Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 878/2024/DS-PT

Ngày: 27/9/2024

V/v tranh chấp thừa kế tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Sỹ Hồng Nam

Các Thẩm phán: Bà Lê Thu Thủy

Bà Phạm Thị Thảo

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Vân Anh – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Phương – Kiểm sát viên.

Vào ngày 27/9/2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 381/2024/TLPT-DS ngày 19/4/2024 về việc: “Tranh chấp thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 645/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5112/2024/QĐ-PT ngày 05/9/2024, giữa các bên đương sự:

Nguyên đơn: Ông Lê Văn L, sinh năm 1971 (có mặt)

Địa chỉ: 14/5, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Bị đơn: Bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954 (có mặt)

Địa chỉ: A, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Lê Thị X, sinh năm 1957 (có mặt)
  2. Địa chỉ: A, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bà Lê Thị G, sinh năm 1966 (có mặt)
  4. Địa chỉ: A, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  5. Ông Lê Văn T, sinh năm 1969 (có mặt)
  6. Địa chỉ: 14/5, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  7. Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1977 (có mặt)
  8. Địa chỉ: A, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  9. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1978 (vắng mặt)
  10. Địa chỉ: A, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  11. Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1980 (có mặt)
  12. Địa chỉ: A, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

  13. Cháu Nguyễn Minh K, sinh năm 2004
  14. Cháu Nguyễn Minh Đ1, sinh năm 2015
  15. Cùng địa chỉ: A, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

    Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị Tuyết M, sinh năm 1980 (có mặt)

    Địa chỉ: A, ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung bản án sơ thẩm:

Tại đơn khởi kiện và trong quá trình xét xử, nguyên đơn là ông Lê Văn L trình bày:

Cha mẹ ông Lê Văn L là ông Lê Văn L1 (sinh năm 1923, chết năm 2000) và bà Cao Thị N (sinh năm 1930, chết năm 2008).

Ông L1 và bà N có tất cả 09 người con: ông Lê Văn R, chết không vợ con; bà Lê Thị D, chết nhỏ; bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954; bà Lê Thị X, sinh năm 1957; ông Lê Văn Q, chết nhỏ; ông Lê Văn Q1, chết nhỏ; bà Lê Thị G, sinh năm 1966; ông Lê Văn T, sinh năm 1969 và ông Lê Văn L, sinh năm 1971.

Hiện tại chỉ còn 05 người: bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị X, bà Lê Thị G, ông Lê Văn T và ông Lê Văn L.

Cha mẹ ông L chết không để lại di chúc. Di sản để lại là:

  1. Phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tất cả 03 phần đất trên đều nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 QSDĐ/22/9/92 số 40/QĐ-UB ngày 22/9/1992 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Lê Văn L1.

Đối với phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện trạng có bà G, ông T, ông L và bà Đ đang sử dụng. Bà X chưa có phần trên phần đất thổ này.

Đối với phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện ông L đang quản lý 1/2 diện tích, bà Đ đang quản lý 1/2 diện tích.

Do các anh chị em không thống nhất được việc chia di sản nên ông L khởi kiện yêu cầu như sau:

  1. Đối với 1403m² đất T thuộc thửa số 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chia cho bà Đ phần đất là 300m² tương ứng với khu 4 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này do bà Đ quản lý sử dụng.

    Chia cho bà X phần đất là 300m² tương ứng với khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này do bà Đ quản lý sử dụng.

    Chia cho bà G phần đất là 149m² tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này bà G đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Chia cho ông T phần đất là 237,7m² tương ứng với khu 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông T đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Ông L yêu cầu được chia phần đất là 233,7m² tương ứng với khu 3 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông L đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Ông L không có tranh chấp gì đối với hiện trạng nhà đất của bà G, ông T đang sử dụng.

    Phần đất còn dư lại trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sử dụng làm lối đi chung và khu thổ mộ.

  3. Đối với 333m² đất T thuộc thửa số 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và 9318m² đất Lm thuộc thửa số 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Ông L yêu cầu chia đều ra 5 phần, mỗi phần đất là 1930,2m². Cụ thể:

    Ông L đồng ý chia cho bà Đ 333m² đất T cùng với 1597,2m² đất Lm tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    Phần đất còn lại, bà X, bà G, ông T, ông L mỗi người được chia 1930,2m² đất Lm tương ứng với khu 2,3,4,5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của bị đơn là bà Lê Thị Đ như sau:

Cha mẹ bà Lê Thị Đ là ông Lê Văn L1 (chết năm 2000) và bà Cao Thị N (chết năm 2008).

Ông L1 và bà N có tất cả 09 người con: ông Lê Văn R, chết không vợ con; bà Lê Thị D, chết nhỏ; bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954; bà Lê Thị X, sinh năm 1957; ông Lê Văn Q, chết nhỏ; ông Lê Văn Q1, chết nhỏ; bà Lê Thị G, sinh năm 1966; ông Lê Văn T, sinh năm 1969 và ông Lê Văn L, sinh năm 1971.

Hiện tại chỉ còn 05 người: bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị X, bà Lê Thị G, ông Lê Văn T và ông Lê Văn L.

Cha mẹ bà Đ chết không để lại di chúc. Di sản để lại là:

  1. Phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tất cả 03 phần đất trên đều nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 QSDĐ/22/9/92 số 40/QĐ-UB ngày 22/9/1992 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Lê Văn L1.

Đối với phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện trạng có bà G, ông T, ông L và bà Đ đang sử dụng.

Đối với phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện ông L đang quản lý 1/2 diện tích, bà Đ đang quản lý 1/2 diện tích.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L, ý kiến bà Đ như sau:

  1. Đối với 1403m² đất T thuộc thửa số 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chia cho bà G phần đất là 149 m² tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này bà G đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Chia cho ông T phần đất là 237,7m² tương ứng với khu 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông T đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Chia cho ông L phần đất là 233,7m² tương ứng với khu 3 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông L đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Bà Đ yêu cầu được chia phần đất là 300 m² tương ứng với khu 4 và 300m² tương ứng khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này bà Đ đang quản lý sử dụng.

    Bà Đ không có tranh chấp gì đối với hiện trạng nhà đất của bà G, ông T, ông L đang sử dụng.

    Bà Đ không đồng ý chia cho bà X phần đất là 300m² tương ứng với khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Vì trước đây bà X đã từ chối nhận.

    Riêng đối với phần đất còn dư lại trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà Đ yêu cầu được chia luôn phần đất này vì làm lối đi vào khu đất của nhà bà Đ và khu thổ mộ.

  3. Đối với 333m² đất T thuộc thửa số 2801, tờ bản đồ số 3 và 9318m² đất Lm thuộc thửa số 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Bà Đ đồng ý chia cho ông L, ông T, bà G, bà X mỗi người 1.000m². Phần còn lại là chia cho bà Đ vì bà Đ là người chăm sóc, cúng giỗ ông bà.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị X như sau:

Cha mẹ bà Lê Thị X là ông Lê Văn L1 (chết năm 2000) và bà Cao Thị N (chết năm 2008).

Ông L1 và bà N có tất cả 09 người con: ông Lê Văn R, chết không vợ con; bà Lê Thị D, chết nhỏ; bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954; bà Lê Thị X, sinh năm 1957; ông Lê Văn Q, chết nhỏ; ông Lê Văn Q1, chết nhỏ; bà Lê Thị G, sinh năm 1966; ông Lê Văn T, sinh năm 1969 và ông Lê Văn L, sinh năm 1971.

Hiện tại chỉ còn 05 người: bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị X, bà Lê Thị G, ông Lê Văn T và ông Lê Văn L.

Cha mẹ bà X chết không để lại di chúc. Di sản để lại là:

  1. Phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tất cả 03 phần đất trên đều nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 QSDĐ/22/9/92 số 40/QĐ-UB ngày 22/9/1992 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Lê Văn L1.

Đối với phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện trạng có bà G, ông T, ông L và bà Đ đang sử dụng. Bà X chưa có phần trên phần đất thổ này.

Đối với phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện ông L đang quản lý 1/2 diện tích, bà Đ đang quản lý 1/2 diện tích.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L, ý kiến bà X như sau:

  1. Đối với 1403m² đất T thuộc thửa số 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chia cho bà Đ phần đất là 300m² tương ứng với khu 4 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này do bà Đ quản lý sử dụng.

    Chia cho bà G phần đất là 149m² tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này bà G đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Chia cho ông T phần đất là 237,7m² tương ứng với khu 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông T đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Chia cho ông L yêu cầu được chia phần đất là 233,7m² tương ứng với khu 3 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông L đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Bà X yêu cầu được chia phần đất là 300m² tương ứng với khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này do bà Đ quản lý sử dụng.

    Bà X không có tranh chấp gì đối với hiện trạng nhà đất của bà G, ông T, ông L đang sử dụng.

    Phần đất còn dư lại trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sử dụng làm lối đi chung và khu thổ mộ

  3. Đối với 333m² đất T thuộc thửa số 2801, tờ bản đồ số 3 và 9318m² đất Lm thuộc thửa số 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Bà X yêu cầu chia đều ra 5 phần, mỗi phần đất là 1930,2m². Cụ thể:

    Bà X đồng ý chia cho bà Đ 333m² đất T cùng với 1597,2m² đất Lm tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    Phần đất còn lại, bà X, bà G, ông T, ông L mỗi người được chia 1930,2m² đất Lm tương ứng với khu 2,3,4,5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Lê Thị G như sau:

Cha mẹ bà Lê Thị G là ông Lê Văn L1 (chết năm 2000) và bà Cao Thị N (chết năm 2008).

Ông L1 và bà N có tất cả 09 người con: ông Lê Văn R, chết không vợ con; bà Lê Thị D, chết nhỏ; bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954; bà Lê Thị X, sinh năm 1957; ông Lê Văn Q, chết nhỏ; ông Lê Văn Q1, chết nhỏ; bà Lê Thị G, sinh năm 1966; ông Lê Văn T, sinh năm 1969 và ông Lê Văn L, sinh năm 1971.

Hiện tại chỉ còn 05 người: bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị X, bà Lê Thị G, ông Lê Văn T và ông Lê Văn L.

Cha mẹ bà G chết không để lại di chúc. Di sản để lại là:

  1. Phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tất cả 03 phần đất trên đều nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 QSDĐ/22/9/92 số 40/QĐ-UB ngày 22/9/1992 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Lê Văn L1.

Đối với phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện trạng có bà G, ông T, ông L và bà Đ đang sử dụng. Bà X chưa có phần trên phần đất thổ này.

Đối với phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện ông L đang quản lý 1/2 diện tích, bà Đ đang quản lý 1/2 diện tích.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L, ý kiến bà G như sau:

  1. Đối với 1403m² đất T thuộc thửa số 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chia cho bà Đ phần đất là 300m² tương ứng với khu 4 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này do bà Đ quản lý sử dụng.

    Chia cho bà X phần đất là 300m² tương ứng với khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này do bà Đ quản lý sử dụng.

    Chia cho ông T phần đất là 237,7m² tương ứng với khu 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông T đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Chia cho ông L phần đất là 233,7m² tương ứng với khu 3 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông L đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Bà G yêu cầu được chia phần đất là 149 m² tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này bà G đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Bà G không có tranh chấp gì đối với hiện trạng nhà đất của bà X, ông T, ông L đang sử dụng.

    Phần đất còn dư lại trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sử dụng làm lối đi chung và khu thổ mộ

  3. Đối với 333m² đất T thuộc thửa số 2801, tờ bản đồ số 3 và 9318m² đất Lm thuộc thửa số 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Bà G yêu cầu chia đều ra 5 phần, mỗi phần đất là 1930,2m². Cụ thể:

    Bà G đồng ý chia cho bà Đ 333m² đất T cùng với 1597,2m² đất Lm thuộc thửa số 2804, tờ bản đồ số 3 tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    Phần đất còn lại, bà X, bà G, ông T, ông L mỗi người được chia 1930,2m² đất Lm tương ứng với khu 2,3,4,5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án thì lời trình bày của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn T như sau:

Cha mẹ ông Lê Văn T là ông Lê Văn L1 (chết năm 2000) và bà Cao Thị N (chết năm 2008).

Ông L1 và bà N có tất cả 09 người con: ông Lê Văn R, chết không vợ con; bà Lê Thị D, chết nhỏ; bà Lê Thị Đ, sinh năm 1954; bà Lê Thị X, sinh năm 1957; ông Lê Văn Q, chết nhỏ; ông Lê Văn Q1, chết nhỏ; bà Lê Thị G, sinh năm 1966; ông Lê Văn T, sinh năm 1969 và ông Lê Văn L, sinh năm 1971.

Hiện tại chỉ còn 05 người: bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị X, bà Lê Thị G, ông Lê Văn T và ông Lê Văn L.

Cha mẹ ông T chết không để lại di chúc. Di sản để lại là:

  1. Phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  3. Phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tất cả 03 phần đất trên đều nằm trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 QSDĐ/22/9/92 số 40/QĐ-UB ngày 22/9/1992 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Lê Văn L1.

Đối với phần đất thổ có diện tích 1403m² thuộc thửa 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện trạng có bà G, ông T, ông L và bà Đ đang sử dụng. Bà X chưa có phần trên phần đất thổ này.

Đối với phần đất thổ có diện tích 333m² thuộc thửa 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và phần đất lúa màu có diện tích 9318m² thuộc thửa 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh thì hiện ông L đang quản lý 1/2 diện tích, bà Đ đang quản lý 1/2 diện tích.

Đối với yêu cầu khởi kiện của ông L, ý kiến ông T như sau :

  1. Đối với 1403m² đất T thuộc thửa số 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Chia cho bà Đ phần đất là 300m² tương ứng với khu 4 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này do bà Đ quản lý sử dụng.

    Chia cho bà X phần đất là 300m² tương ứng với khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này do bà Đ quản lý sử dụng.

    Chia cho bà G phần đất là 149 m² tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này bà G đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Chia cho ông L phần đất là 233,7m² tương ứng với khu 3 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông L đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Ông T yêu cầu được chia phần đất là 237,7m² tương ứng với khu 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Hiện khu đất này ông T đã xây dựng nhà và sử dụng ổn định.

    Ông T không có tranh chấp gì đối với hiện trạng nhà đất của bà G, ông L đang sử dụng.

    Phần đất còn dư lại trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì sử dụng làm lối đi chung và khu thổ mộ

  3. Đối với 333m² đất T thuộc thửa số 2801, tờ bản đồ số 3 và 9318m² đất Lm thuộc thửa số 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.
  4. Ông T yêu cầu chia đều ra 5 phần, mỗi phần đất là 1930,2m². Cụ thể:

    Ông T đồng ý chia cho bà Đ 333m² đất T cùng với 1597,2m² đất Lm tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    Phần đất còn lại, bà X, bà G, ông T, ông L mỗi người được chia 1930,2m² đất Lm tương ứng với khu 2,3,4,5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ - Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 645/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn L; người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị X1, bà Lê Thị G và ông Lê Văn T.

[1]

  • Bà Lê Thị Đ được hưởng thừa kế đối với 300m² tương ứng khu 4 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022; 333m² đất thổ cư cùng với 1597.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của trung tâm đo đạc bản đồ-Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H.
  • Bà Lê Thị X được hưởng thừa kế đối với 300m² đất tương ứng với khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022; 1930.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của trung tâm đo đạc bản đồ-Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H.
  • Bà Lê Thị G được hưởng thừa kế đối với 149 m² tương ứng với khu 1 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của trung tâm đo đạc bản đồ-Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H; 1930.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 3 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của trung tâm đo đạc bản đồ-Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H.
  • Ông Lê Văn T được hưởng thừa kế đối với 237,7m² tương ứng với khu 2 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của trung tâm đo đạc bản đồ-Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H; 1930.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 4 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của trung tâm đo đạc bản đồ-Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H.
  • Ông Lê Văn L được hưởng thừa kế 233,7m² tương ứng với khu 3 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của trung tâm đo đạc bản đồ-Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H; 1930.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 5 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của trung tâm đo đạc bản đồ-Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H.

Bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị X, bà Lê Thị G, ông Lê Văn L, ông Lê Văn T có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền xin cấp đổi giấy theo quy định pháp luật.

[2] Sử dụng phần đất có diện tích 48,6m² làm lối đi chung và phần đất có diện tích 63,6m² làm thổ mộ theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của trung tâm đo đạc bản đồ-Sở tài nguyên và môi trường Thành phố H.

[3] Án phí DSST:

  • Bà Lê Thị Đ được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
  • Bà Lê Thị X được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Lê Thị X được hoàn lại 11.980.000 (mười một triệu chín trăm tám mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2010/06144 ngày 10/01/2011 của Chi cục Thi hành án huyện Hóc Môn.
  • Bà Lê Thị G chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 39.703.059 (ba mươi chín triệu bảy trăm lẻ ba ngàn không trăm năm mươi chín) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị G đã nộp là 11.980.000 (mười một triệu chín trăm tám mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2012/03432 ngày 09/4/2015 của Chi cục Thi hành án huyện Hóc Môn. Bà Lê Thị G phải nộp thêm 27.723.059 (hai mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi ba ngàn không năm năm mươi chín) đồng, thi hành tại chi cục Thi hành án có thẩm quyền.
  • Ông Lê Văn L chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 42.120.484 (bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi ngàn bốn trăm tám mươi bốn) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Lê Văn L đã nộp là 7.942.500 (bảy triệu chín trăm bốn mươi hai ngàn năm trăm) đồng theo biên lai thu tiền số 005186 ngày 04/8/2008 và 4.037.500 (bốn triệu không trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2010/06145 ngày 10/01/2011 của Chi cục Thi hành án huyện Hóc Môn. Ông Lê Văn L phải nộp thêm 30.140.484 (ba mươi triệu một trăm bốn mươi ngàn bốn trăm tám mươi bốn) đồng, thi hành tại chi cục Thi hành án có thẩm quyền.
  • Ông Lê Văn T chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 41.734.648 mươi (bốn mốt triệu trăm ba mươi bốn ngàn sáu trăm bốn mươi tám) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Lê Văn T đã nộp là 11.980.000 (mười một triệu chín trăm tâm mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2010/06143 ngày 10/01/2011 của Chi cục Thi hành án huyện Hóc Môn. Ông Lê Văn T phải nộp thêm 29.754.648 (hai mươi chín triệu bảy trăm năm mươi bốn ngàn sáu trăm bốn mươi tám) đồng, thi hành tại chi cục Thi hành án có thẩm quyền.

Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về quyền kháng cáo của các đương sự.

Sau khi xét xử sơ thẩm;

Ngày 11/10/2023, bà Lê Thị Đ có đơn kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm cho rằng bản án sơ thẩm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của bà.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Bị đơn trình bày: Tòa án cấp sơ thẩm tuyên cho bà Lê Thị X được hưởng thừa kế đối với 300m² đất tương ứng với khu 5 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 là không đúng quy định pháp luật vì thực tế bà đang quản lý, sử dụng đối với phần 300m² đất này. Tại phần đất này, bà có xây dựng chuồng bò, chuồng gà và chái nhà dùng làm nơi nấu ăn. Bà cùng các con là ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị Tuyết M, cháu Nguyễn Minh K và cháu Nguyễn Minh Đ1 sinh sống tại phần đất này nên không đồng ý chia cho bà X. Hiện có con rể là ông Nguyễn Hữu T3 cũng đang thực tế sinh sống tại phần đất này nhưng không đăng ký hộ khẩu tại A ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm xem xét vì phần đất này gia đình bà đang quản lý, sử dụng, nhà còn cho con cháu ở nên không thể chia cho bà X.

Ông L, ông T, bà X, bà G đều thống nhất trình bày: Đề nghị không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Đ, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu quan điểm:

Về tố tụng:

Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Chủ tọa, Hội đồng xét xử đã tiến hành đúng các quy định của pháp luật, những người tham gia phiên tòa đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo luật định.

Về nội dung:

Xét kháng cáo của bị đơn là không có căn cứ, vì phía bị đơn không cung cấp được tài liệu chứng cứ gì mới tại cấp phúc thẩm để chứng minh cho yêu cầu của mình. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào tài liệu, chứng cứ đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Đơn kháng cáo quá hạn của bà Lê Thị Đ được chấp nhận theo Quyết định chấp nhận việc kháng cáo quá hạn số 69/2023/QĐ-PT ngày 15/12/2023 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Về việc xét xử vắng mặt: Bà Nguyễn Thị T2 được Tòa án triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị T2.

[3]. Về thẩm quyền giải quyết vụ án, quan hệ tranh chấp, thời hiệu khởi kiện, những người tham gia tố tụng Tòa án cấp sơ thẩm đã xác định đúng.

[4]. Về nội dung:

[4.1] Về hàng thừa kế: Căn cứ các tài liệu, chứng cứ và thừa nhận của các bên đương sự, có cơ sở xác định hàng thừa kế thứ nhất của ông Lê Văn L1 và bà Cao Thị N gồm 05 người là bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị X, bà Lê Thị G, ông Lê Văn T và ông Lê Văn L.

[4.2] Về di sản: Ông Lê Văn L1 chết năm 2000 và vợ là bà Cao Thị N chết năm 2008. Ông L1 và bà N chết không có để lại di chúc. Căn cứ Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 00407 QSDĐ/22/9/92 số 40/QĐ-UB ngày 22/9/1992 do Ủy ban nhân dân huyện H cấp cho ông Lê Văn L1, có cơ sở xác định di sản ông Lê Văn L1 và bà Cao Thị N để lại là phần đất có diện tích 1403m² đất T thuộc thửa số 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh; 333m² đất T thuộc thửa số 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và 9318m² đất Lm thuộc thửa số 2804, tờ bản đồ số 3 tại xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh.

[4.3] Về yêu cầu chia thừa kế:

[4.3.1]. Đối với phần đất có diện tích 1403m² (qua đo vẽ thực tế là hiện còn 1332,6m²) đất T thuộc thửa số 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh:

Hiện trạng, bà G hiện đang quản lý sử dụng 149m² (tương ứng khu 1); ông T hiện đang quản lý sử dụng 233,7m² (tương ứng khu 2); ông L hiện đang quản lý sử dụng 237,7m² (tương ứng khu 3) theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Các bên đều không tranh chấp về hiện trạng sử dụng và không có tranh chấp gì đối với phần đất này. Bà G, ông T, ông L yêu cầu được chia phần đất trên theo hiện trạng sử dụng đất là có cơ sở.

Đối với hiện trạng bà Đ đang sử dụng là 300m² tương ứng với khu 4 và 300m² tương ứng khu 5 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022. Tại phiên tòa phúc thẩm, bà Đ kháng cáo bản án sơ thẩm cho rằng hiện bà Đ đang quản lý, sử dụng phần đất này và không đồng ý chia thừa kế cho bà X đối với 300m² đất tương ứng với khu 5 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022. Bà Đ cho rằng, bà cùng các con là ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị Tuyết M, cháu Nguyễn Minh K và cháu Nguyễn Minh Đ1 sinh sống tại phần đất này nên không đồng ý chia cho bà X. Ngoài ra, bà Đ cho rằng ông Nguyễn Hữu T3 là con rể cũng đang thực tế sinh sống tại phần đất này nhưng không đăng ký hộ khẩu tại A ấp B, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh. Hội đồng xét xử xét thấy, theo nội dung Biên bản xem xét, thẩm định tại chỗ ngày 20/9/2024 của Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh thể hiện bà Đ đang quản lý, sử dụng đối với 300m² tương ứng với khu 4 và 300m² tương ứng khu 5 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022. Hiện trạng trên đất có chuồng bò, chuồng gà và chái nhà dùng để nấu ăn sinh hoạt trong gia đình, lợp mái tôn, mái lá. Phần đất này là di sản thừa kế của ông L1 và bà N nên các đồng thừa kế có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chia di sản theo quy định tại Điều 632 Bộ luật Dân sự năm 2005. Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà Đ 300m² tương ứng khu 4 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 là có cơ sở vì thực tế bà Đ đang ở trên phần đất này và việc chia cho bà Đ phần đất này phù hợp với quy định về quyền của người quản lý di sản theo điểm c khoản 1 Điều 618 Bộ luật Dân sự năm 2015.

Bà Đ kháng cáo bản án sơ thẩm không đồng ý chia cho bà X 300m² đất tương ứng với khu 5 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 vì cho rằng bà X từ chối nhận di sản nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ chứng minh. Việc Tòa án cấp sơ thẩm chia cho bà X được hưởng thừa kế 300m² đất tương ứng với khu 5 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 là có căn cứ vì hiện trạng chỉ có mái tôn, mái lá, không ảnh hưởng đến hiện trạng nhà bà Đ đang ở và không ảnh hưởng đến việc thi hành án giao đất cho bà X. Như vậy kháng cáo của bà Đ là không có cơ sở để chấp nhận.

[4.3.2] Đối với yêu cầu của bà G, bà X, ông T, ông L sử dụng phần đất có diện tích 48,6m² làm lối đi chung và phần đất có diện tích 63,6m² làm thổ mộ: Hội đồng xét xử xét thấy: Trên phần đất này hiện có mộ của ông L1 và bà N và là lối đi duy nhất để vào khu đất của bà Đ, bà X và ông L. Như vậy, việc để lại khu đất này làm lối đi chung và thổ mộ là phù hợp. Tòa án cấp sơ thẩm chấp nhận yêu cầu của bà G, bà X, ông T, ông L; không chấp nhận yêu cầu của bà Đ đối với việc chia thừa kế phần đất có diện tích 1403m² (qua đo vẽ thực tế là hiện còn 1332,6m²) đất T thuộc thửa số 3101, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh là có cơ sở.

[4.3.3] Đối với 333m² đất T thuộc thửa số 2801, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh và 9318m² đất Lm thuộc thửa số 2804, tờ bản đồ số 3, xã X, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh: Theo Quyết định số 60/2017/QĐ-UNBD của Ủy ban nhân dân Thành phố H thì diện tích tối thiểu để tách thửa là 500m². Phần đất này khi chia ra vẫn đảm bảo diện tích tối thiểu. Bà X, bà G, ông T, ông L đồng ý chia cho bà Đ 333m² đất thổ cư cùng với 1597.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 1 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Đối với phần đất còn lại thì chia đều 4 phần cho bà X, bà G, ông T, ông L. Bà Đ yêu cầu được chia 1/2 diện tích đất mà bà Đ đang quản lý, sử dụng; chia 1/2 diện tích đất mà ông L đang quản lý sử dụng cho ông L, bà X, bà G, ông T. Phần đất này là do ông L1 chết để lại, không có di chúc thì các đồng thừa kế có quyền và nghĩa vụ ngang nhau trong việc chia di sản. Vì vậy, có cơ sở chấp nhận yêu cầu của bà G, bà X, ông T, ông L; không chấp nhận yêu cầu của bà Đ.

Từ nhận định tại [4.3.1], [4.3.2] và [4.3.3] thấy rằng, kháng cáo của bà Lê Thị Đ là không có căn cứ nên không được chấp nhận.

Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh về nội dung vụ kiện là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Các phần quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị nên phát sinh hiệu lực pháp luật.

[5] Về án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo của bà Lê Thị Đ không được chấp nhận nên phải chịu án phí dân sự phúc thẩm. Tuy nhiên, bà Đ là người cao tuổi và có đơn xin miễn án phí nên miễn án phí dân sự phúc thẩm cho bà Đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ Điều 632, Điều 633, Điều 634, Điều 635 Bộ luật Dân sự 2005;

Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 618, Điều 623 Bộ luật Dân sự 2015;

Căn cứ vào Điều 49, Điều 95, Điều 99, Điều 52 và Điều 105 Luật Đất đai;

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Không chấp nhận kháng cáo của bà Lê Thị Đ;

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 645/2023/DS-ST ngày 06/9/2023 của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh và Quyết định sửa chữa, bổ sung bản án sơ thẩm số 86/2023/QĐ-SCBSBA ngày 27/9/2023 của của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn ông Lê Văn L; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Thị X, bà Lê Thị G và ông Lê Văn T.
  2. Bà Lê Thị Đ được hưởng thừa kế đối với 300m² tương ứng khu 4 theo bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022; 333m² đất thổ cư cùng với 1597.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 1 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    Bà Lê Thị X được hưởng thừa kế đối với 300m² đất tương ứng với khu 5 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022; 1930.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 2 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H. Bà Lê Thị Đ và ông Nguyễn Văn T1, bà Nguyễn Thị T2, bà Nguyễn Thị Tuyết M, cháu Nguyễn Minh K và cháu Nguyễn Minh Đ1 có trách nhiệm giao lại cho bà Bà Lê Thị X phần đất 300m² đất tương ứng với khu 5 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022.

    Bà Lê Thị G được hưởng thừa kế đối với 149 m² tương ứng với khu 1 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H; 1930.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 3 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    Ông Lê Văn T được hưởng thừa kế đối với 237,7m² tương ứng với khu 2 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H; 1930.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 4 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    Ông Lê Văn L được hưởng thừa kế 233,7m² tương ứng với khu 3 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H; 1930.2m² đất lúa màu theo vị trí đất khu 5 theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (2/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

    Bà Lê Thị Đ, bà Lê Thị X, bà Lê Thị G, ông Lê Văn L, ông Lê Văn T có quyền liên hệ với cơ quan có thẩm quyền xin cấp đổi giấy theo quy định pháp luật.

    Sử dụng phần đất có diện tích 48,6m² làm lối đi chung và phần đất có diện tích 63,6m² làm thổ mộ theo Bản đồ hiện trạng vị trí số hợp đồng 108352/ĐĐBĐ-CNHM (1/2) ngày 07/7/2022 của Trung tâm đo đạc bản đồ Sở Tài nguyên và Môi trường Thành phố H.

  3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • Bà Lê Thị Đ được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
    • Bà Lê Thị X được miễn án phí theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án. Bà Lê Thị X được hoàn lại 11.980.000 (mười một triệu chín trăm tám mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2010/06144 ngày 10/01/2011 của Chi cục Thi hành án huyện Hóc Môn.
    • Bà Lê Thị G chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 39.703.059 (ba mươi chín triệu bảy trăm lẻ ba ngàn không trăm năm mươi chín) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà Lê Thị G đã nộp là 11.980.000 (mười một triệu chín trăm tám mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2012/03432 ngày 09/4/2015 của Chi cục Thi hành án huyện Hóc Môn. Bà Lê Thị G phải nộp thêm 27.723.059 (hai mươi bảy triệu bảy trăm hai mươi ba ngàn không năm năm mươi chín) đồng, thi hành tại chi cục Thi hành án có thẩm quyền.
    • Ông Lê Văn L chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 42.120.484 (bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi ngàn bốn trăm tám mươi bốn) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Lê Văn L đã nộp là 7.942.500 (bảy triệu chín trăm bốn mươi hai ngàn năm trăm) đồng theo biên lai thu tiền số 005186 ngày 04/8/2008 và 4.037.500 (bốn triệu không trăm ba mươi bảy ngàn năm trăm) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2010/06145 ngày 10/01/2011 của Chi cục Thi hành án huyện Hóc Môn. Ông Lê Văn L phải nộp thêm 30.140.484 (ba mươi triệu một trăm bốn mươi ngàn bốn trăm tám mươi bốn) đồng, thi hành tại chi cục Thi hành án có thẩm quyền.
    • Ông Lê Văn T chịu án phí dân sự sơ thẩm là: 41.734.648 mươi (bốn mốt triệu trăm ba mươi bốn ngàn sáu trăm bốn mươi tám) đồng, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí ông Lê Văn T đã nộp là 11.980.000 (mười một triệu chín trăm tâm mươi ngàn) đồng theo biên lai thu tiền số AA/2010/06143 ngày 10/01/2011 của Chi cục Thi hành án huyện Hóc Môn. Ông Lê Văn T phải nộp thêm 29.754.648 (hai mươi chín triệu bảy trăm năm mươi bốn ngàn sáu trăm bốn mươi tám) đồng, thi hành tại chi cục Thi hành án có thẩm quyền.
  4. Về án phí dân sự phúc thẩm: Bà Lê Thị Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm.
  5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
  6. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Thu Thủy

Sỹ Hồng Nam

Phạm Thị Thảo

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - TAND Cấp cao tại Tp.HCM;
  • - Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Tp.HCM;
  • - Viện kiểm sát nhân dân Tp.HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn, Tp.HCM;
  • - Cục THADS Tp.HCM;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn, TP.HCM;
  • - Các đương sự (để thi hành);
  • - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 878/2024/DS-PT ngày 27/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp thừa kế tài sản

  • Số bản án: 878/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/09/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger