|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 879/2024/HSPT Ngày: 28/10/2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
|
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Phương Hạnh; |
|
|
Các thẩm phán: Ông Nguyễn Xuân Điền; |
Bà Trần Thị Quỳnh; |
|
Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Xuân Tùng, Thư ký Toà án nhân dân cấp cao tại Hà Nội. |
|
|
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Trọng Vĩnh, Kiểm sát viên. |
|
Ngày 22 và 28 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 782/2024/TLPT-HS ngày 10 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo Trần Quốc H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 302/2024/HS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội.
-
* Bị cáo có kháng cáo:
Trần Quốc H; sinh ngày 29/7/1962, tại Hà Nội; nơi cư trú: Tổ A (tổ A cũ), phường T, L, Hà Nội; trình độ văn hóa: Lớp 10/10; nghề nghiệp: Nguyên Giám đốc Công ty trách nhiệm hữu hạn T2; giới tính: Nam; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Trần Bá H1 và bà Ngô Thị P (đều đã chết); có vợ là Hồ Thị Thu G (đã ly hôn) và 02 con (con lớn sinh năm 1992, con nhỏ sinh năm 2003); chưa có tiền án, tiền sự; bị bắt truy nã ngày 20/6/2023; có mặt.
-
* Người bào chữa cho bị cáo Trần Quốc H:
Luật sư Nguyễn Văn C và Luật sư Bùi Kiếm L - Công ty L4 thuộc Đoàn luật sư thành phố H, có mặt.
-
* Bị hại có kháng cáo:
Bà Nguyễn Thị Bích T; sinh năm 1964; địa chỉ: Số H, L, phường H, H, Hà Nội; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại: Luật sư Đỗ Hữu Đ - Công ty Luật TNHH Việt Kim thuộc Đoàn luật sư thành phố H, có mặt.
-
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
- - Ông Lê Ngọc L1, sinh năm 1952; có mặt.
- - Bà Triệu Thị L2, sinh năm 1953; có mặt.
- - Chị Lê Ngọc L3, sinh năm 1989; vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Số G N, phường B, H, thành phố Hà Nội;
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 22/7/2013, bà Nguyễn Thị Bích T gửi đơn tố giác đến Cơ quan điều tra về việc bà T bị Trần Quốc H lừa đảo chiếm đoạt 14.000.000.000 (mười bốn tỷ) đồng thông qua việc mua bán nhà đất tại số G đường N, phường B, H, Hà Nội (BL 261).
Bà Nguyễn Thị Bích T khai nhận: Thông qua mối quan hệ xã hội nên năm 2010 bà T quen biết với Trần Quốc H (Giám đốc công ty TNHH T2; trụ sở: Số A phố H, phường P, H, Hà Nội). Cuối năm 2012, H nói chuyện với bà T là muốn bán căn nhà số G đường N; cam kết căn nhà trên là của H, đang được H làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; H đưa bà T xem 04 loại giấy tờ sau:
- + 01 Văn bản cam kết tài sản riêng do chị Hồ Thị Thu G (là vợ của H) ký có nội dung: Trần Quốc H dùng tiền riêng để mua của ông Lê Ngọc L1 và bà Triệu Thị L2 thửa đất số 75 đường N, hiện thửa đất này đang làm thủ tục để cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Chị G cam kết đó là tài sản riêng của H, H được toàn quyền quản lý, sử dụng, định đoạt, mua bán, chuyển nhượng.
- + 01 Phiếu tiếp nhận hồ sơ ngày 22/6/2010 của UBND phường B, H, Hà Nội với nội dung đã tiếp nhận hồ sơ của ông Lê Ngọc L1 đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sử dụng nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại số G đường N
- + 01 Thông báo của UBND phường B ngày 07/11/2011 về kết quả cuộc họp hòa giải tranh chấp đất đai tại số G đường N
- + 01 Hợp đồng ủy quyền số 347/2010/HĐUQ ngày 30/6/2010 tại Văn phòng C3 với nội dung: Ông Lê Ngọc L1, vợ là bà Triệu Thị L2 và con là Lê Ngọc L3 ủy quyền cho Trần Quốc H được thực hiện tiếp việc hoàn tất thủ tục với các cơ quan chức năng để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất tại số G đường N; được quyền quản lý sử dụng, tiến hành các thủ tục để xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền đối với căn nhà, quyền sử dụng đất ở nêu trên; được nhận và bảo quản giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở khi được cơ quan có thẩm quyền cấp. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ở, được toàn quyền quản lý sử dụng, xin phép xây dựng; được chuyển nhượng, bán căn hộ, chuyển quyền sử dụng đất, tặng, cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, cho thuê và các giao dịch dân sự khác đối với quyền sử dụng đất theo đúng quy định của pháp luật.
Tin tưởng các thông tin do Trần Quốc H đưa ra nên ngày 07/02/2013 (tại G đường N), bà T đã ký hợp đồng mua bán nhà, đất tại số G đường N với Trần Quốc H với giá là 15.000.000.000 đồng; bà T đã trả trước 14.000.000.000 đồng và H đã ghi rõ “Tôi đã nhận đủ số tiền trên”; khi nào H làm xong thủ tục sang tên bà T và bàn giao căn nhà trên, bà T có trách nhiệm trả nốt 1.000.000.000 đồng; thời hạn bàn giao nhà chậm nhất là ngày 07/4/2013. Đến hẹn bàn giao nhà là ngày 07/4/2013, bà T đến Văn phòng Công ty T2; H lập Biên bản bàn giao nhà số G đường N cho bà T và đề nghị thuê lại nhà, đất 02 tháng; vì vậy, các bên ký kết hợp đồng thuê nhà với giá là 10.000.000 đồng/tháng, thời hạn thuê đến ngày 07/6/2013.
Sau khi nhận đủ 14.000.000.000 đồng từ bà T, H không thực hiện cam kết và bỏ trốn; bà T giao nộp 01 “Hợp đồng mua bán nhà” giữa Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị Bích T; 01 “Biên bản bàn giao nhà” giữa H và bà T và 01 “Hợp đồng thuê nhà” giữa H và bà T (BL 48- 61).
Tại Kết luận giám định số 6011 ngày 17/9/2013 của Phòng K1- Công an Thành phố H kết luận: Chữ ký, chữ viết tại mục bên bán trong “Hợp đồng mua bán nhà”; trên “Biên bản bàn giao nhà” và trên “Hợp đồng thuê nhà” là chữ ký, chữ viết của Trần Quốc H (bút lục 46- 47).
Kết quả xác minh tại Phòng Tài nguyên và Môi trường quận H xác định: Nguồn gốc căn nhà số G đường N là do bà Nghiêm Thị C1 (mẹ đẻ của ông Lê Ngọc L1) khai hoang để tăng gia trồng trọt ở tại trước cửa Bệnh viện Đ1 (cũ), nay là số 75 đường N từ trước năm 1978. Ngày 10/10/1978, bà C1 viết giấy cho ông L1 được quyền thừa hưởng, sử dụng nhà đất tại số G đường N; ngày 08/6/2012, Hội đồng xét cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất phường B xét duyệt thông qua và có Văn bản ngày 28/12/2012 đề nghị UBND quận H xem xét cấp giấy chứng nhận. Ngày 28/12/2015, UBND quận H đã cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CA 655200 (thửa đất số 5, tờ bản đồ số 6I-I-30); địa chỉ: Số G đường N, phường B, H, Hà Nội cho ông Lê Ngọc L1 và bà Triệu Thị L2 (BL 62- 71; 93- 95) .
Ông Lê Ngọc L1 và bà Triệu Thị L2 khai nhận: Vợ chồng ông L1 và bà L2 không bán nhà, đất tại số G đường N cho H. Do tin tưởng H là Giám đốc công ty TNHH T2, có mối quan hệ quen biết rộng có thể làm được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ngày 30/6/2010 tại Văn phòng C3, ông L1 đã ký Hợp đồng ủy quyền số 347 và bàn giao cho H các giấy tờ có liên quan để nhờ H làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho căn nhà G đường N Sau đó, H không xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông L1 được nên ngày 05/10/2010 ông L1 ký hợp đồng cho H thuê nhà đất tại G đường N trong thời hạn 05 năm kể từ ngày 01/01/2011; 02 năm đầu, H không phải trả tiền thuê nhà nhưng phải chi phí sửa chữa toàn bộ căn nhà; từ năm thứ 3 trở đi, H phải trả tiền thuê nhà là 3.000 USD/tháng (BL 152); sau đó, H đã chi phí sửa chữa nhà và quản lý, sử dụng đến tháng 05 năm 2013 thì nghe nói H đã xuất cảnh sang Trung Quốc nên ngày 12/9/2013 ông L1 đã có đơn đề nghị chấm dứt hợp đồng ủy quyền với Trần Quốc H gửi Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an Thành phố H (BL 192- 215) và đăng tin thông báo về việc chấm dứt ủy quyền nêu trên.
Cơ quan điều tra đã trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên 01 “Hợp đồng ủy quyền” giữa Lê Ngọc L1, Triệu Thị L2, Lê Ngọc L3 và Trần Quốc H; 01 “Hợp đồng thuê tài sản” giữa Lê Ngọc L1, Triệu Thị L2 và Trần Quốc H. Tại Kết luận giám định số 6011 ngày 17/9/2013 của Phòng K1 - Công an Thành phố H kết luận: Chữ viết, chữ ký đứng tên Trần Quốc H dưới mục “Bên được ủy quyền" trên “Hợp đồng ủy quyền” và mục “Đại diện bên B” trên “Hợp đồng thuê tài sản” là chữ ký, chữ viết của Trần Quốc H (BL 46-47).
Quá trình điều tra, Trần Quốc H không thừa nhận hành vi phạm tội và khai nhận: Đầu năm 2010, H ký Hợp đồng đặt cọc để mua căn nhà 75 đường N của vợ chồng ông Lê Ngọc L1, bà Triệu Thị L2 với giá hơn 08 tỷ đồng, H đã trả hơn 5,5 tỷ đồng tiền mặt cho vợ chồng ông L1 và có ông Nguyễn Văn T1 chứng kiến; ông L1 có trách nhiệm hoàn thiện thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sang tên cho H trong vòng 02 tháng thì H sẽ trả nốt số tiền còn lại; H dùng tiền cá nhân để mua nhà mà không liên quan đến Công ty trách nhiệm hữu hạn T2 do H làm Giám đốc. Ông L1 không xin cấp được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất để bàn giao nên ngày 30/6/2010 (tại Văn phòng C3), ông L1 đã ký Hợp đồng ủy quyền số 347 để ủy quyền cho H thực hiện các thủ tục với các cơ quan chức năng để được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; do ông L1 và em trai là Lê Văn C2 có tranh chấp nên H không xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được.
Năm 2012, do cần tiền để kinh doanh nên H đã vay của bà Nguyễn Thị Bích T là 2.000.000.000 đồng (hai tỷ đồng), lãi suất tính theo ngày là 7.000 đồng đối với 1.000.000 đồng (7.000 đồng/1.000.000 đồng/ngày); tính đến ngày 07/02/2013, H còn nợ cả gốc và lãi là 14.000.000.000 đồng. Do làm ăn thua lỗ và bị ép trả nợ nên H phải gán nhà đất tại số G N (đã mua) cho bà T để trừ vào 14.000.000.000 đồng còn nợ. Theo yêu cầu của bà T, H ký vào Hợp đồng mua bán nhà ngày 07/02/2013, Hợp đồng thuê nhà và Biên bản bàn giao nhà cùng ngày 07/4/2013; hẹn sau 02 tháng, sẽ làm được thủ tục sang tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho bà T; do không làm được giấy chứng nhận nhà đất như cam kết nên H đã bỏ trốn sang Trung Quốc làm ăn (xuất cảnh ngày 31/5/2013 tại Cửa khẩu H4); H biết bị cơ quan điều tra khởi tố và truy nã nên không về Việt Nam; ngày 20/6/2023 H bị bắt truy nã tại Đồn biên phòng Cửa khẩu M (BL 154).
Bị hại là bà Nguyễn Thị Bích T khai nhận: Từ trước đến nay bà T chưa bao giờ cho Trần Quốc H vay tiền; số tiền 14.000.000.000 đồng do bà T đã giao cho H là tiền mặt do bà T trả để mua căn nhà số G, đường N; ngoài 04 loại tài liệu do H đã giao, bà T không nhận giấy tờ nào khác; bà T đề nghị xử lý Trần Quốc H theo quy định pháp luật và yêu cầu bồi thường số tiền bị chiếm đoạt là 14.000.000.000 (mười bốn tỷ) đồng.
Kết quả điều tra bổ sung xác định: Ngày 12/01/2010, Trần Quốc H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất với nội dung H mua căn nhà số G đường N của gia đình ông Lê Ngọc L1 với giá là 60.000.000 đồng/m² đất; tổng giá trị hợp đồng là khoảng 8.500.000.000 đồng, diện tích thực tế sẽ xác định theo diện tích ghi trên giấy chứng nhận; thủ tục làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Nguyễn Văn T1 thực hiện không quá 05 tháng kể từ khi ký hợp đồng.
Từ ngày 20/01/2010 đến ngày 05/12/2011 (BL 356- 364), H đã giao tiền đặt cọc cho ông L1 tổng cộng là 5.550.000.000 đồng; ông L1 dùng toàn bộ số tiền do H đã đặt cọc và tiền tự có của gia đình ông L1 để mua 01 căn nhà tại tổ G, phường H, H, Hà Nội (Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 992036 cấp ngày 10/9/2010). Sau đó, do cần tiền kinh doanh nên H nhờ ông Lương bán nhà, đất tại phường H (nêu trên) để cho H vay tiền; ông L1 đã bán ngôi nhà trên cho ông Nguyễn Hồng H2 và cho Trần Quốc H vay toàn bộ số tiền bán nhà này.
Ngày 30/6/2010, tại Văn phòng C3 (số B Hồ T), ông L1 đã ký hợp đồng ủy quyền số 347 với nội dung: Ủy quyền cho H làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho căn nhà G đường N (BL 52- 55). Theo hợp đồng này, H không được bán nhà đất nêu trên khi chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó, H không xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên ông L1 không bán nhà cho H nữa; ngày 05/10/2010 ông L1 ký hợp đồng cho H thuê nhà số G đường N với thời hạn 05 năm (kể từ ngày 01/01/2011) để đặt Văn phòng Công ty T2 là công ty của H (BL 197).
Cuối năm 2012, H nói dối với bà Nguyễn Thị Bích T là căn nhà số G đường N là của H, đang làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và muốn bán để lấy tiền làm ăn; tin tưởng các thông tin do H đưa ra nên bà T đồng ý mua với giá là 15.000.000.000 đồng. Ngày 07/02/2013, tại Văn phòng Công ty T2 (số G đường N), bà T và H ký hợp đồng mua bán nhà, đất số 75 đường N với giá 15.000.000.000 đồng; bà T đã thanh toán là 14.000.000.000 đồng; khi nào H làm xong thủ tục sang tên cho bà T và bàn giao nhà đất thì bà T sẽ trả nốt 1.000.000.000 đồng; thời hạn bàn giao nhà chậm nhất là ngày 07/4/2013 (BL 56).
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 302/2024/HS-ST ngày 04 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội quyết định:
Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 174, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt: Bị cáo Trần Quốc H 18 (Mười tám) năm tù về tội "Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/6/2023.
Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Quốc H.
Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng khoản 1 Điều 48 Bộ luật Hình sự; các Điều 584, 585, 586 và 589 Bộ luật Dân sự buộc bị cáo Trần Quốc H phải bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm cho người bị hại Nguyễn Thị Bích T là 14.000.000.000 (mười bốn tỷ) đồng.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về nghĩa vụ chậm thi thành án, phần xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 12/6/2024, bị cáo Trần Quốc H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 15/6/2024, bị hại là bà Nguyễn Thị Bích T có đơn kháng cáo đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng xác định bị cáo H không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, buộc bị cáo tiếp tục thực hiện hợp đồng và xem xét khởi tố đối với ông Lê Ngọc L1.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Trần Quốc H thừa nhận có ký hợp đồng mua bán nhà đất ngày 12/01/2010, Phụ lục số 1 hợp đồng mua bán ngày 24/5/2010, Hợp đồng thuê nhà ngày 05/10/2010, Hợp đồng ủy quyền ngày 30/6/2010 và Thỏa thuận lộ trình công việc ngày 19/5/2013 với gia đình ông Lê Ngọc L1 và bà Triệu Thị L2. Do gia đình ông L1 chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất nên hai bên thỏa thuận mua bán theo diện tích được cấp giấy chứng nhận sau khi hoàn tất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất với giá 60.000.000 đồng/m². Trần Quốc H đã liên hệ với Phòng Tài nguyên & Môi trường quận H để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng không được cấp do có tranh chấp với em ông L1; đồng thời H đã đặt cọc và nhiều lần thanh toán tiền mua nhà đất cho ông L1 với tổng số tiền là 6.550.000.000 đồng, ông L1 có viết giấy biên nhận. Sau đó, ngày 07/02/2013, Trần Quốc H ký văn bản mua bán nhà đất trên cho bà Nguyễn Thị Bích T với giá 15.000.000.000 đồng, thỏa thuận thời gian làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, bàn giao nhà đất không quá 02 tháng kể từ ngày ký hợp đồng và giao cho bà T một số giấy tờ tài liệu liên quan đến nhà đất nêu trên để cho rằng bị cáo không có hành vi gian dối khi bán nhà đất cho bà T mặc dù việc bán nhà đất cho bà T khi chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là không đúng với nội dung ủy quyền ngày 30/6/2010 của gia đình ông L1, đề nghị Hội đồng xét xử hủy bản án sơ thẩm để xem xét lại tội danh của bị cáo.
Bị hại là bà Nguyễn Thị Bích T có đơn kháng cáo, nhưng vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích nội dung vụ án, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và ý kiến của các Luật sư đã kết luận: Trần Quốc H có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 12/01/2010 với gia đình ông Lê Ngọc L1 và giao tiền đặt cọc, tiền mua nhà đất cho ông L1. Sau đó, gia đình ông L1 đã dùng tiền này để mua căn nhà ở tổ G, phường H, quận H, Hà Nội và bán căn nhà này để lấy tiền cho Trần Quốc H vay. Các văn bản liên quan đến chuyển nhượng nhà đất 75 N, hợp đồng ủy quyền giữa gia đình ông Lê Ngọc L1 với Trần Quốc H đều thể hiện H chưa có quyền sử dụng và sở hữu hợp pháp đối với nhà đất tại G N, phường B, quận H, Hà Nội nhưng H đã chuyển nhượng nhà đất trên cho bà Nguyễn Thị Bích T, nhận 14.000.000.000 đồng của bà T và ký biên bản bàn giao nhà cho bà T trong khi gia đình ông L1 vẫn đang quản lý, sử dụng nên hành vi bán nhà, nhận tiền của H là hành vi gian dối. Do đó, có đủ căn cứ xác định Trần Quốc H phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Kết luận điều tra, Cáo trạng và bản án sơ thẩm đã thể hiện rõ có việc mua bán nhà đất giữa gia đình ông Lê Ngọc L1 với Trần Quốc H. Tại phiên tòa phúc thẩm Trần Quốc H thừa nhận đã nhận tiền ông L1 bán căn nhà ở tổ G, phường H, quận H, Hà Nội. Căn nhà này có nguồn gốc ông L1 mua từ tiền H đặt cọc và thanh toán tiền mua nhà đất tại G N, phường B, quận H, Hà Nội và hai bên không có tranh chấp về khoản tiền này. Tại cơ quan điều tra, H khai do khó khăn nên bán nhà đất 75 N cho bà T, cam kết nhà đất này thuộc quyền sở hữu của H và ký nhận tiền của T, sau khi nhận được tiền của bà T thì bỏ trốn nên có cơ sở xác định H có hành vi gian dối khi thực hiện bán nhà đất cho bà T. Tại phiên tòa phúc thẩm, Trần Quốc H không cung cấp được tình tiết mới làm căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và kháng cáo của bà T yêu cầu tiếp tục thực hiện hợp đồng mua bán nhà đất 75 N là không có cơ sở. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Trần Quốc H và không chấp nhận kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Bích T, giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Các Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Quốc H cho rằng cơ quan điều tra chưa thực hiện hết các yêu cầu điều tra bổ sung, chưa tiến hành đối chất với ông Nguyễn Văn T1, bỏ qua lời khai của bị cáo H về việc mua bán nhà đất tại G N giữa H với gia đình ông L1, không thu thập tài liệu để làm rõ có hay không có việc mua bán nhà đất giữa gia đình ông L1 với Trần Quốc H nên chưa đánh giá đầy đủ, khách quan, toàn diện làm sáng tỏ sự thật của vụ án. Các cơ quan tiến hành tố tụng cấp sơ thẩm chỉ căn cứ lời khai của bà Nguyễn Thị Bích T, ông Lê Ngọc L1 để quy kết Trần Quốc H tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” trong khi lời khai của ông L1 mâu thuẫn với các chứng cứ vật chất trong vụ án (đó là Hợp đồng mua bán ngày 12/01/2010 giữa gia đình ông L1 với Trần Quốc H, Phụ lục hợp đồng, các giấy biên nhận tiền của ông L1 đã được giám định chữ ký, chữ viết là của ông L1... đặc biệt là các hồ sơ liên quan đến nhà đất mà ông L1 đã giao cho H khi chuyển nhượng) là không phù hợp. Thực tế Trần Quốc H đã thanh toán cho gia đình ông L1 tổng số tiền là 6.550.000.000 đồng trong tổng giá trị hợp đồng khoảng 8.700.000.000 đồng (là diện tích ước tính được ghi trong hợp đồng mua bán ngày 12/01/2010) tương đương 2/3 tổng giá trị hợp đồng và đã nhận nhà đất quản lý, sử dụng nên thuộc trường hợp được công nhận hợp đồng theo quy định của Bộ luật Dân sự và thời hạn ủy quyền của gia đình ông L1 cho H làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất là 15 năm. Do H làm kinh doanh gặp khó khăn nên H đi sang Trung Quốc làm thuê, không phải bỏ trốn. Năm 2015, khi gia đình ông L1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cũng không làm thủ tục sang tên cho Trần Quốc H. Khi bán nhà đất 75 N cho bà T, Trần Quốc H đã cung cấp đầy đủ các thông tin về tình trạng pháp lý nhà đất cho bà T và bàn giao các giấy tờ liên quan đến nhà đất cho bà T nên H không có hành vi gian dối để chiếm đoạt tiền của bà T. Các cơ quan tố tụng cấp sơ thẩm cũng chưa làm rõ có việc Trần Quốc H nhận 14.000.000.000 đồng của bà T từ việc mua bán nhà đất 75 N trong khi H cho rằng trước đó H vay bà T 2.000.000.000 đồng với lãi suất cao nên số tiền 14.000.000.000 đồng là tiền gốc và tiền lãi của khoản tiền vay nêu trên để xác định tính hợp pháp của giao dịch mua bán nhà giữa H với bà T, từ đó mới có cơ sở xác định trách nhiệm dân sự của bị cáo đối với số tiền này. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để điều tra làm rõ bản chất của vụ án.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại trình bày giao dịch mua bán nhà đất 75 N giữa Trần Quốc H với bà Nguyễn Thị Bích T là có thật, được thể hiện bằng hợp đồng mua bán và hợp đồng thuê nhà, Trần Quốc H đã ghi và ký xác nhận đã nhận 14.000.000.000 đồng trong tổng số tiền 15.000.000.000 đồng hai bên thỏa thuận mua bán nhà đất. Tại thời điểm bà T tố cáo Trần Quốc H đến cơ quan điều tra (ngày 18/7/2013-BL261), bà T không biết có việc mua bán nhà đất giữa gia đình ông Lê Ngọc L1 với Trần Quốc H và tại cơ quan điều tra vợ chồng ông L1, bà L2 đều khẳng định không có việc mua bán nhà đất 75 N nên bà T mới tố cáo Trần Quốc H về hành vi lừa đảo. Đến khi Trần Quốc H bị bắt theo lệnh truy nã thì bà T mới biết có hợp đồng mua bán giữa Trần Quốc H với gia đình ông Lê Ngọc L1 và các giấy biên nhận tiền của ông L1 nên bà T mới nhận thấy Trần Quốc H không có hành vi gian dối vì gia đình ông L1 chuyển nhượng nhà đất cho Trần Quốc H có hợp đồng và H đã thanh toán được 2/3 giá trị hợp đồng mua bán cho ông L1 nên thuộc trường hợp được công nhận hợp đồng. H không có hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản mà là giao dịch dân sự. Đề nghị chấp nhận kháng cáo của bà Nguyễn Thị Bích T, buộc Trần Quốc H tiếp tục thực hiện hợp đồng.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Ngọc L1 và bà Triệu Thị L2 trình bày: Ông bà có ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất ngày 12/01/2010 với Trần Quốc H, nhưng cho rằng hai bên đã có văn bản thỏa thuận lộ trình thực hiện việc chuyển nhượng, do H không thực hiện thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo ủy quyền của gia đình ông L1 và ông L1 đã nhiều lần liên lạc, tìm gặp H đều không được nên ông Lương thực H3 theo thỏa thuận tự đi làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất. Đối với số tiền Trần Quốc H giao cho gia đình ông L1, ông L1 đã dùng để mua nhà ở tổ G, phường H, quận H, Hà Nội, sau đó H nhờ vợ chồng ông L1 bán căn nhà này lấy tiền cho H vay nên đối trừ số tiền H giao cho ông L1 và toàn bộ tiền vợ chồng ông L1 bán căn nhà ở tổ G, phường H, quận H, Hà Nội thì vợ chồng ông L1 còn được nhận thêm tiền từ Trần Quốc Hải. Việc gia đình ông L1 làm là đúng quy định của pháp luật, ông L1 và bà L2 nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án, lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; ý kiến của các Luật sư bào chữa cho bị cáo, ý kiến của người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của bị hại và kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận định như sau:
Ngày 12/01/2010, Trần Quốc H ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất với nội dung thỏa thuận mua nhà đất tại G N, phường B, quận H, Hà Nội (sau đây viết tắt là nhà đất 75 N) của gia đình ông Lê Ngọc L1 và bà Triệu Thị L2 với giá 60.000.000 đồng/m² đất (diện tích chuyển nhượng thực tế ghi trong hợp đồng sẽ xác định theo diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Thời điểm này nhà đất 75 N chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất (sau đây viết tắt là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nên hai bên thỏa thuận thống nhất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không quá 05 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng và ông Lương ký hợp đồng dịch vụ với ông Nguyễn Văn T1 thực hiện làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với nhà đất nêu trên. Cùng ngày 12/01/2010, Trần Quốc H đặt cọc cho ông L1 1.000.000.000 đồng, sau đó H nhiều lần giao tiền mua nhà đất cho ông L1 với tổng số tiền là 6.550.000.000 đồng. Ngày 30/6/2010, vợ chồng ông L1, bà L2 đã ký hợp đồng ủy quyền cho Trần Quốc H với nội dung “làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà và quyền sử dụng đất và được quyền quản lý, sử dụng nhà đất, nhận và bảo quản giấy chứng nhận quyền sử dụng đất khi được cơ quan có thẩm quyền cấp. Sau khi nhận giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được chuyển nhượng, tặng cho, thế chấp, bảo lãnh, góp vốn, cho thuê và các giao dịch khác đối với quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật...”. Ngày 05/10/2010, vợ chồng ông L1, bà L2 và Trần Quốc H ký hợp đồng cho thuê nhà 75 Nguyễn Khoái trong thời hạn 05 năm kể từ ngày 01/01/2011 để làm trụ sở Văn phòng Công ty T2 do H làm Giám đốc. Trần Quốc H khai lý do ký hợp đồng mua bán nhà đất 75 N với gia đình ông L1, nhưng sau đó vẫn ký hợp đồng thuê nhà với vợ chồng ông L1 là do ông L1 nói đang có tranh chấp với em trai nên nhờ H ký hợp đồng thuê nhà để tránh việc em trai ông L1 biết việc ông Lương B nhà đất cho H, thực tế H không thuê nhà, không trả bất cứ khoản tiền thuê nhà nào cho ông L1 và đã liên hệ với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, nhưng không được cấp do có tranh chấp với em ông L1.
Quá trình điều tra, Trần Quốc H khai thực chất H không nhận 14.000.000.000 đồng của bà Nguyễn Thị Bích T, số tiền này là tiền chốt nợ của khoản vay 2.000.000.000 đồng H vay của bà T năm 2012 (lãi 7000đ/1triệu/ngày) và giao các giấy tờ liên quan đến nhà đất 75 Nguyễn Khoái gồm: Giấy biên nhận tiền của ông L1, hợp đồng đặt cọc với gia đình ông L1 cho bà T để gán nợ. Ông Lê Ngọc L1 và bà Triệu Thị L2 không thừa nhận bán nhà đất 75 N cho Trần Quốc H mà chỉ ủy quyền cho H làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với nhà đất 75 N và ký hợp đồng cho H thuê nhà. Bị hại là bà Nguyễn Thị Bích T khẳng định không có việc cho Trần Quốc H vay tiền mà thỏa thuận mua bán nhà đất 75 N với H, giá 100.000.000 đồng/m², tổng giá trị nhà đất là 15.000.000 đồng. Khi thỏa thuận mua bán nhà đất, H cho bà T xem các giấy tờ liên quan đến nhà đất gồm: Phiếu tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ngày 22/6/2010 của UBND phường B, Hợp đồng ủy quyền số 347/2010/HĐUQ ngày 30/6/2010 có chứng nhận của Văn phòng C3, Thông báo số 30/TB-UBND ngày 07/11/2011 của UBND phường B về kết quả cuộc họp hòa giải tranh chấp đất đai tại số nhà G N và Văn bản cam kết tài sản riêng ngày 20/01/2013 của bà Hồ Thị Thu G (là vợ của H, đã ly hôn năm 2018) đối với nhà đất tại G N (BL243). Lời khai của bà T phù hợp với lời khai của bà Hồ Thị Thu G về việc tháng 10/2023 (sau khi ly hôn với Trần Quốc H) bà G tìm thấy Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/01/2010 giữa gia đình ông L1 với Trần Quốc H, Phụ lục hợp đồng ngày 24/5/2010, 09 giấy biên nhận tiền của ông Lê Ngọc L1, Thỏa thuận về lộ trình công việc ngày 19/5/2013 giữa ông L1, bà L2 với H và 03 giấy thể hiện H vay lãi ở trong cặp công tác của H nên đã giao cho ông Trần Hoài N (là em của Trần Quốc H)- BL477, 241.
Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và Tòa án cấp sơ thẩm đã trả hồ sơ yêu cầu điều tra bổ sung để làm rõ ý thức chủ quan, tính chất hành vi phạm tội, trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết đối với các tài liệu Luật sư bào chữa cho bị cáo H giao nộp (là các tài liệu do bà Hồ Thị Thu G tìm thấy năm 2023 nêu trên), lấy lời khai của người liên quan đến các tài liệu này. Kết quả điều tra bổ sung đã xác định chữ ký, chữ viết tại các giấy biên nhận tiền; Hợp đồng đặt cọc ngày 12/01/2010; Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất ngày 12/01/2010 và Phụ lục hợp đồng ngày 24/5/2010 là chữ ký, chữ viết của ông L1, bà L2. Kết quả giám định các giấy tờ vay lãi, lời khai của bà T, lời khai của anh Nguyễn Lê N1 (người ký làm chứng tại hợp đồng mua bán nhà giữa H- Thủy BL207) thể hiện các giấy tờ thể hiện vay lãi không phải chữ viết, chữ số của bà T nên không có căn cứ chứng minh bà T cho Trần Quốc H vay nặng lãi (BL448-454, 1287).
Tại phiên tòa phúc thẩm, Trần Quốc H thừa nhận trách nhiệm đối với số tiền 14.000.000.000 đồng H đã ký nhận bà T để đối trừ số tiền vay. Ông Lê Ngọc L1 thừa nhận có việc thỏa thuận mua bán nhà với Trần Quốc H và nhận tiền mua bán nhà đất 75 Nguyễn K theo các giấy nhận tiền có trong hồ sơ vụ án, nhưng cho rằng do nhà đất 75 Nguyễn K chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên hai bên đã thỏa thuận lộ trình mua bán nhà đất là khi có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì phải thông báo để thanh toán nốt số tiền còn thiếu và số tiền H vay từ tiền vợ chồng ông L1 bán căn nhà ở tổ G, phường H, quận H, Hà Nội, nhưng H không tiến hành làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau đó ông L1 không thể liên lạc, không tìm gặp được H nên ông L1 phải tự làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Đối với số tiền H giao cho ông L1 theo các giấy biên nhận, ông L1 đã sử dụng để mua căn nhà ở tổ G, phường H, quận H, Hà Nội. Năm 2013, vợ chồng ông L1 đã bán căn nhà này và cho H vay toàn bộ số tiền bán nhà nên đối trừ số tiền H trả tiền mua nhà 75 N cho vợ chồng ông với tiền vợ chồng ông cho vay từ việc bán căn nhà ở tổ G, phường H, quận H, Hà Nội thì vợ chồng ông L1 còn phải được nhận thêm tiền và cho rằng mọi việc ông L1 làm đều đúng pháp luật.
Trên cơ sở các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như đã phân tích nêu trên và lời khai của Trần Quốc H, lời khai của ông Lê Ngọc L1 tại phiên tòa phúc thẩm có cơ sở xác định giao dịch mua bán nhà đất tại G N giữa gia đình ông Lê Ngọc L1 với Trần Quốc H là có thật và là quan hệ khác độc lập, không liên quan đến giao dịch mua bán nhà giữa Trần Quốc H với bà Nguyễn Thị Bích T nên nếu có tranh chấp liên quan đến giao dịch mua bán nhà đất và giao dịch vay tiền giữa gia đình ông Lê Ngọc L1 với Trần Quốc H thì các bên có thể khởi kiện bằng vụ kiện khác.
Đối với giao dịch mua bán nhà đất giữa Trần Quốc H với bà Nguyễn Thị Bích T thấy: Ngày 07/02/2013, Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị Bích T ký văn bản mua bán nhà đất G N, phường B, quận H, Hà Nội diện tích 150m² với giá 15.000.000.000 đồng. Theo nội dung văn bản này thì bà T trả cho Trần Quốc H 14.000.000.000 đồng, số tiền 1.000.000.000 đồng còn lại bà T sẽ thanh toán nốt khi làm xong thủ tục hành chính và sang tên cho bà T. Thời gian làm giấy tờ không quá 02 tháng kể từ ngày ký văn bản này và thỏa thuận thời gian bàn giao nhà là ngày 07/4/2014. Tại “Biên bản bàn giao nhà” ngày 07/4/2013 giữa Trần Quốc H với bà Nguyễn Thị Bích T có nội dung thể hiện H bàn giao cho bà T: Phiếu tiếp nhận hồ sơ đề nghị cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ngày 22/6/2010 của UBND phường B, Hợp đồng ủy quyền số 347/2010/HĐUQ ngày 30/6/2010 có chứng nhận của Văn phòng C3, Thông báo số 30/TB-UBND ngày 07/11/2011 của UBND phường B về kết quả cuộc họp hòa giải tranh chấp đất đai tại số nhà G N và cam kết căn nhà này là toàn quyền sử dụng của H, không có tranh chấp khiếu kiện, nếu xảy ra khiếu kiện H xin hoàn trả số tiền 14.000.000.000 đồng bà T đã giao cho H theo lãi suất ngân hàng.
Quá trình điều tra, Trần Quốc H và bà Nguyễn Thị Bích T đều có lời khai thể hiện trước khi giao dịch mua bán nhà đất G N, H đưa cho bà T xem các giấy tờ nêu trên. Theo nội dung các giấy tờ này đều thể hiện nhà đất thuộc quyền sở hữu, sử dụng của ông Lê Ngọc L1 và chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ngoài các tài liệu trên, bà T còn khai được H cho xem Văn bản cam kết tài sản riêng ngày 20/01/2013 của bà Hồ Thị Thu G (là vợ của H, đã ly hôn năm 2018) đối với nhà đất tại G N và H nói đã mua, trả gần hết tiền cho vợ chồng ông L1, bà L2. Tại đơn kháng cáo của bà T và trình bày của người bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của bà T tại phiên tòa phúc thẩm cũng đều khẳng định khi bán nhà đất 75 N cho bà T, Trần Quốc H không không che giấu thông tin nhà đất, không gian dối nhằm mục đích để bà T chuyển tiền cho H, thời điểm năm 2013 bà T không biết H ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất 75 N với vợ chồng ông L1 nên mới tố cáo H có hành vi lừa đảo.
Như vậy, nhà đất G N, phường B, quận H, Hà Nội có nguồn gốc thuộc quyền sở hữu, sử dụng của gia đình ông Lê Ngọc L1, nhưng chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Năm 2010, gia đình ông L1 đã ký văn bản thỏa thuận chuyển nhượng nhà đất cho Trần Quốc H, đã nhận tiền đặt cọc, tiền chuyển nhượng nhà đất tương đương 2/3 giá trị hợp đồng, giao nhà và các giấy tờ liên quan đến nhà đất cho Trần Quốc H để làm thủ tục xin cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo Hợp đồng ủy quyền ngày 30/6/2010, nhưng H không xin được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản gắn liền với đất đối với nhà đất nhận chuyển nhượng. Năm 2013, khi bán nhà đất trên cho bà Nguyễn Thị Bích T, H đã đưa cho bà T xem các giấy tờ liên quan đến nhà đất nêu trên và bà T cũng xác nhận được xem các giấy tờ liên quan đến nhà đất này nên có cơ sở xác định khi giao dịch chuyển nhượng nhà đất bà T đã biết rõ tình trạng giấy tờ nhà đất 75 Nguyễn Khoái mang tên ông Lê Ngọc L1, chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và khi bàn giao nhà cho bà T, H đã cam kết nếu có tranh chấp sẽ hoàn trả cho bà T số tiền 14.000.000.000 đồng đã nhận theo lãi suất ngân hàng nên có đủ cơ sở xác định H không có dấu hiệu gian dối khi ký kết văn bản bán nhà để chiếm đoạt tiền của bà T, việc H nhận 14.000.000.000 đồng của bà T là trên cơ sở giao dịch mua bán nhà đất 75 N được thể hiện bằng việc hai bên ký kết Hợp đồng mua bán nhà đất 75 Nguyễn Khoái ngày 07/02/2013 và Hợp đồng thuê nhà ngày 07/4/2013. Tuy nhiên, khi đến thời hạn giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; trả nhà theo thỏa thuận đã ký kết thì H không thực hiện theo đúng thỏa thuận và cũng không trả lại tiền cho bà T mà bỏ trốn sang Trung Quốc cho đến ngày 21/6/2023 thì bị bắt theo lệnh truy nã nên hành vi của Trần Quốc H là hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Các Luật sư bào chữa cho Trần Quốc H cho rằng H không bỏ trốn mà sang Trung Quốc làm thuê, nhưng tại bản cung ngày 21/6/2023 H đã thừa nhận đến thời hạn do không làm được giấy tờ nhà đất như hứa hẹn nên đã tránh mặt không gặp bà T và xuất cảnh sang Trung Quốc. Quá trình làm ăn ở Trung Quốc, H biết bà T làm đơn tố giác đến cơ quan điều tra, biết bị khởi tố và truy nã nhưng lo sợ bị bắt nên không về Việt Nam (BL179) nên ý kiến của các Luật sư về việc H không bỏ trốn là không có cơ sở chấp nhận.
Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ lời khai ban đầu của ông L1 tại cơ quan điều tra, Hợp đồng ủy quyền ngày 30/6/2010 và Hợp đồng thuê nhà ngày 05/10/2010 giữa vợ chồng ông Lê Ngọc L1 với Trần Quốc H xác định H chưa có quyền sử dụng đất nhưng đã bán nhà đất cho bà T là hành vi gian dối chiếm đoạt tài sản để xét xử Trần Quốc H về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” là không phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án như đã phân tích nêu trên và không thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” nên cần sửa lại tội danh cho chính xác, đúng với bản chất vụ việc và hành vi phạm tội của bị cáo. Do số tiền 14.000.000.000 đồng Trần Quốc H bị quy kết chiếm đoạt không thay đổi và tại phiên tòa phúc thẩm Trần Quốc H thừa nhận trách nhiệm đối với số tiền này nên hành vi của Trần Quốc H đã phạm tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 4 Điều 175 Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Trần Quốc H có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, phạm tội lần đầu, thừa nhận hành vi phạm tội và thời điểm xét xử phúc thẩm bị cáo H là người cao tuổi (62 tuổi), nhưng số tiền bị cáo chiếm đoạt là rất lớn, bị cáo H chưa khắc phục hậu quả, bồi thường cho bị hại. Tuy nhiên, do xét xử bị cáo H về tội danh nhẹ hơn tội danh Tòa án cấp sơ thẩm xét xử nên giảm một phần hình phạt cho bị cáo H, tạo điều kiện cho bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Xét kháng cáo của bị hại là bà Nguyễn Thị Bích T thấy: Như đã phân tích nêu trên thấy mặc dù có việc ký hợp đồng chuyển nhượng nhà đất 75 N giữa gia đình ông Lê Ngọc L1 với Trần Quốc H, nhưng do nhà đất này chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, không làm được thủ tục sang tên quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà cho Trần Quốc H nên việc chuyển nhượng nhà đất giữa gia đình ông L1 với Trần Quốc H chưa hoàn thành, H chưa được công nhận là chủ sử dụng và chủ sở hữu hợp pháp đối với nhà đất 75 Nguyễn Khoái. Tuy nhiên, H lại ký hợp đồng mua bán nhà đất này cho bà T và hợp đồng mua bán giữa H với bà T không có công chứng, chứng thực của Văn phòng công chứng hoặc Cơ quan Nhà nước có thẩm quyền theo quy định của pháp luật. Mặt khác, sau khi H bán nhà đất cho bà T, ngày 28/12/2015 vợ chồng ông L1, bà L2 đã được cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà, quyền sử dụng đất đối với nhà đất 75 N và đang quản lý, sử dụng nên việc bà T kháng cáo đề nghị công nhận hợp đồng mua bán và buộc Trần Quốc H tiếp tục thực hiện hợp đồng là không có cơ sở chấp nhận. Số tiền 14.000.000.000 đồng H ký nhận của bà T tại Hợp đồng mua bán nhà ngày 07/02/2013 được xác định là số tiền H chiếm đoạt và Tòa án cấp sơ thẩm đã buộc H phải bồi thường cho bà T là có căn cứ và đã đảm bảo quyền lợi của bà T. Do đó, không có cơ sở chấp nhận các yêu cầu kháng cáo của bị hại Nguyễn Thị Bích T.
Về tố tụng: Luật sư bào chữa cho bị cáo Trần Quốc H cho rằng cơ quan điều tra chưa thực hiện đầy đủ các yêu cầu điều tra bổ sung để làm sáng tỏ sự thật của vụ án thấy Tòa án cấp sơ thẩm và Viện kiểm sát cấp sơ thẩm đã có quyết định trả hồ sơ điều tra bổ sung yêu cầu làm rõ các chứng cứ chứng minh ý thức chủ quan của bị cáo và tính chất, hành vi phạm tội của bị cáo trên cơ sở các tài liệu chuyển nhượng nhà đất giữa gia đình ông L1 với Trần Quốc H do Luật sư bào chữa cho bị cáo H cung cấp; trưng cầu giám định chữ ký, chữ viết trên các tài liệu này; triệu tập lấy lời khai những người liên quan làm rõ nội dung các tài liệu này, thu thập hồ sơ vụ án tranh chấp hợp đồng vay tài sản, hợp đồng dịch vụ giữa ông Lê Ngọc L1 với ông Nguyễn Văn T1, đối chất giữa bị cáo với bị hại (BL383, 385, 303). Cơ quan điều tra đã thực hiện đầy đủ các vấn đề cần điều tra bổ sung theo yêu cầu của Viện kiểm sát cấp sơ thẩm và Tòa án cấp sơ thẩm. Do đó, không có cơ sở chấp nhận ý kiến của Luật sư bào chữa cho bị cáo H về vấn đề này.
Từ những lập luận và phân tích nêu trên thấy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm của bị cáo Trần Quốc H và các yêu cầu kháng cáo của bị hại là bà Nguyễn Thị Bích T.
Về án phí: Do kháng cáo của bị cáo, bị hại không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm. Bị hại phải chịu án phí dân sự phúc thẩm
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm b, c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm d, e khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Không chấp nhận kháng cáo đề nghị hủy bản án sơ thẩm để điều tra lại của bị cáo Trần Quốc H và không chấp nhận kháng cáo của bị hại; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 302/2024/HSST ngày 04/6/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Hà Nội về việc xác định tội danh và hình phạt đối với bị cáo Trần Quốc H, giữ nguyên các quyết định khác của bản án sơ thẩm, cụ thể như sau:
- Áp dụng điểm a khoản 4 Điều 175; điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 xử phạt: Bị cáo Trần Quốc H 17 (Mười bảy) năm tù về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 20/6/2023. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Quốc H.
- Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Trần Quốc H phải bồi thường cho bị hại Nguyễn Thị Bích T số tiền 14.000.000.000 đồng (Mười bốn tỷ đồng).
- Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Trần Quốc H không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
- Bị hại Nguyễn Thị Bích T phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự phúc thẩm, được đối trừ số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0023462 ngày 03/7/2024 của Cục Thi hành án dân sự thành phố Hà Nội (do chị Nguyễn Thị Hạnh P1 nộp thay).
- Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN (Đã ký) Nguyễn Phương Hạnh |
Bản án số 879/2024/HSPT ngày 28/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (phúc thẩm)
- Số bản án: 879/2024/HSPT
- Quan hệ pháp luật: Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 28/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 12/01/2010, Trần Quốc Hải ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và các tài sản khác gắn liền với đất với nội dung thỏa thuận mua nhà đất tại 75 Nguyễn Khoái, phường Bạch Đằng, quận Hai Bà Trưng, Hà Nội (sau đây viết tắt là nhà đất 75 Nguyễn Khoái) của gia đình ông Lê Ngọc Lương và bà Triệu Thị Lan với giá 60.000.000 đồng/m2 đất (diện tích chuyển nhượng thực tế ghi trong hợp đồng sẽ xác định theo diện tích được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất). Thời điểm này nhà đất 75 Nguyễn Khoái chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà và tài sản gắn liền với đất (sau đây viết tắt là giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) nên hai bên thỏa thuận thống nhất thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không quá 05 tháng kể từ ngày ký kết hợp đồng và ông Lương ký hợp đồng dịch vụ với ông Nguyễn Văn Toanh thực hiện làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với nhà đất nêu trên
