Hệ thống pháp luật
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TIỀN GIANG


Bản án số: 88/2022/DS-PT
Ngày: 21/4/2022.
V/v tranh chấp: “Chia di sản
thừa kế theo pháp luật”
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH TIỀN GIANG

Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trương Vĩnh Hữu.

Các thẩm phán: Ông Trần Hữu Tính.

Bà Lê Thị Hồng Tâm.

Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Hậu Mộng Thúy, Thẩm tra viên.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Ông Võ Trung Hiếu, Kiểm sát viên.

Trong các ngày 15 và 21 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số: 144/2021/TLST-DS ngày 10 tháng 5 năm 2021 về việc tranh chấp “Chia di sản thừa kế theo pháp luật”;

Do bản án dân sự sơ thẩm số 271/2020/DS-ST ngày 29/10/2020 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang bị kháng cáo;

Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 176/2021/QĐXXPT-DS ngày 17/5/2021 giữa các đương sự:

  • 1. Nguyên đơn: Nguyễn Văn D, sinh năm 1973;
    Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang;
    Tạm trú: khu phố M, phường N, Quận P, thành phố Hồ Chí Minh.
    Người đại diện ủy quyền của ông D: Dương Mỹ L, sinh năm 1988;
    Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang. (có mặt)
  • 2. Bị đơn: Nguyễn Văn P, sinh năm 1954; (có mặt)
    Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
  • 3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    Người kế thừa quyền và nghĩa vụ của ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1948, (chết ngày 25/02/2021):
    • - Bùi Thị R, sinh năm 1952;
      Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    • - Nguyễn Anh T, sinh năm 1981; (có văn bản xin vắng mặt)
      Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Bến Tre.
    • - Nguyễn Anh K, sinh năm 1983;
      Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    • - Nguyễn Thị Châu G, sinh năm 1985;
      Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    Người đại diện ủy quyền của bà R, anh K, chị G: Nguyễn Thị M, sinh năm 1970; (có mặt)
    Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    Nguyễn Thị C, sinh năm 1953; (vắng mặt)
    Nguyễn Thị H, sinh năm 1959; (có mặt)
    Nguyễn Thị M1, sinh năm 1965; (có mặt)
    Cùng địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    Nguyễn Thị E, sinh năm 1964; (có mặt)
    Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    Nguyễn Thị M, sinh năm 1970; (có mặt)
    Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    Nguyễn Thị H1, sinh năm 1961;
    Địa chỉ: khu phố M, thị trấn N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    Nguyễn Thị M2, sinh năm 1968; (có mặt)
    Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    Người đại diện ủy quyền của bà H1: Dương Mỹ L, sinh năm 1988; (có mặt)
    Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang.
    *. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp Nguyễn Văn P, Nguyễn Thị C, Nguyễn Thị H, Nguyễn Thị M1, Nguyễn Thị E, Nguyễn Thị M:
    Luật sư Dương Thị Kim L – thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Tiền Giang; (có mặt)
    Địa chỉ: Ấp M, xã N, thành phố P, tỉnh Tiền Giang.
  • 4. Người kháng cáo: Nguyên đơn Nguyễn Văn D; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị M2.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm, nguyên đơn ông Nguyễn Văn D trình bày: Cha của ông là Nguyễn Văn T (đã chết năm 1987), mẹ là Hồ Thị N (đã chết năm 2011). Khi còn sống cha, mẹ ông D có đứng chủ quyền sở hữu các phần đất cụ thể như sau: Thửa đất số 731, tờ bản đồ số 2, diện tích 4.470m2, đất trồng lúa; Thửa số 522, tờ bản đồ số 2, diện tích 3.150m2, đất trồng lúa; Thửa 940, tờ bản đồ số 2, diện tích 2.430m2, đất thổ cư và cây lâu năm. Tất cả các phần đất trên tại ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang, giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00164 ngày 07/4/1997 do bà Hồ Thị N đứng tên.

Trước khi chết, bà Hồ Thị N không có lập di chúc. Khi còn sống, bà N sống với bà Nguyễn Thị C và ông D. Sau khi chết, ông Nguyễn Văn P quản lý và sử dụng tất cả các phần đất trên, ông D có đề nghị ông P chia cho ông D một phần diện tích đất để sản xuất, sinh sống và thờ cúng ông bà nhưng ông P không đồng ý.

Ông D yêu cầu chia di sản thừa kế phần đất thửa 940, tờ bản đồ số 2, diện tích 2.430m2 đất thổ cư và cây lâu năm, ông nhận 1.000m2, phần còn lại giao cho bà C; Thửa 731 diện tích 4.470m2 đất lúa; Thửa 522 diện tích 3.150m2 đất lúa thì chia đều cho 8 anh chị em.

Bị đơn ông Nguyễn Văn P trình bày: Ông P thống nhất di sản của mẹ ông là cụ Hồ Thị N để lại gồm: Thửa 731 diện tích 4.470m2 đất lúa, tọa lạc ấp M, xã N; thửa 522 diện tích 3.150m2 đất lúa, tại ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang; Thửa 940 diện tích 2.430m2 đất thổ và trồng cây hàng năm tại ấp M, xã N, huyện P, tỉnh Tiền Giang. Một căn nhà trên phần đất thửa 940 là của cha mẹ ông xây dựng, sau đó ông đã bỏ chi phí để tôn tạo thêm, hiện tại bà Nguyễn Thị C đang sống tại đây. Một căn nhà khác do ông xây dựng cũng ở trên phần đất thửa 940. Toàn bộ cây trồng trên đất do ông trồng, hiện ông đang quản lý, sử dụng các thửa đất trên nhưng ở phần đất thửa 940 có chị C ở đó nên chị C là người thu hoạch hoa lợi trên đất của thửa 940 này.

Ông P không đồng ý theo yêu cầu của ông D mà ông P đồng ý giao toàn bộ thửa đất 940 cho bà Nguyễn Thị C và toàn bộ tài sản trên đất; Thửa 731 và thửa 522 chia đều cho 9 phần cho 9 anh chị em, ông D yêu cầu được nhận thửa 522, không yêu cầu chia giá trị cây trồng và hai căn nhà, nếu bà C không được hưởng toàn bộ thửa 940 và tài sản trên thửa 940 thì ông yêu cầu được nhận phần đất và nhà hiện ông đang ở, đồng thời yêu cầu được nhận giá trị cây trồng trên đất và giá trị phần đất ông đã đổ đất lên nền trên thửa 940.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên và những quy định pháp luật, Tòa án nhận định:

[1] Xét quan hệ pháp luật tranh chấp; Thời hạn kháng cáo; Sự có mặt, vắng mặt của đương sự, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn thì vụ án thuộc quan hệ pháp luật tranh chấp “Chia di sản thừa kế theo pháp luật” được quy định tại Điều 649 Bộ luật Dân Sự;

[2] Xét yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn Nguyễn Văn D; Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Nguyễn Thị H1, Nguyễn Thị M2, Hội đồng xét xử xét thấy: Căn cứ vào các biên bản hòa giải của Tòa án cấp sơ thẩm thì Tòa án cấp sơ thẩm chỉ thực hiện hòa giải chia di sản thừa kế các thửa đất 940, 731 và 522; Tại phiên tòa phúc thẩm các đương sự cũng thừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm không tiến hành hòa giải thửa đất 1507 cũng là di sản của cụ Tư và cụ N để lại; Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm vẫn tiến hành chia di sản thừa kế theo pháp luật cả 04 thửa đất 940, 731, 522 và 1507 nên vượt quá yêu cầu khởi kiện, ảnh hưởng đến quyền lợi của các đương sự;

Vì thế Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm thủ tục tố tụng ảnh hưởng đến quyền lợi của đương sự mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được; Do đó Hội đồng xét xử cấp phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 148, khoản 3 Điều 308 và Điều 310 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Căn cứ Luật thi hành án Dân Sự.

Xử: 1. Hủy Bản án dân sự sơ thẩm số 271/2020/DS-ST ngày 29/10/2020 của Toà án nhân dân huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

2. Về án phí dân sự phúc thẩm: Trả lại ông Nguyễn Văn D, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị M2 số tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm mà ông D, bà H1, bà M2 mỗi người đã nộp 300.000 đồng theo các biên lai thu số 0016964, 0016965, 0016966 ngày 10/11/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Công Tây, tỉnh Tiền Giang.

*. Nơi nhận:
- TAND cấp cao;
- VKSND tỉnh Tiền Giang;
- TAND huyện Gò Công Tây;
- THADS huyện Gò Công Tây;
- Đăng cổng thông tin điện tử;
- Các đương sự;
- Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA





Trương Vĩnh Hữu
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 88/2022/DS-PT ngày 21/04/2022 của Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang về chia di sản thừa kế theo pháp luật

  • Số bản án: 88/2022/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Chia di sản thừa kế theo pháp luật
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 21/04/2022
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Toà án nhân dân tỉnh Tiền Giang
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Cha mẹ mất, không để lại di chúc nên phát sinh tranh chấp
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger