chi cục THADS TP. PR-TC;
  • - TAND tỉnh Ninh Thuận;
  • - UBND xã H
  • (Giấy CNKH số 42, ngày 05/7/2019)
  • - Lưu: Hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Đường Nguyễn Thanh Thảo

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2022/HNGĐ-ST ngày 15/11/2022 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn

  • Số bản án: 88/2022/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 15/11/2022
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN RANG - THÁP CHÀM, TỈNH NINH THUẬN
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger